Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam
ThS. Trần Xuân Hoàng Hải
Trường Đại học Hùng Vương TP. Hồ Chí Minh;
NCS Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Tài chính TP. Hồ Chí Minh; Email: haitxh24dba@uef.edu.vn
TS. Nguyễn Phước Thiện
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP. Hồ Chí Minh; Email: thiennp@uef.edu.vn
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích tác động của sự tự tin, khả năng phục hồi, động lực khởi nghiệp, thực hành khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam. Dữ liệu từ 598 cá nhân đã hoặc đang tham gia khởi nghiệp được xử lý bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần. Kết quả cho thấy thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ; cả 5 giả thuyết đều được chấp nhận. Kết quả nhấn mạnh rằng quyết định dấn thân kinh doanh phụ thuộc đáng kể vào năng lực đứng vững trước bất định, trải nghiệm thực hành và chất lượng môi trường hỗ trợ. Nghiên cứu đề xuất ưu tiên phát triển khả năng phục hồi, tăng cường học qua trải nghiệm và hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp.
Từ khóa: Quyết định khởi nghiệp, động lực khởi nghiệp, thực hành khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp
Abstract
This study examines the effects of self-confidence, resilience, entrepreneurial motivation, entrepreneurial practice, and the entrepreneurial environment on entrepreneurial decision-making in Viet Nam. Data collected from 598 individuals who have engaged or are currently engaged in entrepreneurial activities were analyzed using partial least squares structural equation Modeling (PLS-SEM). The results confirm the reliability and convergent validity of the measurement scales, with all five hypotheses supported. The findings highlight that entrepreneurial decisions are significantly influenced by individuals’ ability to cope with uncertainty, practical experience, and the quality of the supporting entrepreneurial environment. The study recommends prioritizing the development of resilience, strengthening experiential learning, and improving the entrepreneurial ecosystem to encourage entrepreneurial engagement in Viet Nam.
Keywords: Entrepreneurial decision-making, entrepreneurial motivation, entrepreneurial practice, entrepreneurial environment
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gartner (1988) xem khởi nghiệp là chuỗi hành động tổ chức nguồn lực và hình thành doanh nghiệp; Krueger và Brazeal (1994) nhấn mạnh sự gặp nhau giữa mức độ sẵn sàng của cá nhân và sức hấp dẫn của cơ hội. Một cá nhân có thể đánh giá khởi nghiệp tích cực nhưng vẫn trì hoãn nếu thiếu niềm tin, khả năng phục hồi, kinh nghiệm thực hành hoặc môi trường thuận lợi.
Nghiên cứu này kiểm định 5 yếu tố gần với quyết định hành động: sự tự tin, khả năng phục hồi, động lực khởi nghiệp, thực hành khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp. Mục tiêu là xác định mức độ và thứ tự tác động của các yếu tố này đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam, qua đó bổ sung bằng chứng thực nghiệm và đề xuất hàm ý cho cơ sở đào tạo, vườn ươm, tổ chức hỗ trợ và người khởi nghiệp.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Sự tự tin và quyết định khởi nghiệp
Sự tự tin phản ánh niềm tin của cá nhân vào khả năng lựa chọn mục tiêu, xử lý nhiệm vụ khó và duy trì hành động. Trong khởi nghiệp, sự tự tin làm tăng cảm nhận kiểm soát, giúp cá nhân chủ động huy động nguồn lực, chịu trách nhiệm với lựa chọn và kiên trì khi thông tin chưa đầy đủ. Cui (2021) cho thấy sự tự tin là thành phần vốn tâm lý có tác động tích cực đáng kể đến hành vi khởi nghiệp, đồng thời giữ vai trò truyền dẫn ảnh hưởng của giáo dục khởi nghiệp đến hành vi. Vì vậy, cá nhân càng tự tin càng dễ chuyển từ cân nhắc sang quyết định hành động. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H1: Sự tự tin tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.
Khả năng phục hồi và quyết định khởi nghiệp
Khả năng phục hồi là năng lực thích ứng và tiếp tục theo đuổi mục tiêu sau trở ngại hoặc thất bại. Wu và cộng sự (2023) xác nhận khả năng phục hồi tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp và còn nâng cao khả năng nhận diện cơ hội. Khi tin rằng mình có thể học hỏi và đứng dậy sau thất bại, cá nhân ít trì hoãn và sẵn sàng cam kết hành động hơn. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H2: Khả năng phục hồi tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.
