Ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành khai khoáng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nguyễn Thị Kim Oanh
Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Email:nguyenthikimoanh@humg.edu.vn
Tóm tắt
Bài viết của tác giả sử dụng mô hình hồi quy FEM robustness để ước lượng tác động của quản trị công ty lên hiệu quả kinh doanh được đo lường qua tỷ suất sinh lời tài sản. Dữ liệu nghiên cứu của các DN ngành khai khoáng niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2012-2024. Kết quả nghiên cứu từ thực nghiệm trên cỡ mẫu của 26 doanh nghiệp sản xuất đã chỉ rõ các nhân tố thuộc về quản trị công ty gồm cấu trúc sở hữu tập trung, sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng quản trị có mối quan hệ tỷ lệ thuận trong khi sự xuất hiện nữ giới trong hội đồng quản trị với đặc điểm mang tính biểu tượng lại làm giảm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu. Tác động của quản trị công ty đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp này là gợi ý đề các nhà quản lý tăng cường vai trò quản trị công ty nhằm cải thiện kết quả hoạt động.
Từ khóa: Hiệu quả kinh doanh, quản trị công ty, khai khoáng
Abstract
This paper applys the robust fixed-effects model (robust FEM) to estimate the impact of corporate governance on firm performance, as measured by the Return on Assets. The research utilizes data from listed mining companies on the Vietnamese stock exchange for the 2012–2024 period. Empirical results from a sample of 26 manufacturing companies indicate that corporate governance factors measured by concentrated ownership structure, Board Chairman duality have a positive relationship with ROA of the sampled enterprises. Conversely, tokenistic female representation on the board of directors is found to reduce financial performance. The findings regarding the impact of corporate governance serve as a valuable suggestion for corporate managers to enhance the role of corporate governance in order to improve firm performance.
Keywords: Firm performance, corporate governance, mining industry
GIỚI THIỆU
Quản trị công ty là một loạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị (HĐQT), cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan tạo nên một khung hướng dẫn quản lý và kiểm soát tốt, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả từ đó gia tăng giá trị của doanh nghiệp (DN). Trong thực tế các DN có hệ thống quản trị yếu kém dễ bị suy thoái kinh tế, khả năng gia tăng các rủi ro và dẫn đến hiệu quả kinh doanh (HQKD) giảm sút. Có nhiều nhà nghiên cứu xem xét về quản trị công ty (QTCT) và những ảnh hưởng của nó đến HQKD của DN, chẳng hạn như Jensen & Meckling (1976) Pfeffer và Salancik (1979), Goodstein và cộng sự (1994), Pearce và Zahra (1991), Turki và Shadrin (2012). Song phần lớn các nghiên cứu liên quan mới chỉ được thực hiện ở các quốc gia phát triển còn tại Việt Nam nghiên cứu về mối quan hệ giữa QTCT và HQKD còn tương đối hạn chế đặc biệt là nghiên cứu cho các DN ngành khai khoáng.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nhân tố QTCT được biểu hiện qua 05 nhóm chỉ số: (1) Thành phần HĐQT (Quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập); (2) Đặc điểm HĐQT (Tuổi trung bình HĐQT, kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT với tổng giám đốc); (3) Cấu trúc sở hữu (Sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu tập trung, sở hữu nhà quản lý); (4) Mức độ hoạt động HĐQT; (5) Thù lao HĐQT. Các nghiên cứu trong và ngoài nước khi xem xét mối quan hệ giữa QTCT và HQKD cũng chưa đạt được sự thống nhất. Chẳng hạn có quan điểm cho rằng tại các DN có quy mô HĐQT lớn hơn hoạt động tốt hơn do quy mô HĐQT lớn sẽ có năng lực đa dạng sẽ giúp tạo dựng nhiều mối quan hệ đa dạng với bên ngoài cũng như đề xuất nhiều giải pháp khả thi hơn (Goodstein và cộng sự, 1994; Pearce và Zahra, 1991). Ngược lại các nhà nghiên cứu ủng hộ lý thuyết đại diện lại cho rằng HĐQT nhỏ hơn sẽ có quá trình đưa ra các quyết định hiệu quả, nhanh chóng từ đó hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động của DN. Hoặc khi kết luận về ảnh hưởng của thành viên HĐQT độc lập đến HQKD, xuất phát từ quan điểm của lý thuyết đại diện, Jensen & Meckling (1976) Pfeffer và Salancik (1979), Turki và Shadrin (2012) cho rằng sự hiện diện của các giám đốc bên ngoài trong HĐQT là yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của công ty. Tuy nhiên cũng có quan điểm ngược chiều như Chaganti và cộng sự (1985) khi nhấn mạnh đặc trưng của các giám đốc độc lập là sự hiểu biết hời hợt hơn về các đặc thù của DN và do vậy sẽ dẫn đến sự hoạt động không hiệu quả của HĐQT qua đó ảnh hưởng đến HQKD.
