Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Doanh nghiệp - Kinh doanh 17:50 | 09/09/2026 Trần Xuân Hoàng Hải, Nguyễn Phước Thiện
Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.

ThS. Trần Xuân Hoàng Hải

NCS. Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

TS. Nguyễn Phước Thiện

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích tác động của sự tự tin, khả năng phục hồi, động lực khởi nghiệp, thực hành khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam. Dữ liệu từ 598 cá nhân đã hoặc đang tham gia khởi nghiệp được xử lý bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần. Kết quả cho thấy thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ; cả 5 giả thuyết đều được chấp nhận. Kết quả nhấn mạnh rằng quyết định dấn thân kinh doanh phụ thuộc đáng kể vào năng lực đứng vững trước bất định, trải nghiệm thực hành và chất lượng môi trường hỗ trợ. Nghiên cứu đề xuất ưu tiên phát triển khả năng phục hồi, tăng cường học qua trải nghiệm và hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp.

Từ khóa: Quyết định khởi nghiệp, động lực khởi nghiệp, thực hành khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp

Abstract

This study examines the effects of self-confidence, resilience, entrepreneurial motivation, entrepreneurial practice, and the entrepreneurial environment on entrepreneurial decision-making in Viet Nam. Data collected from 598 individuals who have engaged or are currently engaged in entrepreneurial activities were analyzed using partial least squares structural equation Modeling (PLS-SEM). The results confirm the reliability and convergent validity of the measurement scales, with all five hypotheses supported. The findings highlight that entrepreneurial decisions are significantly influenced by individuals’ ability to cope with uncertainty, practical experience, and the quality of the supporting entrepreneurial environment. The study recommends prioritizing the development of resilience, strengthening experiential learning, and improving the entrepreneurial ecosystem to encourage entrepreneurial engagement in Viet Nam.

Keywords: Entrepreneurial decision-making, entrepreneurial motivation, entrepreneurial practice, entrepreneurial environment

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gartner (1988) xem khởi nghiệp là chuỗi hành động tổ chức nguồn lực và hình thành doanh nghiệp; Krueger và Brazeal (1994) nhấn mạnh sự gặp nhau giữa mức độ sẵn sàng của cá nhân và sức hấp dẫn của cơ hội. Một cá nhân có thể đánh giá khởi nghiệp tích cực nhưng vẫn trì hoãn nếu thiếu niềm tin, khả năng phục hồi, kinh nghiệm thực hành hoặc môi trường thuận lợi.

Nghiên cứu này kiểm định 5 yếu tố gần với quyết định hành động: sự tự tin, khả năng phục hồi, động lực khởi nghiệp, thực hành khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp. Mục tiêu là xác định mức độ và thứ tự tác động của các yếu tố này đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam, qua đó bổ sung bằng chứng thực nghiệm và đề xuất hàm ý cho cơ sở đào tạo, vườn ươm, tổ chức hỗ trợ và người khởi nghiệp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Sự tự tin và quyết định khởi nghiệp

Sự tự tin phản ánh niềm tin của cá nhân vào khả năng lựa chọn mục tiêu, xử lý nhiệm vụ khó và duy trì hành động. Trong khởi nghiệp, sự tự tin làm tăng cảm nhận kiểm soát, giúp cá nhân chủ động huy động nguồn lực, chịu trách nhiệm với lựa chọn và kiên trì khi thông tin chưa đầy đủ. Cui (2021) cho thấy sự tự tin là thành phần vốn tâm lý có tác động tích cực đáng kể đến hành vi khởi nghiệp, đồng thời giữ vai trò truyền dẫn ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp đến hành vi. Vì vậy, cá nhân càng tự tin càng dễ chuyển từ cân nhắc sang quyết định hành động. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H1: Sự tự tin tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.

Khả năng phục hồi và quyết định khởi nghiệp

Khả năng phục hồi là năng lực thích ứng và tiếp tục theo đuổi mục tiêu sau trở ngại hoặc thất bại. Wu và cộng sự (2023) xác nhận khả năng phục hồi tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp và còn nâng cao khả năng nhận diện cơ hội. Khi tin rằng mình có thể học hỏi và đứng dậy sau thất bại, cá nhân ít trì hoãn và sẵn sàng cam kết hành động hơn. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H2: Khả năng phục hồi tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.

