Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo khối ngành kinh tế trong mô hình hợp tác nhà trường - doanh nghiệp: Nghiên cứu tại Trường Đại học Công nghệ Đông Á

Nghiên cứu - Trao đổi 14:02 | 30/05/2026
Kết quả nghiên cứu góp phần phục vụ cho quyết định đầu tư và thiết kế chương trình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp hiệu quả hơn.

TS. Vũ Thị Phương Thụy

ThS. Nguyễn Mậu Nhật Nam

Trường Đại học Công nghệ Đông Á

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo của sinh viên khối ngành kinh tế trong mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp tại Trường Đại học Công nghệ Đông Á. Kết quả cho thấy, hỗ trợ của doanh nghiệp kết hợp với mức độ phù hợp của kiến thức là yếu tố có tác động mạnh nhất đến kết quả đào tạo, tiếp theo là chất lượng chương trình và hỗ trợ từ phía nhà trường. Trong khi đó, nhận thức của sinh viên không có tác động trực tiếp có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò của hợp tác nhà trường - doanh nghiệp trong đào tạo đại học định hướng ứng dụng, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.

Từ khóa: Kết quả đào tạo, hợp tác nhà trường, doanh nghiệp

Abstract

This study examines the factors affecting the educational outcomes of students in economics-related disciplines within the university-enterprise collaboration model at Dong A University of Technology. The results indicate that enterprise support, combined with the relevance of acquired knowledge to practical requirements, exerts the strongest influence on educational outcomes, followed by program quality and institutional support from the university. Meanwhile, students’ perceptions do not have a statistically significant direct effect on educational outcomes. The study provides additional empirical evidence on the role of university-enterprise collaboration in application-oriented higher education and proposes several implications for enhancing training effectiveness in alignment with the practical needs of businesses.

Keywords: Educational outcomes, university-enterprise collaboration, enterprises

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng yêu cầu cao về năng lực thực hành và khả năng thích ứng nghề nghiệp, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp đang trở thành xu hướng quan trọng trong giáo dục đại học định hướng ứng dụng. Đối với khối ngành kinh tế - quản trị, hiệu quả đào tạo không chỉ phụ thuộc vào nội dung chương trình mà còn chịu tác động lớn từ mức độ gắn kết với môi trường doanh nghiệp thực tiễn. Mặc dù nhiều trường đại học tại Việt Nam đã triển khai các mô hình hợp tác với doanh nghiệp, song các nghiên cứu hiện nay chủ yếu mang tính định tính hoặc mô tả thực trạng, trong khi các bằng chứng định lượng về tác động của từng nhân tố đến kết quả đào tạo còn hạn chế.

Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo của sinh viên khối ngành kinh tế - quản trị tại Trường Đại học Công nghệ Đông Á trong mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu góp phần phục vụ cho quyết định đầu tư và thiết kế chương trình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp hiệu quả hơn.

TỔNG QUAN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Tổng quan nghiên cứu

Perkmann và cộng sự (2013) thực hiện tổng quan có hệ thống đối với 40 nghiên cứu về sự tham gia của doanh nghiệp trong đào tạo đại học tại Anh và châu Âu. Kết quả cho thấy chất lượng hợp tác, thể hiện qua tính thực tiễn của chương trình và mức độ tham gia của doanh nghiệp, có ảnh hưởng đến kết quả học tập mạnh hơn quy mô hợp tác. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa sử dụng dữ liệu sơ cấp từ sinh viên nên chưa kiểm định trực tiếp cơ chế tác động.

Bui và Kikkawa (2024) nghiên cứu về hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp tại Việt Nam. Kết quả xác định 5 hình thức hợp tác phổ biến, trong đó mô hình kết hợp giữa học tập lý thuyết và thực hành được đánh giá hiệu quả nhất. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra rằng, các nghiên cứu tại Việt Nam vẫn chủ yếu mang tính định tính, trong khi các nghiên cứu định lượng về tác động của hợp tác đến kết quả đào tạo còn hạn chế.

Trần Thị Tuyết (2023) thông qua tổng hợp tài liệu và phân tích chính sách cho rằng các tiêu chí đánh giá khả năng tuyển dụng từ các nước phát triển chưa thực sự phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình đào tạo gắn kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp, song chưa thực hiện kiểm định thực nghiệm.

Phạm Hồng Quang và Nguyễn Danh Nam (2022) cho thấy các hoạt động hợp tác hiện nay chủ yếu tập trung vào đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực, trong khi các mô hình gắn với trải nghiệm thực tiễn và phát triển môi trường học tập lại mang lại hiệu quả cao hơn.