Ở một số DN có sự tồn tại việc kiêm nhiệm chủ tịch với giám đốc và nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc kiêm nhiệm là nhân tố tác động ngược chiều đến HQKD của các DN như Haniffa, R., và Hudaib, M. (2006) do tính chất kiêm nhiệm sẽ dẫn đến hành vi độc đoán hơn cùng với đó mức độ kiểm soát thấp cũng thấp hơn. Prowse (1998), Shleifer và Vishny (1997), Rajan và Zingales (1998) đã chỉ ra rằng một dấu hiệu thường thấy của nhiều công ty HQKD kém, bị thua lỗ kéo dài dẫn đến vỡ nợ, phá sản là sự tập trung quyền sở hữu quá mức. Trong khi đó các nhà nghiên cứu của trường phái lý thuyết đại diện lại chỉ ra những tác động tích cực của mức độ tập trung sở hữu đến HQKD của công ty.
Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu (Bảng 1) như sau:
H1: Quy mô HĐQT càng lớn HQKD của DN càng cao
Lý thuyết đại diện lại cho rằng quy mô HĐQT lớn sẽ không hiệu quả trong quá trình điều hành phối hợp ra quyết định trong khi đó ở chiều ngược lại HĐQT nhỏ sẽ có những hỗ trợ tốt hơn trong việc điều hành hoạt động của DN. Tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm của tác giả Goodstein và cộng sự (1994) và Pearce và Zahra (1991) đã cho thấy có sự tồn tại cùng chiều giữa quy mô HĐQT với HQKD. Lý do giải thích là quy mô HĐQT lớn với số lượng thành viên nhiều sẽ có năng lực đa dạng sẽ giúp tạo dựng nhiều mối quan hệ với bên ngoài cũng như đề xuất nhiều giải pháp khả thi hơn tác động tích cực đến hoạt động của đơn vị.
H2: Sở hữu cổ phần của cổ đông lớn càng cao HQKD của DN càng lớn
Các nghiên cứu của các nhà kinh tế theo trường phái lý thuyết đại diện lại chỉ ra những tác động tích cực của mức độ tập trung sở hữu đến HQKD của công ty như Jensen và Meckling (1976) do là do cổ đông lớn thường chú trọng đến mục tiêu dài hạn cũng như quan tâm đến hiệu quả hoạt động của công ty. Ngoài ra cổ đông nắm giữ tỷ lệ sở hữu cao thường có chuyên môn để QTCT cũng như giám sát hoạt động hiệu quả của công ty. Với các đặc điểm công nghệ chế biến phức tạp của ngành khai khoáng nên tác giả cũng cho rằng cổ đông lớn với các kiến thức và hiểu biết của mình cùng với việc có mục tiêu dài hạn sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của DN.
H3: Sự kiêm nhiệm vị trí Giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT làm giảm HQKD của DN
Chủ tịch HĐQT chịu trách nhiệm cho các quyết định chiến lược hàng đầu trong khi giám đốc phụ trách điều hành hàng ngày nên việc tách biệt hai vị trí này giúp đảm nhận tốt nhất công việc, cân bằng quyền lực đồng thời giúp phát huy vai trò giám sát của HĐQT đối với giám đốc điều hành. Ở nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc phân tách giữa Chủ tịch và Tổng giám đốc điều hành có thể làm tăng HQKD của DN như Haniffa, R., và Hudaib, M. (2006), Coles và cộng sự (2008). Các tác giả này nhận thấy rằng tính chất kiêm nhiệm sẽ dẫn đến hành vi độc đoán hơn, cơ hội hơn của CEO/chủ tịch cùng với đó mức độ kiểm soát thấp cũng thấp hơn.