Động lực khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp
Động lực khởi nghiệp thể hiện sức thúc đẩy gắn với khát vọng thành tựu, mong muốn tự chủ, hiện thực hóa ý tưởng và cải thiện điều kiện kinh tế. Chahal và cộng sự (2024) cho thấy động lực khởi nghiệp không chỉ có quan hệ tích cực với ý định mà còn truyền dẫn ảnh hưởng của giáo dục và môi trường hỗ trợ đến mức sẵn sàng khởi sự. Khi mục tiêu kinh doanh có ý nghĩa rõ ràng, cá nhân có xu hướng duy trì cam kết và đưa ra quyết định nhất quán hơn. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H3: Động lực khởi nghiệp tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.
Thực hành khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp
Thực hành khởi nghiệp bao gồm xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch, mô phỏng vận hành, tham gia cuộc thi, dự án, chương trình ươm tạo hoặc thử nghiệm sản phẩm. Trong nghiên cứu tại Việt Nam, Ngo và cộng sự (2024) cho thấy giáo dục khởi nghiệp mang tính năng động có thể thúc đẩy trực tiếp hành vi, đặc biệt khi gắn với trải nghiệm và hoạt động thực tế. Vì vậy, thực hành làm giảm khoảng cách giữa hiểu biết và triển khai. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H4: Thực hành khởi nghiệp tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.
Môi trường khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp
Môi trường khởi nghiệp gồm văn hóa khuyến khích đổi mới, hình mẫu doanh nhân, cố vấn, mạng lưới, vườn ươm, thông tin thị trường và các nguồn lực hỗ trợ. Lin và cộng sự (2024) cho thấy môi trường khởi nghiệp được cảm nhận tích cực vừa tác động trực tiếp đến ý định, vừa phát huy thông qua động lực thành tựu và sự tự tin vào năng lực. Khi hệ sinh thái cung cấp hỗ trợ thực chất, cá nhân có cơ sở vững hơn để chuyển từ cân nhắc sang quyết định. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H5: Môi trường khởi nghiệp tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp.
Mô hình nghiên cứu đề xuất như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
|
|
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng. Mô hình gồm: Sự tự tin có 3 biến quan sát; khả năng phục hồi 4 biến; động lực khởi nghiệp 4 biến; thực hành khởi nghiệp 3 biến; môi trường khởi nghiệp 4 biến và quyết định khởi nghiệp 4 biến.
Khảo sát thu được 598 phiếu hợp lệ từ các cá nhân đã hoặc đang tham gia khởi nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ và một số địa bàn khác. Dữ liệu được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần. Quy trình gồm đánh giá hệ số tải, độ tin cậy nhất quán nội tại, phương sai trích trung bình, hệ số xác định và hệ số đường dẫn bằng thủ tục lấy mẫu lặp 5.000 lần (Hair và cộng sự, 2019).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Nam giới chiếm 61,5% và nữ giới 38,5%. Hai nhóm từ 23 đến 28 tuổi và từ 29 đến 34 tuổi chiếm 77,4%. TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm 52,0% mẫu; Đà Nẵng chiếm 19,1%. Về lĩnh vực, thực phẩm và dịch vụ ăn uống chiếm 33,9%, tiếp theo là đồ gia dụng 21,1%. Người có trình độ đại học và sau đại học chiếm 58,7%. Có 61,7% người trả lời đã tham gia khởi nghiệp từ 2 đến 3 năm, cho thấy phần lớn mẫu có trải nghiệm thực tiễn khi đánh giá các phát biểu nghiên cứu.
Bảng 1: Kết quả đánh giá mô hình đo lường và kiểm định giả thuyết
| A. Đánh giá mô hình đo lường | ||||||
| Nhân tố | Số biến quan sát | Hệ số tải | Hệ số Cronbach’s Alpha | Độ tin cậy tổng hợp | Phương sai trích trung bình | Đánh giá |
| Sự tự tin (TT) | 3 | 0,827-0,877 | 0,814 | 0,888 | 0,725 | Đạt |
| Khả năng phục hồi (PH) | 4 | 0,882-0,905 | 0,915 | 0,940 | 0,798 | Đạt |
| Động lực khởi nghiệp (DL) | 4 | 0,814-0,856 | 0,855 | 0,901 | 0,695 | Đạt |
| Thực hành khởi nghiệp (TH) | 3 | 0,797-0,895 | 0,814 | 0,888 | 0,727 | Đạt |
| Môi trường khởi nghiệp (MT) | 4 | 0,877-0,932 | 0,935 | 0,953 | 0,836 | Đạt |
| Quyết định khởi nghiệp (QD) | 4 | 0,813-0,854 | 0,851 | 0,900 | 0,692 | Đạt |
| B. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc | ||||||
| Giả thuyết | Mối quan hệ | β | Độ lệch chuẩn | Giá trị t | Mức ý nghĩa p | Kết luận |
| H1 | TT tác động đến QD | 0,167 | 0,029 | 5,721 | < 0,001 | Chấp nhận |
| H2 | PH tác động đến QD | 0,386 | 0,035 | 10,917 | < 0,001 | Chấp nhận |
| H3 | DL tác động đến QD | 0,115 | 0,039 | 2,912 | 0,004 | Chấp nhận |
| H4 | TH tác động đến QD | 0,227 | 0,035 | 6,565 | < 0,001 | Chấp nhận |
| H5 | MT tác động đến QD | 0,143 | 0,037 | 3,861 | < 0,001 | Chấp nhận |
| Hệ số xác định của quyết định khởi nghiệp: R² = 0,460. | ||||||
Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát của nhóm tác giả
Hệ số tải ngoài dao động từ 0,797 đến 0,932; hệ số Cronbach’s Alpha từ 0,814 đến 0,935; độ tin cậy tổng hợp từ 0,888 đến 0,953 và phương sai trích trung bình từ 0,692 đến 0,836. Các chỉ số đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ, nên thang đo đủ điều kiện để đánh giá mô hình cấu trúc.