Trong khi đó, Nguyễn Thị Ngọc Hà (2021) cho thấy các hoạt động học tập gắn với trải nghiệm thực tiễn tại doanh nghiệp là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp vào đào tạo. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thiếu cơ chế hỗ trợ của nhà trường là rào cản lớn trong việc tích hợp chuyên gia doanh nghiệp vào giảng dạy.

Tổng hợp các nghiên cứu trước cho thấy 3 khoảng trống nghiên cứu nổi bật. Thứ nhất, phần lớn nghiên cứu tại Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp định tính hoặc mô tả thực trạng, trong khi các nghiên cứu kiểm định định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo sinh viên bằng mô hình hồi quy còn khá hạn chế (Bui và Kikkawa, 2024). Thứ hai, chưa có nghiên cứu nào tích hợp đồng thời các yếu tố như nhận thức của sinh viên, chất lượng chương trình đào tạo, hỗ trợ của nhà trường, hỗ trợ của doanh nghiệp và mức độ phù hợp của kiến thức trong cùng một mô hình nghiên cứu đối với sinh viên khối ngành kinh tế - quản trị. Thứ ba, các thang đo trong các nghiên cứu hiện có chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu của bối cảnh chuyển đổi số, đặc biệt là khả năng tiếp cận các hệ thống ERP/CRM/AI, kỹ năng số nghiệp vụ và mức độ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp số - những vấn đề được xem là khoảng cách đáng chú ý trong bối cảnh Việt Nam hiện nay (Trần Thị Tuyết, 2023).

Mô hình nghiên cứu

Xuất phát từ tổng quan và khoảng trống nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất mô hình gồm 5 yếu tố tác động đến kết quả đào tạo đại học định hướng ứng dụng đối với khối ngành kinh tế trong mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, cụ thể là: Nhận thức sinh viên, Chất lượng chương trình, Hỗ trợ của nhà trường, Hỗ trợ của doanh nghiệp, Mức độ phù hợp của kiến thức. Mô hình được thể hiện tại Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đào tạo khối ngành kinh tế trong mô hình hợp tác nhà trường - doanh nghiệp: Nghiên cứu tại Trường Đại học Công nghệ Đông Á

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế khảo sát cắt ngang đối với sinh viên khối ngành kinh tế - quản trị tại Trường Đại học Công nghệ Đông Á. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi trực tuyến trong giai đoạn tháng 2-3/2026. Sau khi loại bỏ các quan sát ngoại lai bằng khoảng cách Mahalanobis, mẫu nghiên cứu cuối cùng gồm 299 quan sát.

Bảng hỏi sử dụng thang Likert 5 mức với 27 biến quan sát đo lường 5 nhân tố độc lập gồm: Nhận thức của sinh viên (NT), Chất lượng chương trình (CL), Hỗ trợ của nhà trường (HT), Hỗ trợ của doanh nghiệp (DN) và mức độ phù hợp của kiến thức (PN), cùng 5 biến đo lường Kết quả đào tạo (KQS).

Dữ liệu được phân tích qua 3 bước: (i) kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha và tương quan biến - tổng; (ii) phân tích nhân tố khám phá EFA bằng phương pháp PCA kết hợp xoay Varimax; và (iii) hồi quy OLS nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, đồng thời kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Bảng 1 trình bày thống kê mô tả các biến quan sát và kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và tương quan biến - tổng. Kết quả cho thấy cả 6 thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha vượt ngưỡng chấp nhận 0,70 và ngưỡng tốt 0,80, phản ánh mức độ nhất quán nội tại cao của các thang đo trong bối cảnh đào tạo gắn với doanh nghiệp. Đồng thời, hệ số tương quan biến - tổng của 27 biến quan sát dao động từ 0,841 (CL2) đến 0,955 (KQS1), đều cao hơn đáng kể so với ngưỡng tối thiểu 0,30. Ngoài ra, không có biến quan sát nào khi bị loại bỏ làm gia tăng đáng kể hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo, cho thấy các biến đều có đóng góp tích cực trong việc đo lường các khái niệm nghiên cứu tương ứng.