H4: Tỷ lệ thành viên HĐQT không tham gia điều hành ảnh hưởng cùng chiều đến HQKD
Xuất phát từ quan điểm lý thuyết đại diện Jensen và Meckling (1976), Pfeffer và Salancik (1978) cũng ủng hộ quan điểm sự tồn tại và phát triển của công ty phụ thuộc đáng kể vào tỷ lệ của những người bên ngoài trong HĐQT đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Turki và Shadrin (2012) cũng đi đến kết luận thống nhất của các nhà nghiên cứu khác về việc tỷ lệ các giám đốc độc lập cao có ảnh hưởng cùng chiều đến HQKD của DN bởi sự hiện diện của họ giúp có cơ chế quản lý đáng tin cậy hơn, đảm bảo phân xử các bất đồng giữa các thành viên nội bộ.
H5: Sở hữu của HĐQT có tác động tích cực HQKD của DN càng tốt
Về lý thuyết tỷ lệ sở hữu cổ phần phù hợp của nhà quản lý sẽ gắn kết lợi ích của nhà quản lý với DN bởi điều này sẽ tạo ra sự động viên khích lệ các thành viên HĐQT điều hành DN hoạt động hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của của Johnny Jerminas và Lindawati (2014) đã kết luận rằng quyền sở hữu cổ phần của nhà quản lý tác động tích cực đến HQKD của DN.
H6: Sở hữu của nước ngoài càng lớn HQKD của DN càng tốt
Các nhà đầu tư nước ngoài thường sở hữu nguồn lực chuyên môn cao và tính độc lập tuyệt đối với ban điều hành bản địa. Ngoài ra các cổ đông nước ngoài cung cấp vốn, mở rộng thị trường hoạt động của DN. Sự tham gia của khối này khiến các DN buộc phải minh bạch thông tin, đẩy mạnh việc áp dụng các công nghệ sản xuất và mô hình quản trị tiên tiến theo chuẩn quốc tế. Những điều này giúp các công ty đặc biệt là công ty tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam giảm thiếu rủi ro, cắt giảm chi phí và thúc đẩy tăng trưởng. Nghiên cứu của Al Manaseer và cộng sự (2012), Nguyen và Nguyen (2020) đã tìm thấy tác động tích cực của sở hữu nước ngoài đối với các HQKD của DN.
H7a: Sự đa dạng giới tính của H ĐQT có ảnh hưởng cùng chiều đến HQKD của DN ngành khai khoáng
Lý thuyết đại diện cho rằng sự tham gia của phái nữ giúp đa dạng hóa góc nhìn cũng như có mạng lưới quan hệ mới, cải thiện chất lượng giám sát ban điều hành và gia tăng hình ảnh uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó thúc đẩy HQKD cho DN. Kết quả nghiên cứu của Terjesen và cộng sự (2009) cũng ủng hộ cho nhận định này.
H7b: Sự đa dạng giới tính của H ĐQT có ảnh hưởng ngược chiều đến HQKD của DN ngành khai khoáng
Nghiên cứu của tác giả Joecks và cộng sự (2013) ủng hộ lý thuyết biểu tượng khi cho rằng nếu tỷ lệ nữ trong HĐQT còn thấp (dưới ngưỡng tới hạn), sự tham gia trong HĐQT chỉ mang tính chất biểu tượng nhiều hơn thực quyền. Điều này dễ dẫn đến các rào cản trong giao tiếp, gia tăng chi phí phối hợp và kéo dài thời gian ra quyết định đồng thuận nên kết quả ảnh hưởng tiêu cực đến HQKD.