Năm yếu tố giải thích 46,0% biến thiên của quyết định khởi nghiệp. Tất cả hệ số đường dẫn đều dương và có ý nghĩa thống kê. Khả năng phục hồi có tác động mạnh nhất (β = 0,386; p < 0,001) cho thấy quyết định khởi nghiệp phụ thuộc đáng kể vào năng lực đứng vững và tiếp tục hành động trước bất định. Kết quả phù hợp với Bullough và cộng sự (2014) và Newman và cộng sự (2014), theo đó nguồn lực tâm lý giúp cá nhân không rút lui sớm trước rủi ro hoặc thất bại ban đầu.
Thực hành khởi nghiệp có mức độ tác động đứng thứ hai (β = 0,227; p < 0,001). Khi đã thử lập kế hoạch, kiểm chứng ý tưởng, làm việc với khách hàng hoặc tham gia ươm tạo, cá nhân hiểu rõ hơn những việc cần làm và giảm sự mơ hồ của quyết định. Phát hiện này củng cố quan điểm học tập qua kinh nghiệm của Politis (2005) và bằng chứng về khoảng cách ý định - hành vi của Shirokova và cộng sự (2016).
Sự tự tin tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp (β = 0,167; p < 0,001), vì niềm tin vào năng lực giúp cá nhân đánh giá nhiệm vụ theo hướng có thể kiểm soát. Môi trường khởi nghiệp cũng có tác động tích cực (β = 0,143; p < 0,001) cho thấy cố vấn, mạng lưới, thông tin và cơ chế hỗ trợ làm tăng tính khả thi của quyết định. Kết quả này phù hợp với Souitaris và cộng sự (2007), Walter và cộng sự (2013) và Ahmed và cộng sự (2020).
Động lực khởi nghiệp có tác động nhỏ nhất nhưng vẫn có ý nghĩa (β = 0,115; p = 0,004). Điều này cho thấy khát vọng thành tựu hoặc tự chủ là sức đẩy cần thiết, tuy nhiên để trở thành quyết định, động lực phải kết hợp với khả năng phục hồi, niềm tin, kinh nghiệm thực hành và hệ thống hỗ trợ. Phát hiện này đặc biệt đáng chú ý đối với các chương trình thường tập trung truyền cảm hứng nhưng chưa đầu tư tương xứng cho huấn luyện tâm lý và trải nghiệm triển khai.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
Nghiên cứu cho thấy cả 5 yếu tố đều tác động tích cực đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam. Đóng góp chính là đặt nguồn lực tâm lý, động lực và điều kiện giáo dục - hệ sinh thái trong một mô hình trực tiếp giải thích quyết định, thay vì chỉ xem xét ý định. Thứ tự tác động cho thấy khả năng phục hồi và thực hành khởi nghiệp là 2 yếu tố nền tảng nổi bật nhất của bước chuyển sang hành động.
Các cơ sở đào tạo và tổ chức hỗ trợ cần chuyển từ truyền cảm hứng đơn thuần sang phát triển năng lực chịu đựng và phục hồi. Chương trình đào tạo nên tích hợp mô phỏng thất bại, phân tích tình huống khủng hoảng, điều chỉnh mô hình kinh doanh, cố vấn và phản hồi sau thử nghiệm. Hoạt động thực hành cần tạo thành chuỗi trải nghiệm có đầu ra rõ ràng, từ nhận diện vấn đề, kiểm chứng khách hàng, xây dựng sản phẩm khả dụng tối thiểu đến lập kế hoạch tài chính. Các cuộc thi nên gắn với thử nghiệm thị trường và theo dõi sau cuộc thi.