Bảng 1: Kiểm định thang đo

Ký hiệu

Nhân tố

Cronbach’s Alpha

Tương quan biến - tổng

NT

Nhận thức sinh viên về hợp tác nhà trường - doanh nghiệp

0,953

0,851-0,917

CL

Chất lượng chương trình hợp tác

0,959

0,841-0,939

HT

Hỗ trợ của nhà trường

0,954

0,858-0,911

DN

Hỗ trợ của doanh nghiệp

0,978

0,907-0,953

PN

Phù hợp kiến thức với thị trường

0,965

0,903-0,939

KQS

Kết quả đào tạo (biến phụ thuộc)

0,973

0,874-0,950

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Phân tích EFA

Trước khi thực hiện phân tích EFA, nghiên cứu thực hiện kiểm định tính phù hợp của dữ liệu thông qua chỉ số KMO và kiểm định Barlett. Chỉ số KMO đạt 0,939, được đánh giá ở mức “xuất sắc” theo Kaiser (1974); kiểm định Barlett đạt mức ý nghĩa thống kê cao (p<0,001), xác nhận dữ liệu phù hợp để thực hiện EFA.

Mô hình lý thuyết đề xuất ban đầu gồm 5 nhóm biến độc lập, trong đó DN và PN được xem như 2 nhân tố riêng biệt, phản ánh những tác động khác nhau của hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả phân tích EFA trên mẫu cho thấy DN và PN hợp thành 1 nhân tố duy nhất với 9 biến quan sát có hệ số tải từ 0,749 đến 0,836. Nhân tố PN3 do có hệ số tải phụ lớn hơn 0,4 nên bị loại khỏi mô hình. Các nhân tố CL, HT, NT đều giữ nguyên cấu trúc, chỉ loại nhân tố HT1 do hệ số tải phụ lớn. Mô hình điều chỉnh được thể hiện tại Bảng 3.

Bảng 2: Ma trận nhân tố xoay

Nhân tố

F1 (DN+PN)

F2 (CL)

F3 (HT)

F4 (NT)

Biến loại

F1 (DN+PN)

DN5: 0,836

DN4: 0,833

DN1: 0,826

PN1: 0,819

DN2: 0,818

DN3: 0,807

PN4: 0,807

PN2: 0,766

PN3: 0,749

PN3: 0,418*

PN3

F2 (CL)

CL5: 0,862

CL1: 0,821

CL4: 0,818

CL2: 0,818

CL3: 0,815

F3 (HT)

HT2: 0,851

HT1

HT3: 0,816

HT4: 0,808

HT1: 0,787

HT1: 0,422*

F4 (NT)

NT2: 0,865

NT3: 0,861

NT4: 0,819

NT1: 0,815

Ghi chú: Chỉ hiển thị hệ số tải ≥ 0,40. * tải chéo. KMO=0,939; Tổng phương sai = 90,49%.

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Bảng 3: Mô hình điều chỉnh

STT

Thang đo

Biến đặc trưng

1

F1

DN1, DN2, DN3, DN4, PN1, PN2, PN4

2

F2

CL1, CL2, CL3, CL4, CL5

3

F3

HT2, HT3, HT4

4

F4

NT1, NT2, NT3, NT4

5

KQS (biến phụ thuộc)

F1, F2, F3, F4

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Kết quả phân tích hồi quy đa biến

Mô hình hồi quy OLS được thực hiện với biến phụ thuộc KQS và bốn nhân tố độc lập được xác định từ phân tích EFA trên mẫu gồm 299 quan sát. Kết quả cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê cao với hệ số xác định R² = 0,813, nghĩa là bốn nhân tố độc lập giải thích được 81,3% sự biến thiên của biến phụ thuộc. Kiểm định F cho kết quả p < 0,001, khẳng định mô hình phù hợp với dữ liệu nghiên cứu. Đồng thời, kiểm định Breusch-Pagan cho giá trị p = 0,08 > 0,05, cho thấy mô hình không tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

Bảng 4: Mô hình hồi quy OLS

Biến độc lập

Hệ số

Độ lệch chuẩn

P - value

VIF

const

- 0,16

0,13

0,21

-

F1

0,79

0,04

0,00**

2,50

F2

0,18

0,04

0,00**

2,05

F3

0,09

0,03

0,01**

1,96

F4

- 0,03

0,03

0,29

1,81

F(4,294) = 319,79

Prob > F = 0,000

R2 = 0,813

R2 hiệu chỉnh = 0,811

Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu

Kết quả hồi quy cho thấy, F1 (DN + PN) là nhân tố có tác động lớn nhất và có ý nghĩa thống kê cao nhất. Cụ thể, khi F1 tăng thêm một đơn vị thì KQS tăng 0,79 đơn vị trong điều kiện các nhân tố khác không đổi. Điều này cho thấy Hỗ trợ của doanh nghiệp và Mức độ phù hợp của kiến thức khi kết hợp với nhau tạo ra tác động mạnh nhất đến Kết quả đào tạo sinh viên.