H8: Độ tuổi trung bình của thành viên HĐQT càng cao thì HQKD càng giảm
Nghiên cứu của Waelchli và Zeller (2013) cho thấy khi DN với đặc điểm HĐQT có độ tuổi trung bình quá cao thường có xu hướng thận trọng quá mức, ngại rủi ro và chậm trễ trong việc thích ứng với các thay đổi về công nghệ, chuyển đổi số nên làm giảm HQKD.
Bảng 1: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu
![]() |
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MẤU NGHIÊN CỨU
Dựa trên các nghiên cứu trước đây về và giả thuyết nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình đo lường mối quan hệ giữa QTCT và HQKD như sau:
HQKDi,t = β 0 +β1 BOD_SIZE i,t + β2 OWN_CONC i,t + β3 DUALi,t + β4 BOD_NON_EXECi,t + β5 OWN_BODi,t + β6 OWN_FOR + β7 WOM + β8 BOD_AGE + βnXi,t + ui,t (1)
Trong đó:
- HQKDi,t: thể hiện hiệu quả kinh doanh của công ty i năm t, được đo lường bằng tỷ suất sinh lời ROA
- Các biến độc lập thuộc về QTCT gồm BOD_SIZE, BOD_NON_EXEC, DUAL OWN_CONC, OWN_FOR, OWN_BOD, WOM, BOD_AGE được giải thích trong Bảng 2
- Xi,t là các biến kiểm soát gồm LEV, SIZE, AGE được tổng kết trong Bảng 2.
Các mô hình hồi quy tác động cố định FEM, hồi quy tác động ngẫu nhiên REM được sử dụng để kiểm định mối quan hệ ở phương trình (1). Trên cơ sở các khuyết tật của mô hình FEM hay REM được lựa chọn, các phương pháp hồi quy như ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát FGLS hay phương pháp kiểm tra tính vững Robustness Check được sử dụng.
Bảng 2: Bảng mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Tại thời điểm nghiên cứu có 26 công ty ngành khai khoáng được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tuy nhiên 1 số công ty không có đủ số liệu 13 năm liên tục do thành lập muộn hơn hoặc bị giải thể sát nhập. Nếu loại các quan sát này ra khỏi mẫu nghiên cứu để đảm bảo tính đồng nhất thì cỡ mẫu sẽ thu hẹp đáng kể làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu đồng thời bị chệch mẫu do mẫu chỉ nghiên cứu các công ty lớn, hoạt động tốt trong khi các công ty giải thể thường có cấu trúc tài chính, quản trị rất đặc biệt cần ghi nhận và xem xét. Việc giữ lại các DN này sẽ có kết quả nghiên cứu sẽ phản ánh đúng bức tranh thực tế của thị trường. Mẫu nghiên cứu gồm 26 công ty ngành khai khoáng niêm yết trong thời gian từ 2012-2024 nhưng có công ty có số năm hoạt động ngắn hơn nên dữ liệu thu thập được là dữ liệu bảng không cân bằng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả
Bảng 3 cho thấy quy mô HĐQT trung bình của các DN ngành khai khoáng là 5 người trong đó thấp nhất là 3 người, nhiếu nhất là 7 người và quy mô ở mức độ vừa đủ như vậy giúp cho công tác quản lý được nhanh gọn, kịp thời. Tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn có giá trị trung bình là gần 48% và không ổn định khi biến động mạnh với độ lệch chuẩn là 26,09% trong đó cổ đông lớn nắm tỷ lệ cao nhất là 98,21% và thấp nhất là 0%.
Bảng 3: Bảng thống kê mô tả các biến
![]() |
Kết quả thống kê mô tả ở bảng 3 cho thấy tỷ suất ROA trung bình của các DN ngành khai khoáng là 5,123%. Kết quả này cho thấy cho thấy 100 đồng vốn kinh doanh mà các DN bỏ ra trong một năm tạo ra cho DN 5,123 đồng lợi nhuận sau thuế. Như vậy khả năng sinh lời của các DN ngành khai khoáng Việt Nam ở mức trung bình thấp.