Việc phát triển sự tự tin nên dựa trên mục tiêu theo từng bước, phản hồi có chứng cứ và hình mẫu gần gũi. Hệ sinh thái cần tăng khả năng tiếp cận cố vấn, mạng lưới doanh nhân, thông tin pháp lý, nguồn vốn và không gian thử nghiệm; sự hỗ trợ nên được phân tầng theo giai đoạn phát triển. Đồng thời, tư vấn cần giúp người tham gia chuyển mong muốn tự chủ hoặc thành tựu thành mục tiêu khả thi, tiêu chí tiến độ và kế hoạch nguồn lực cụ thể.
Tài liệu tham khảo:
1. Ahmed, T., Chandran, V. G. R., Klobas, J. E., Liñán, F., và Kokkalis, P. (2020). Entrepreneurship education programmes: How learning, inspiration and resources affect intentions for new venture creation in a developing economy. The International Journal of Management Education, 18(1), 100327.
2. Bullough, A., Renko, M., và Myatt, T. (2014). Danger zone entrepreneurs: The importance of resilience and self-efficacy for entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 38(3), 473-499.
3. Chahal, J., Shoukat, M. H., và Ayoubi, R. (2024). How entrepreneurial environment and education influence university students' entrepreneurial intentions: The mediating role of entrepreneurial motivation. Higher Education, Skills and Work-Based Learning, 14(3), 591-609.
4. Cui, J. (2021). The influence of entrepreneurial education and psychological capital on entrepreneurial behavior among college students. Frontiers in Psychology, 12, 755479.
5. Gartner, W. B. (1988). “Who is an entrepreneur?” is the wrong question. American Journal of Small Business, 12(4), 11-32.
6. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., và Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24.
7. Krueger, N. F., Jr., và Brazeal, D. V. (1994). Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs. Entrepreneurship Theory and Practice, 18(3), 91-104.
8. Lin, Q., Chen, Y., Lai, J., và Zhang, X. (2024). The effect mechanism of perceived entrepreneurial environment on Chinese college students' entrepreneurial intention: Chain mediation model test. Frontiers in Psychology, 15, 1374533.
9. Newman, A., Ucbasaran, D., Zhu, F., và Hirst, G. (2014). Psychological capital: A review and synthesis. Journal of Organizational Behavior, 35(S1), S120-S138.
10. Ngo, T. V. N., Le, T. L., Pham, T. T. H., Nguyen, T. T. T., và Duong, C. D. (2024). Empowering entrepreneurs: Bridging the attitude-intention-behaviour gap through dynamic entrepreneurship education. Asia Pacific Journal of Innovation and Entrepreneurship, 18(4), 355-374.
11. Politis, D. (2005). The process of entrepreneurial learning: A conceptual framework. Entrepreneurship Theory and Practice, 29(4), 399-424.
12. Shane, S., và Venkataraman, S. (2000). The promise of entrepreneurship as a field of research. Academy of Management Review, 25(1), 217-226.
13. Shirokova, G., Osiyevskyy, O., và Bogatyreva, K. (2016). Exploring the intention-behavior link in student entrepreneurship: Moderating effects of individual and environmental characteristics. European Management Journal, 34(4), 386-399.
14. Souitaris, V., Zerbinati, S., và Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes raise entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of learning, inspiration and resources. Journal of Business Venturing, 22(4), 566-591.
15. Walter, S. G., Parboteeah, K. P., và Walter, A. (2013). University departments and self-employment intentions of business students: A cross-level analysis. Entrepreneurship Theory and Practice, 37(2), 175-200.
16. Wu, K., Zhao, X., Wang, X., Chen, X., Hung, T.-K., Wang, Z., và Lee, S.-C. (2023). The impact of entrepreneurial resilience on the entrepreneurial intention of return migrants: An empirical study based on survey data from multiple provinces in China. SAGE Open, 13(2), 1-17.
| Ngày nhận bài: 24/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 25/8/2026; Ngày duyệt đăng: 5/9/2026 |
Các tin khác
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing
Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu suất công việc của nhân viên hành chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ hậu cần hàng không tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài: Vai trò trung gian của giá trị cảm nhận
Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Dệt may Supertex, TP. Hà Nội
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh
Các đòn bẩy chiến lược nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp giao nhận vận tải: Khung ưu tiên quản trị dựa trên bằng chứng thực nghiệm
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên
Tác động của IFRS 16 đối với các doanh nghiệp hàng không Việt Nam: Trường hợp Vietnam Airlines và VietJet Air