Đối với F2 (CL), biến này có ý nghĩa thống kê ở mức cao với p < 0,001 và hệ số hồi quy đạt 0,18. Như vậy, Chất lượng chương trình có tác động tích cực đến Kết quả đào tạo sau khi kiểm soát các nhân tố còn lại, qua đó ủng hộ giả thuyết H2.

F3 (HT) cũng có ý nghĩa thống kê với p = 0,018 và hệ số hồi quy dương 0,09. Điều này phản ánh Hỗ trợ của nhà trường có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả đào tạo.

Ngược lại, F4 (NT) là nhân tố duy nhất không đạt ý nghĩa thống kê với p = 0,286. Kết quả này cho thấy Nhận thức sinh viên không có tác động trực tiếp đến Kết quả đào tạo.

Thảo luận

Nhân tố F1 (Hỗ trợ của doanh nghiệp kết hợp với mức độ phù hợp của kiến thức) là nhân tố có tác động mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê cao nhất trong mô hình (B = 0,79; p < 0,001), đồng thời giải thích phần lớn trong tổng số 81,3% phương sai của biến Kết quả đào tạo (KQS). Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước, đồng thời bổ sung bằng chứng định lượng còn thiếu trong bối cảnh Việt Nam. Nguyễn Thị Ngọc Hà (2021) cho rằng các hoạt động đào tạo thực hành tại doanh nghiệp tạo ra hiệu quả học tập rõ rệt hơn so với mô hình mô phỏng trong lớp học, đồng thời nhấn mạnh vai trò khó thay thế của chuyên gia doanh nghiệp trong quá trình hướng dẫn thực hành. Nghiên cứu hiện tại lượng hóa rõ hơn tác động này khi cho thấy mỗi đơn vị tăng của F1 làm KQS tăng 0,79 đơn vị trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tương tự, Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Thị Thu Hoa (2020) cũng khẳng định mức độ tham gia trực tiếp của doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến chất lượng hợp tác đào tạo.

Đáng chú ý, kết quả EFA cho thấy các biến thuộc hai nhóm “Hỗ trợ của doanh nghiệp” (DN) và “Mức độ phù hợp của kiến thức” (PN) được hội tụ vào cùng một nhân tố F1. Điều này cho thấy sinh viên chỉ thực sự đánh giá kiến thức là phù hợp khi kiến thức đó được doanh nghiệp trực tiếp truyền đạt, hướng dẫn và kiểm chứng trong môi trường nghề nghiệp thực tế. Hàm ý đặt ra là việc nâng cao tính phù hợp của chương trình đào tạo sẽ khó đạt hiệu quả nếu thiếu sự tham gia thực chất từ phía doanh nghiệp.

Nhân tố F2 (Chất lượng chương trình) cũng có ý nghĩa thống kê cao, tuy nhiên mức độ tác động thấp hơn đáng kể so với F1 khi hệ số hồi quy chỉ đạt 0,18. Điều này cho thấy chất lượng chương trình là điều kiện cần nhưng chưa đủ để nâng cao Kết quả đào tạo. Kết quả nghiên cứu bổ sung cho lập luận của Perkmann và cộng sự (2013) khi cho rằng chất lượng hợp tác tạo ra tác động lớn hơn quy mô hợp tác, đồng thời nhấn mạnh rằng việc cải thiện chương trình đào tạo chỉ thực sự hiệu quả khi đi kèm với tăng cường trải nghiệm thực tiễn tại doanh nghiệp. Kết quả này cũng phù hợp với quan điểm của Jackson (2014) về vai trò của việc gắn kết chương trình đào tạo với bối cảnh nghề nghiệp thực tế.

Nhân tố F3 (Hỗ trợ của nhà trường) có ý nghĩa thống kê với tác động tích cực đến Kết quả đào tạo ngay cả khi đã kiểm soát các yếu tố khác. Kết quả này cho thấy hỗ trợ từ phía nhà trường không chỉ đóng vai trò điều kiện nền tảng mà còn tạo ra tác động độc lập đến Kết quả đào tạo của sinh viên. Đây là điểm bổ sung mới cho các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây, vốn chủ yếu dừng ở việc nhận diện thiếu hỗ trợ của nhà trường là một rào cản trong hợp tác đào tạo. Nguyễn Thị Ngọc Hà (2021) cho rằng khó khăn lớn nhất nằm ở việc thiếu cơ chế hỗ trợ giảng viên và thiếu công cụ tích hợp hoạt động thực hành vào chương trình học. Bui và Kikkawa (2024) cũng ghi nhận hỗ trợ thể chế từ nhà trường là yếu tố xuất hiện thường xuyên trong các nghiên cứu trước, song chưa có nghiên cứu nào lượng hóa cụ thể mức độ tác động của nhân tố này như trong nghiên cứu hiện tại.