Ma trận tương quan và đa cộng tuyến
Bảng 4: Bảng ma trận hệ số tương quan giữa các biến
![]() |
Nguồn: tính toán của tác giả
Số liệu Bảng 4 cho thấy hệ số lớn nhất là 0,592 giữa biến SIZE và LEV. Các hệ số tương quan cặp đều nằm trong giới hạn cho phép và do vậy không có hiện tượng đa cộng tuyến. Tuy nhiên để khẳng định cho kết luận này tác giả đã thực hiện kiểm định đa cộng tuyến VIF. Bảng kết quả kiểm định đa cộng tuyến (Bảng 5) cho thấy hệ số VIF đều <5. Như vậy, có thể kết luận là không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập của mô hình.
Bảng 5: Bảng kết quả kiểm định đa cộng tuyến
![]() |
Nguồn: Tính toán của tác giả
Kết quả kiểm định của mô hình
Kết quả mô hình FEM cho thấy đó biến quản trị OWN_CONC có mức ý nghĩa thống kê 5% tới HQKD trong khi WOM, DUAL và BOD_NON_EXEC có tác động đến tỷ suất sinh lời tổng tài sản ở mức ý nghĩa 10%. Các biến kiểm soát đều có ý nghĩa 1% và 5%.
Bảng 6: Kết quả hồi quy FEM và REM của mô hình
![]() |
Hồi quy REM chỉ ra có sáu biến giúp giải thích biến phụ thuộc trong đó OWN-CONC, OWN-FOR, BOD_SIZE có tác động cùng chiều tức là nếu mức độ kiêm nhiệm, sở hữu tập trung, sở hữu khối ngoại tăng và quy mô HĐQT tăng lên thì HQKD của các DN ngành khai khoáng sẽ tốt hơn. Ngược lại sự đa dạng giới tính của HĐQT có mối quan hệ nghịch chiều với mức ý nghĩa 10%. Hệ số hồi quy giữa biến ROA và các biến kiểm soát như LEV, SIZE và có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa lần lượt là 1%, và 5%.
Để kiểm tra tính hiệu quả của 2 mô hình hồi quy FEM và REM, thông thường kiểm định Hausman truyền thống sẽ được sử dụng. Tuy nhiên, kiểm định Hausman truyền thống đòi hỏi một giả định rất khắt khe là sai số của mô hình phải đồng đều và không có tự tương quan chuỗi. Nhằm đảm bảo kết quả lựa chọn mô hình đạt độ tin cậy cao nhất và vững chắc ngay cả khi dữ liệu bảng có khả năng vi phạm các giả định này, nghiên cứu áp dụng kiểm định mở rộng Sargan-Hansen với giả thiết H0: Hệ số ước lượng của mô hình FEM và REM không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê; Giả thiết H1: Hệ số ước lượng của mô hình FEM và REM có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Kết quả kiểm định Sargan-Hansen cho mô hình cho thấy, Prob>chi2 = 0,000 < 0,05 suy ra bác bỏ giả thiết H0, tức là mô hình FEM hiệu quả. Tuy nhiên để khẳng định cho việc lựa chọn FEM, tác giả dùng kiểm định Wooldridge kiểm định hiện tượng tự tương quan. Kết quả cho thấy P-value<0,05 và kết luận bác bỏ H0 tức là tồn tại khuyết tật tự tương quan. Để kiểm định phương sai sai số thay đổi đối với mô hình FEM, tác giả sử dụng kiểm định Wald và kết quả kiểm định cho thấy P –value <0.05. Điều này nghĩa là mô hình FEM có phương sai sai số thay đổi rất nghiêm trọng (Bảng 7).
Bảng 7: Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình FEM
![]() |
Nguồn: Tính toán của tác giả
Để khắc phục khuyết tật phương sai sai số thay đổi và khuyết tật tự tương quan nêu trên của mô hình FEM, tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy FEM Robust do đặc điểm số công ty trong mẫu nghiên cứu lớn hơn số năm nghiên cứu.