Động lực khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp

Động lực khởi nghiệp thể hiện sức thúc đẩy gắn với khát vọng thành tựu, mong muốn tự chủ, hiện thực hóa ý tưởng và cải thiện điều kiện kinh tế. Chahal và cộng sự (2024) cho thấy động lực khởi nghiệp không chỉ có quan hệ tích cực với ý định mà còn truyền dẫn ảnh hưởng của giáo dục và môi trường hỗ trợ đến mức sẵn sàng khởi sự. Khi mục tiêu kinh doanh có ý nghĩa rõ ràng, cá nhân có xu hướng duy trì cam kết và đưa ra quyết định nhất quán hơn. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H3: Động lực khởi nghiệp tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.

Thực hành khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp

Thực hành khởi nghiệp bao gồm xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch, mô phỏng vận hành, tham gia cuộc thi, dự án, chương trình ươm tạo hoặc thử nghiệm sản phẩm. Trong nghiên cứu tại Việt Nam, Ngo và cộng sự (2024) cho thấy giáo dục khởi nghiệp mang tính năng động có thể thúc đẩy trực tiếp hành vi, đặc biệt khi gắn với trải nghiệm và hoạt động thực tế. Vì vậy, thực hành làm giảm khoảng cách giữa hiểu biết và triển khai. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H4: Thực hành khởi nghiệp tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.

Môi trường khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp

Môi trường khởi nghiệp gồm văn hóa khuyến khích đổi mới, hình mẫu doanh nhân, cố vấn, mạng lưới, vườn ươm, thông tin thị trường và các nguồn lực hỗ trợ. Lin và cộng sự (2024) cho thấy môi trường khởi nghiệp được cảm nhận tích cực vừa tác động trực tiếp đến ý định, vừa phát huy thông qua động lực thành tựu và sự tự tin vào năng lực. Khi hệ sinh thái cung cấp hỗ trợ thực chất, cá nhân có cơ sở vững hơn để chuyển từ cân nhắc sang quyết định. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H5: Môi trường khởi nghiệp tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.

Mô hình nghiên cứu đề xuất như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng. Mô hình gồm: Sự tự tin có 3 biến quan sát; khả năng phục hồi 4 biến; động lực khởi nghiệp 4 biến; thực hành khởi nghiệp 3 biến; môi trường khởi nghiệp 4 biến và quyết định khởi nghiệp 4 biến.

Khảo sát thu được 598 phiếu hợp lệ từ các cá nhân đã hoặc đang tham gia khởi nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ và một số địa bàn khác. Dữ liệu được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần. Quy trình gồm đánh giá hệ số tải, độ tin cậy nhất quán nội tại, phương sai trích trung bình, hệ số xác định và hệ số đường dẫn bằng thủ tục lấy mẫu lặp 5.000 lần (Hair và cộng sự, 2019).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Nam giới chiếm 61,5% và nữ giới 38,5%. Hai nhóm từ 23 đến 28 tuổi và từ 29 đến 34 tuổi chiếm 77,4%. TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm 52,0% mẫu; Đà Nẵng chiếm 19,1%. Về lĩnh vực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống chiếm 33,9%, tiếp theo là đồ gia dụng 21,1%. Người có trình độ đại học và sau đại học chiếm 58,7%. Có 61,7% người trả lời đã tham gia khởi nghiệp từ 2 đến 3 năm, cho thấy phần lớn mẫu có trải nghiệm thực tiễn khi đánh giá các phát biểu nghiên cứu.

Bảng 1: Kết quả đánh giá mô hình đo lường và kiểm định giả thuyết

A. Đánh giá mô hình đo lường

Nhân tố

Số biến

quan sát

Hệ số tải

Hệ số Cronbach’s Alpha

Độ tin cậy tổng hợp

Phương sai trích trung bình

Đánh giá

Sự tự tin (TT)

3

0,827-0,877

0,814

0,888

0,725

Đạt

Khả năng phục hồi (PH)

4

0,882-0,905

0,915

0,940

0,798

Đạt

Động lực khởi nghiệp (DL)

4

0,814-0,856

0,855

0,901

0,695

Đạt

Thực hành khởi nghiệp (TH)