Trong khi đó, nhân tố F4 (Nhận thức của sinh viên về hợp tác nhà trường - doanh nghiệp) không có ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy. Kết quả này cho thấy nhận thức tích cực của sinh viên chưa đủ để tạo ra cải thiện trực tiếp đối với Kết quả đào tạo nếu thiếu cơ hội tham gia thực tiễn nghề nghiệp. Phát hiện này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Hà và Nguyễn Văn Dương (2022), khi chỉ ra khoảng cách giữa nhận thức và hành động của sinh viên trong hoạt động học tập gắn với doanh nghiệp. Trần Thị Tuyết (2023) cũng cho rằng tỷ lệ có việc làm cao của sinh viên Việt Nam chưa phản ánh đầy đủ chất lượng đào tạo do còn hạn chế về trải nghiệm thực tiễn nghề nghiệp.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong nâng cao Kết quả đào tạo của sinh viên khối ngành kinh tế - quản trị. Trong đó, Hỗ trợ của doanh nghiệp kết hợp với mức độ phù hợp của kiến thức có tác động mạnh nhất, phản ánh vai trò trung tâm của trải nghiệm thực tiễn và sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo. Bên cạnh đó, Chất lượng chương trình và Hỗ trợ của nhà trường cũng có ảnh hưởng tích cực đến Kết quả đào tạo, trong khi Nhận thức của sinh viên về hợp tác nhà trường - doanh nghiệp không tạo ra tác động trực tiếp có ý nghĩa thống kê.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các hàm ý chính sách quan trọng sau:

Thứ nhất, cần ưu tiên tăng cường chiều sâu của các hoạt động hỗ trợ của doanh nghiệp như hướng dẫn thực hành nghề nghiệp, tiếp cận cơ sở vật chất và tham quan quy trình làm việc thực tế, bởi đây là nhân tố có tác động mạnh nhất đến kết quả đào tạo và khó có thể thay thế bằng các yếu tố khác.

Thứ hai, việc đầu tư nâng cao chất lượng chương trình đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật số từ phía nhà trường cần được triển khai đồng bộ với mở rộng hợp tác doanh nghiệp, do hiệu quả của các nhân tố này phụ thuộc đáng kể vào mức độ gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Thứ ba, các chương trình nâng cao nhận thức cho sinh viên sẽ khó phát huy hiệu quả nếu chỉ dừng ở tuyên truyền hoặc định hướng, mà không đi kèm với các hoạt động trải nghiệm và thực hành nghề nghiệp thực tiễn.

Tài liệu tham khảo:

1. Bui, V. T. T., & Kikkawa, T. (2024b). Exploring university-industry collaboration in Vietnam: An in-depth review of types and influencing factors. Industry and Higher Education, 38(6), 499-514.

2. Jackson, D. (2014). Employability skill development in work-integrated learning: Barriers and best practice. Studies in Higher Education, 40(2), 350-367.

3. Kaiser, H. F. (1974). An index of factorial simplicity. Psychometrika, 39(1), 31-36.

4. Nguyễn Thị Ngọc Hà (2021). The involvement of industry professionals and barriers to involvement in work-integrated learning: the case of the profession-oriented higher education framework in Vietnam. Journal of Education and Work, 35(1), 92-107.

5. Nguyễn Thị Ngọc Hà & Nguyễn Văn Dương (2022). Enhancing student employability: A mixed-methods study into work-integrated learning in Vietnamese universities. International Journal of Work-Integrated Learning, 23(3), 405-425.

6. Nguyễn Quyết Thắng & Nguyễn Thị Thu Hoa (2020). Factors Affecting Industry and University Collaboration in Education in the Hospitality Industry in Vietnam: A Business Perspective. Journal of Asian Finance Economics and Business, 7(2), 291-300.

7. Perkmann, M., Tartari, V., McKelvey, M., Autio, E., Broström, A., D'Este, P., Fini, R., Geuna, A., Grimaldi, R., Hughes, A., Krabel, S., Kitson, M., Llerena, P., Lissoni, F., Salter, A., & Sobrero, M. (2013). Academic engagement and commercialisation: A review of the literature on university-industry relations. Research Policy, 42(2), 423-442.

8. Phạm Hồng Quang & Nguyễn Danh Nam (2022). Giải pháp tăng cường hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, 228(04), 74-81.

9. Trần Thị Tuyết (2023). Graduate employability and university-enterprise collaboration in Vietnam. International Handbook on Education Development in Asia-Pacific, 885-906.

Ngày nhận bài: 27/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/5/2026; Ngày duyệt đăng: 29/5/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"