Bảng 9: Kết quả hồi quy FEM Robust
![]() |
Nguồn: Tính toán của tác giả
Bảng 9 cho thấy tác động của biến độc lập OWN-CONC là phù hợp với giả thuyết nghiên cứu đã xây dựng và có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lời ROA. Bên cạnh đó ảnh hưởng của biến kiểm soát LEV và SIZE đến biến phụ thuộc là ngược chiều nhau với mức ý nghĩa thống kê 5%. Kết quả hồi quy của mô hình FEM Robust còn cho thấy sự ảnh hưởng của mức độ kiêm nhiệm (DUAL) và WOM đến biến phụ thuộc với mức ý nghĩa 10%. Với tỷ lệ nữ tham gia trong HĐQT trung bình của mẫu nghiên cứu là 9,9% cho thấy việc bổ nhiệm thành viên nữ trong HĐQT trong các DN ngành khai khoáng mới chỉ mang tính biểu tượng và điều đó khiến cho biến WOM có tác động tiêu cực đến HQKD. Mức độ kiêm nhiệm có ảnh hưởng tích cực dến HQKD của các DN ngành khai khoáng và kết quả này phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm của Brickley, Coles, & Jarrell (1997), Hillman và cộng sự (2000). Bên cạnh đó, lý thuyết quản trị (Stewardship Theory) của Donaldson & Davis (1991) cho rằng giám đốc sẽ đóng vai trò là nhà quản lý công ty và đặt lợi ích công ty lên trên lợi ích của bản thân. Mặc dù ảnh hưởng của biến DUAL chưa phù hợp với giả thuyết nghiên cứu tuy nhiên vẫn phù hợp với lý thuyết quản trị cũng như đồng nhất với các kết luận của một số nghiên cứu thực nghiệm khác nên cần được tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy QTCT có ảnh hưởng đến HQKD của các DN ngành khai khoáng Việt Nam do vậy tác giả đề xuất cải thiện các yếu tố tiêu cực và đẩy mạnh các yếu tố tích cực thông qua việc lựa chọn mô hình quản trị phù hợp như sau:
Thứ nhất, sở hữu cổ phần của cổ đông lớn có tác động cùng chiều với tỷ suất sinh lời tài sản. Cổ đông lớn nắm giữ tỷ lệ cổ phần cao sẽ xu hướng đồng hành lâu dài với DN nên có động lực mạnh mẽ hơn để giám sát chặt chẽ ban điều hành, giảm thiểu chi phí đại diện và tránh lãng phí tài sản của DN. Sự có mặt của cổ đông lớn còn hỗ trợ, tư vấn hoàn thành hệ thống thể chế nội bộ đồng thời bổ sung các thiếu hụt về khoa học, công nghệ, quản lý bởi bản thân cổ đông lớn thường có kinh nghiệm và trình độ. Để tăng cường hiệu quả hoạt động các công ty ngành khai khoáng nên gia tăng và đa dạng hóa cổ đông lớn ở mức độ hợp lý, tránh tình trạng sở hữu quá phân tán làm lu mờ trách nhiệm giám sát.
Thứ hai, mặc dù kết quả thực nghiệm cho thấy việc đa dạng hóa giới tính trong HĐQT có làm giảm HQKD tuy nhiên điều này không hàm ý DN ngành khai khoáng nên cắt giảm thành viên nữ. Ngược lại, với tỷ lệ nữ trung bình trong mẫu chỉ đạt 10% tức là tỷ lệ tham gia chỉ đang ở trạng thái biểu tượng, hình thức nên DN cần có lộ trình tăng tỷ lệ nữ vượt ngưỡng 30% để đạt mức độ tới hạn qua đó giúp nâng cao tính độc lập cũng như phát huy tư duy phản biện độc lập của nữ giới. Đồng thời, DN cần chuẩn hóa quy trình tuyển chọn thành viên dựa trên năng lực thực quyền, xây dựng văn hóa hội đồng hòa nhập để giảm thiểu chi phí xung đột và phát huy tối đa lợi ích của sự đa dạng hóa giới tính của HĐQT.
Lời cảm ơn: Bài báo này là một phần trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở mã T25-24 của chủ nhiệm đề tài Nguyễn Thị Kim Oanh. Tác giả chân thành cảm ơn trường Đại học Mỏ - Địa chất đã hỗ trợ tài chính để thực hiện công trình này.