3

0,797-0,895

0,814

0,888

0,727

Đạt

Môi trường khởi nghiệp (MT)

4

0,877-0,932

0,935

0,953

0,836

Đạt

Quyết định khởi nghiệp (QD)

4

0,813-0,854

0,851

0,900

0,692

Đạt

B. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc

Giả thuyết

Mối quan hệ

β

Độ lệch chuẩn

Giá trị t

Mức ý nghĩa p

Kết luận

H1

TT tác động đến QD

0,167

0,029

5,721

< 0,001

Chấp nhận

H2

PH tác động đến QD

0,386

0,035

10,917

< 0,001

Chấp nhận

H3

DL tác động đến QD

0,115

0,039

2,912

0,004

Chấp nhận

H4

TH tác động đến QD

0,227

0,035

6,565

< 0,001

Chấp nhận

H5

MT tác động đến QD

0,143

0,037

3,861

< 0,001

Chấp nhận

Hệ số xác định của quyết định khởi nghiệp: R² = 0,460.

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của nhóm tác giả

Hệ số tải ngoài dao động từ 0,797 đến 0,932; hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,814 đến 0,935; độ tin cậy tổng hợp từ 0,888 đến 0,953 và phương sai trích trung bình từ 0,692 đến 0,836. Các chỉ số đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ, nên thang đo đủ điều kiện để đánh giá mô hình cấu trúc.

Năm yếu tố giải thích 46,0% biến thiên của quyết định khởi nghiệp. Tất cả hệ số đường dẫn đều dương và có ý nghĩa thống kê. Khả năng phục hồi có tác động mạnh nhất (β = 0,386; p < 0,001) cho thấy quyết định khởi nghiệp phụ thuộc đáng kể vào năng lực đứng vững và tiếp tục hành động trước bất định. Kết quả phù hợp với Bullough và cộng sự (2014) và Newman và cộng sự (2014), theo đó nguồn lực tâm lý giúp cá nhân không rút lui sớm trước rủi ro hoặc thất bại ban đầu.

Thực hành khởi nghiệp có mức độ tác động đứng thứ hai (β = 0,227; p < 0,001). Khi đã thử lập kế hoạch, kiểm chứng ý tưởng, làm việc với khách hàng hoặc tham gia ươm tạo, cá nhân hiểu rõ hơn những việc cần làm và giảm sự mơ hồ của quyết định. Phát hiện này củng cố quan điểm học tập qua kinh nghiệm của Politis (2005) và bằng chứng về khoảng cách ý định - hành vi của Shirokova và cộng sự (2016).

Sự tự tin tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp (β = 0,167; p < 0,001), vì niềm tin vào năng lực giúp cá nhân đánh giá nhiệm vụ theo hướng có thể kiểm soát. Môi trường khởi nghiệp cũng có tác động tích cực (β = 0,143; p < 0,001) cho thấy cố vấn, mạng lưới, thông tin và cơ chế hỗ trợ làm tăng tính khả thi của quyết định. Kết quả này phù hợp với Souitaris và cộng sự (2007), Walter và cộng sự (2013) và Ahmed và cộng sự (2020).

Động lực khởi nghiệp có tác động nhỏ nhất nhưng vẫn có ý nghĩa (β = 0,115; p = 0,004). Điều này cho thấy khát vọng thành tựu hoặc tự chủ là sức đẩy cần thiết, tuy nhiên để trở thành quyết định, động lực phải kết hợp với khả năng phục hồi, niềm tin, kinh nghiệm thực hành và hệ thống hỗ trợ. Phát hiện này đặc biệt đáng chú ý đối với các chương trình thường tập trung truyền cảm hứng nhưng chưa đầu tư tương xứng cho huấn luyện tâm lý và trải nghiệm triển khai.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Nghiên cứu cho thấy cả 5 yếu tố đều tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam. Đóng góp chính là đặt nguồn lực tâm lý, động lực và điều kiện giáo dục - hệ sinh thái trong một mô hình trực tiếp giải thích quyết định, thay vì chỉ xem xét ý định. Thứ tự tác động cho thấy khả năng phục hồi và thực hành khởi nghiệp là 2 yếu tố nền tảng nổi bật nhất của bước chuyển sang hành động.

Các cơ sở đào tạo và tổ chức hỗ trợ cần chuyển từ truyền cảm hứng đơn thuần sang phát triển năng lực chịu đựng và phục hồi. Chương trình đào tạo nên tích hợp mô phỏng thất bại, phân tích tình huống khủng hoảng, điều chỉnh mô hình kinh doanh, cố vấn và phản hồi sau thử nghiệm. Hoạt động thực hành cần tạo thành chuỗi trải nghiệm có đầu ra rõ ràng, từ nhận diện vấn đề, kiểm chứng khách hàng, xây dựng sản phẩm khả dụng tối thiểu đến lập kế hoạch tài chính. Các cuộc thi nên gắn với thử nghiệm thị trường và theo dõi sau cuộc thi.

Việc phát triển sự tự tin nên dựa trên mục tiêu theo từng bước, phản hồi có chứng cứ và hình mẫu gần gũi. Hệ sinh thái cần tăng khả năng tiếp cận cố vấn, mạng lưới doanh nhân, thông tin pháp lý, nguồn vốn và không gian thử nghiệm; sự hỗ trợ nên được phân tầng theo giai đoạn phát triển. Đồng thời, tư vấn cần giúp người tham gia chuyển mong muốn tự chủ hoặc thành tựu thành mục tiêu khả thi, tiêu chí tiến độ và kế hoạch nguồn lực cụ thể.

Tài liệu tham khảo:

1. Ahmed, T., Chandran, V. G. R., Klobas, J. E., Liñán, F., và Kokkalis, P. (2020). Entrepreneurship education programmes: How learning, inspiration and resources affect intentions for new venture creation in a developing economy. The International Journal of Management Education, 18(1), 100327.

2. Bullough, A., Renko, M., và Myatt, T. (2014). Danger zone entrepreneurs: The importance of resilience and self-efficacy for entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 38(3), 473-499.

3. Chahal, J., Shoukat, M. H., và Ayoubi, R. (2024). How entrepreneurial environment and education influence university students' entrepreneurial intentions: The mediating role of entrepreneurial motivation. Higher Education, Skills and Work-Based Learning, 14(3), 591-609.

4. Cui, J. (2021). The influence of entrepreneurial education and psychological capital on entrepreneurial behavior among college students. Frontiers in Psychology, 12, 755479.

5. Gartner, W. B. (1988). “Who is an entrepreneur?” is the wrong question. American Journal of Small Business, 12(4), 11-32.

6. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., và Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24.

7. Krueger, N. F., Jr., và Brazeal, D. V. (1994). Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs. Entrepreneurship Theory and Practice, 18(3), 91-104.

8. Lin, Q., Chen, Y., Lai, J., và Zhang, X. (2024). The effect mechanism of perceived entrepreneurial environment on Chinese college students' entrepreneurial intention: Chain mediation model test. Frontiers in Psychology, 15, 1374533.

9. Newman, A., Ucbasaran, D., Zhu, F., và Hirst, G. (2014). Psychological capital: A review and synthesis. Journal of Organizational Behavior, 35(S1), S120-S138.

10. Ngo, T. V. N., Le, T. L., Pham, T. T. H., Nguyen, T. T. T., và Duong, C. D. (2024). Empowering entrepreneurs: Bridging the attitude-intention-behaviour gap through dynamic entrepreneurship education. Asia Pacific Journal of Innovation and Entrepreneurship, 18(4), 355-374.

11. Politis, D. (2005). The process of entrepreneurial learning: A conceptual framework. Entrepreneurship Theory and Practice, 29(4), 399-424.

12. Shane, S., và Venkataraman, S. (2000). The promise of entrepreneurship as a field of research. Academy of Management Review, 25(1), 217-226.

13. Shirokova, G., Osiyevskyy, O., và Bogatyreva, K. (2016). Exploring the intention-behavior link in student entrepreneurship: Moderating effects of individual and environmental characteristics. European Management Journal, 34(4), 386-399.

14. Souitaris, V., Zerbinati, S., và Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes raise entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of learning, inspiration and resources. Journal of Business Venturing, 22(4), 566-591.

15. Walter, S. G., Parboteeah, K. P., và Walter, A. (2013). University departments and self-employment intentions of business students: A cross-level analysis. Entrepreneurship Theory and Practice, 37(2), 175-200.

16. Wu, K., Zhao, X., Wang, X., Chen, X., Hung, T.-K., Wang, Z., và Lee, S.-C. (2023). The impact of entrepreneurial resilience on the entrepreneurial intention of return migrants: An empirical study based on survey data from multiple provinces in China. SAGE Open, 13(2), 1-17.

Ngày nhận bài: 24/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/8/2026; Ngày duyệt đăng: 5/9/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh

Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh ghi nhận tốc độ mở rộng kênh bán hàng nhanh nhất trong cả nước. Sự chồng chéo của các kênh bán hàng tạo ra hiện tượng người tiêu dùng không còn trung thành với một kênh duy nhất, mà thực hiện mua sắm qua nhiều kênh khác nhau.
Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động doanh nghiệp ngày càng dựa trên dữ liệu, nền tảng và những giao dịch vượt ra ngoài địa giới hành chính; ở phía cơ quan quản lý, các hoạt động đăng ký kinh doanh, thuế, dịch vụ công, hỗ trợ doanh nghiệp, thanh tra và giám sát cũng đang chuyển lên môi trường số.
Tích hợp chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh: Trường hợp các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc

Tích hợp chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh: Trường hợp các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyên môn hóa ngày càng gia tăng, tích hợp chuỗi cung ứng được xem là một năng lực quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh.
Đánh giá tác động giữa đổi mới xanh, hiệu suất doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Đánh giá tác động giữa đổi mới xanh, hiệu suất doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại TP. Hồ Chí Minh

Sức ép môi trường, nếu được đáp ứng bằng đổi mới, sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và vượt lên đối thủ. Lập luận này đặt đổi mới xanh, tức việc phát triển và áp dụng sản phẩm, quy trình và công nghệ ít gây hại cho môi trường, vào trung tâm chiến lược doanh nghiệp.
Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển thị trường xổ số tại tỉnh Lâm Đồng

Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển thị trường xổ số tại tỉnh Lâm Đồng

Đối với nhiều tỉnh phía Nam, xổ số là một trong những nguồn thu nội địa lớn nhất, khiến chính sách phát triển thị trường xổ số trở thành một cấu phần của chính sách tài chính công cấp tỉnh.
Quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi nhuận: Vai trò điều tiết của đại dịch COVID-19

Quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi nhuận: Vai trò điều tiết của đại dịch COVID-19

Quy mô doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến mức độ quản trị lợi nhuận, phản ánh sự khác biệt về nguồn lực, cơ chế giám sát và áp lực minh bạch tài chính.
Vai trò của quản trị liên văn hóa trong nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI

Vai trò của quản trị liên văn hóa trong nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI

Tại Việt Nam, yêu cầu quản trị liên văn hóa ngày càng rõ cùng sự phát triển của khu vực FDI. Nhiều nghiên cứu cho thấy, đa dạng văn hóa có thể mở rộng góc nhìn và thúc đẩy sáng tạo, song cũng làm suy giảm sự gắn kết, gia tăng xung đột và chi phí phối hợp.
Kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam

Kết quả đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghệ ở Việt Nam

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu khảo sát 528 doanh nghiệp công nghệ Việt Nam để mô tả thực trạng kết quả đổi mới sản phẩm, đối chiếu với thực trạng hoạt động đổi mới sản phẩm, từ đó gợi mở một số hàm ý quản trị và chính sách.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc chấp thuận nền tảng bất động sản trực tuyến và ý định mua nhà tại Hà Nội

Các nền tảng bất động sản trực tuyến ngày càng trở thành công cụ hỗ trợ người mua tìm kiếm, so sánh và đánh giá các lựa chọn nhà ở trước khi ra quyết định, đặc biệt tại Hà Nội, nơi giá căn hộ sơ cấp tăng đáng kể trong năm 2025.
Các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ

Trong bối cảnh cạnh tranh, chuyển đổi số và yêu cầu phát triển bền vững gia tăng, năng lực tổ chức và sử dụng nguồn nhân lực có thể quyết định khả năng chuyển hóa các nguồn lực hữu hạn thành hiệu quả kinh doanh.