Tài liệu tham khảo:
1. Brickley, J. A., Coles, J. L., & Jarrell, G. (1997). Leadership structure: Separating the CEO and Chairman of the Board. Journal of Corporate Finance, 3(3), 189-211.
2. Chaganti, R., Mahajan, V., & Sharma, S. (1985). Corporate board size, composition and corporate failures in retailing industry. Journal of Management Studies, 22(4), 400-417.
3. Coles, J. L., Daniel, N. D., & Naveen, L. (2008). Boards: Does one size fit all? Journal of Financial Economics, 87(2), 329-356.
4. Goodstein, J., Gautam, K., & Boeker, W. (1994). The effects of board size and diversity on strategic change. Strategic Management Journal, 15(3), 241-250.
5. Haniffa, R., & Hudaib, M. (2006). Corporate governance structure and performance of Malaysian listed companies. Journal of Business Finance & Accounting, 33(7‐8), 1034-1062.
6. Hillman, A. J., Cannella, A. A., & Paetzold, R. L. (2000). The resource dependence role of corporate directors: Strategic adaptation of board composition in response to environmental change. Journal of Management Studies, 37(2), 235-256.
7. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305-360.
8. Jermias, J., & Gani, L. (2014). The impact of board capital and board characteristics on firm performance. The British Accounting Review, 46(2), 135-153.
9. Joecks, J., Pull, K., & Vetter, K. (2013). Gender diversity in the boardroom and firm performance: What shape does the relationship take?. Journal of Business Ethics, 118(1), 11–23. doi.org
10. Nguyen, T. T. H., & Nguyen, T. T. M. (2020). Ownership structure and firm performance: Empirical evidence from listed firms in Vietnam. Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7(10), 289-298.
11. Pearce, J. A., & Zahra, S. A. (1991). The relative power of CEOs and boards of directors: Associations with corporate performance. Strategic Management Journal, 12(2), 135-153.
12. Pfeffer, J., & Salancik, G. R. (1978). The external control of organizations: A resource dependence perspective. Harper & Row.
13. Prowse, S. (1998). Corporate governance: Emerging issues and lessons from East Asia. A Resumed Session of the World Bank Conference on Development Economics, 1-38.
14. Shleifer, A., & Vishny, R. W. (1997). A survey of corporate governance. The Journal of Finance, 52(2), 737-783.
15. Sun, Q., Tong, W. H., & Tong, J. (2002). How does government ownership affect firm performance? Evidence from China's privatized firms. Journal of Business Research, 55(6), 487-502.
16. Terjesen, S., Sealy, R., & Singh, V. (2009). Women directors on corporate boards: A review and research agenda. Corporate Governance: An International Review, 17(3), 320–337. doi.org
17. Turki, A., & Shadrin, A. (2012). Corporate governance and firm performance. International Journal of Business and Social Science, 3(24), 112-121.
18. Waelchli, U., & Zeller, J. (2013). Old man's board: Does board age affect firm performance?. Journal of Banking & Finance, 37(9), 3409–3421. doi.org.
| Ngày nhận bài: 3/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/8/2026; Ngày duyệt đăng: 28/8/2026 |
Các tin khác
Trách nhiệm xã hội môi trường, chiến lược logistics xanh và kết quả hoạt động kinh doanh: Tổng quan tài liệu có hệ thống theo khung ADO
Mối liên kết rủi ro lan truyền biến động và tương quan động giữa giá cà phê Robusta, Arabica và VN-index: Bằng chứng từ mô hình M-garch
Chuyển đổi kép trong các nhà máy sản xuất Việt Nam: Ứng dụng tự động hóa và số hóa hướng tới mục tiêu Net Zero
Liên kết doanh nghiệp du lịch Phú Thọ qua phân tích mạng lưới xã hội
Đánh giá mức độ ưu tiên của các yếu tố chuỗi cung ứng trong ngành chế biến thủy sản Việt Nam
Tác động của giá trị cảm nhận, niềm tin, thái độ, ảnh hưởng xã hội và rủi ro cảm nhận đến ý định mua hàng
Quản trị chuyển đổi số tại các ngân hàng thương mại trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử







