Liên kết doanh nghiệp du lịch Phú Thọ qua phân tích mạng lưới xã hội

Nghiên cứu - Trao đổi 16:30 | 28/08/2026
Liên kết giữa doanh nghiệp là điều kiện cần để hình thành chuỗi giá trị du lịch địa phương.

Phan Thị Hồng Giang

Trường Đại học Hùng Vương; NCS Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Email: Caybutvedem@gmail.com

Tóm tắt

Bài viết phân tích mạng lưới liên kết của doanh nghiệp du lịch tỉnh Phú Thọ bằng phương pháp phân tích mạng lưới xã hội. Dữ liệu được thu thập từ 385 doanh nghiệp và hộ kinh doanh du lịch, sau đó xử lý qua các chỉ số mật độ, mức độ trung tâm, trung tâm cận kề, trung tâm giữa và lỗ hổng cấu trúc bằng UCINET 6.0. Kết quả cho thấy mạng lưới còn thưa, nhiều doanh nghiệp nằm ở vị trí ngoại vi, trong khi doanh nghiệp lữ hành giữ vai trò trung gian nổi bật. Cấu trúc này giúp tổ chức tour thuận lợi trong ngắn hạn nhưng cũng làm mạng lưới dễ phụ thuộc vào một số ít đầu mối. Bài viết đề xuất tăng cường cơ chế điều phối, phát triển liên kết ngang, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và xây dựng cơ sở dữ liệu liên kết du lịch cấp tỉnh.

Từ khóa: Doanh nghiệp du lịch, liên kết du lịch, mạng lưới xã hội, Phú Thọ, SNA

Abstract

The article analyzes the network of linkages among tourism businesses in Phu Tho Province using Social Network Analysis (SNA). Data were collected from 385 tourism businesses and tourism household businesses and analyzed using measures of network density, degree centrality, closeness centrality, betweenness centrality, and structural holes in UCINET 6.0. The results show that the network is still relatively sparse, with many businesses occupying peripheral positions, while travel businesses play a prominent intermediary role. This structure facilitates tour organization in the short term but also makes the network more dependent on a small number of key intermediaries. The article proposes strengthening coordination mechanisms, developing horizontal linkages, supporting small businesses, and building a provincial database of tourism business linkages.

Keywords: Tourism enterprises, tourism linkages, social network analysis, Phu Tho Province, SNA

GIỚI THIỆU

Liên kết giữa doanh nghiệp là điều kiện cần để hình thành chuỗi giá trị du lịch địa phương. Khi các doanh nghiệp lữ hành, lưu trú, vận chuyển, ăn uống và dịch vụ bổ trợ kết nối thường xuyên, điểm đến có khả năng tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh hơn, giảm chi phí phối hợp và nâng cao năng lực cạnh tranh (Baggio và cộng sự, 2010). Ngược lại, mạng lưới liên kết yếu làm cho doanh nghiệp nhỏ khó tham gia chuỗi giá trị và hạn chế tác động lan tỏa của du lịch đối với phát triển địa phương (Adiyia và Vanneste (2018).

Phú Thọ có lợi thế về tài nguyên văn hóa, lịch sử và sinh thái, đặc biệt là các di sản gắn với thời đại Hùng Vương. Tuy nhiên, báo cáo ngành du lịch địa phương cho thấy kết nối giữa các doanh nghiệp trong khai thác sản phẩm, chia sẻ thị trường và phối hợp xúc tiến vẫn chưa thật chặt chẽ (Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2025). Một số nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng, liên kết du lịch ở các địa phương còn chịu ảnh hưởng bởi quy mô doanh nghiệp nhỏ, thiếu cơ chế điều phối và thiếu dữ liệu dùng chung (Nguyễn Văn Hậu, 2024).

Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này phân tích cấu trúc mạng lưới liên kết của doanh nghiệp du lịch tỉnh Phú Thọ bằng phương pháp Phân tích mạng lưới xã hội (SNA). Điểm mới của bài viết là chuyển vấn đề liên kết từ mô tả định tính sang hệ thống chỉ số có thể quan sát, qua đó xác định vị trí của từng nhóm doanh nghiệp, nhận diện điểm nghẽn điều phối và đề xuất giải pháp phù hợp với bối cảnh địa phương.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Trong nghiên cứu du lịch hiện đại, điểm đến được tiếp cận như một hệ thống mạng lưới gồm nhiều chủ thể có mối quan hệ tương tác và phụ thuộc lẫn nhau (Timur và Getz, 2008). Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng sự phát triển của điểm đến không chỉ phụ thuộc vào năng lực của từng doanh nghiệp mà còn vào mức độ hợp tác giữa các tác nhân trong hệ sinh thái du lịch. Theo Dredge (2006), lý thuyết mạng lưới giúp giải thích cách các tổ chức thuộc khu vực công và tư hình thành quan hệ hợp tác để tạo ra hành động tập thể trong phát triển du lịch.

Phân tích mạng lưới xã hội được sử dụng như công cụ để nghiên cứu cấu trúc liên kết giữa các chủ thể trong du lịch. Mạng lưới xã hội bao gồm các nút đại diện cho tác nhân và các mối liên kết phản ánh quan hệ giữa các tác nhân đó (Borgatti và cộng sự, 2018). Trong phân tích mạng lưới, mật độ phản ánh mức độ gắn kết tổng thể; tính trung tâm cho biết vai trò tương đối của từng chủ thể trong tiếp cận thông tin và điều phối quan hệ; lỗ hổng cấu trúc cho thấy khả năng môi giới giữa các cụm liên kết khác nhau (Lê Minh Tiến, 2006).

Khung phân tích của nghiên cứu gồm 3 nhóm nội dung: cấu trúc tổng thể của mạng lưới, vị trí trung tâm của các nhóm doanh nghiệp và lỗ hổng cấu trúc. Các chỉ số này được diễn giải trong tương quan với đặc điểm ngành du lịch Phú Thọ nhằm tránh tách rời chỉ số kỹ thuật khỏi bối cảnh chính sách địa phương.

Trong trường hợp Phú Thọ, cách tiếp cận mạng lưới giúp nhìn rõ hơn điều mà các báo cáo thường mô tả bằng khái niệm “liên kết”. Vấn đề không chỉ là doanh nghiệp có hợp tác hay không, mà là quan hệ đó diễn ra với tần suất nào, qua những đầu mối nào và có đủ sức lan tỏa sang các nhóm dịch vụ khác hay không. Vì vậy, các chỉ số của SNA được sử dụng để nhận diện vị trí thực của từng nhóm doanh nghiệp trong hệ sinh thái du lịch địa phương.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích mạng lưới xã hội kết hợp kỹ thuật chọn mẫu liên hoàn. Dữ liệu được thu thập từ 385 doanh nghiệp và hộ kinh doanh du lịch tại tỉnh Phú Thọ, bao gồm doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, cơ sở ăn uống, doanh nghiệp vận chuyển và dịch vụ bổ sung. Các mối liên kết được đo theo 5 cấp độ từ “0 - không có liên kết” đến “4 - liên kết, hợp tác toàn diện”. Dữ liệu được mã hóa thành ma trận và xử lý bằng UCINET 6.0 để tính toán mật độ mạng, khoảng cách, hệ số trung tâm cấp bậc, trung tâm cận kề, trung tâm giữa và lỗ hổng cấu trúc (Borgatti và cộng sự, 2018).

Kỹ thuật chọn mẫu liên hoàn phù hợp với nghiên cứu mạng lưới vì quan hệ giữa các doanh nghiệp thường hình thành thông qua giới thiệu, hợp tác trước đó hoặc sự phụ thuộc trong chuỗi cung ứng. Trong quá trình xử lý, thông tin về quan hệ hợp tác được đối chiếu theo loại hình kinh doanh và tần suất liên hệ nhằm hạn chế việc chỉ ghi nhận các quan hệ quen biết bề mặt. Nghiên cứu này sử dụng cách viết số thập phân theo chuẩn quốc tế.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu

Trong tổng số 385 đơn vị khảo sát, cơ sở lưu trú chiếm tỷ trọng lớn nhất với 139 đơn vị; nhóm đơn vị khác như tổ chức sự kiện, cơ sở cung cấp đặc sản địa phương và dịch vụ bổ sung có 79 đơn vị; cơ sở ăn uống có 77 đơn vị; doanh nghiệp lữ hành có 47 đơn vị; và doanh nghiệp/hộ kinh doanh vận chuyển có 43 đơn vị. Cơ cấu mẫu cho thấy mạng lưới du lịch Phú Thọ chủ yếu được hình thành từ doanh nghiệp dịch vụ nhỏ và vừa.

Bảng 1: Các chỉ số đo lường cấu trúc tổng thể của mạng lưới doanh nghiệp du lịch tỉnh Phú Thọ

Nhóm chỉ số

Chỉ số đo lường

Giá trị

Quy mô mạng

Tổng số tác nhân trong mạng lưới (nodes)

385

Quy mô mạng

Số tác nhân không có liên kết (isolates)

175

Quy mô mạng

Tổng số liên kết (ties)

478

Cường độ liên kết

Số liên kết bình quân (Avg Degree)

1.242

Cường độ liên kết

Mật độ (Density)

0.003

Khoảng cách

Khoảng cách trung bình (Avg Distance)

3.483

Khoảng cách

Độ lệch chuẩn khoảng cách (SD Distance)

1.393

Khoảng cách

Diameter

10

Cấu trúc quyền lực

Centralization

0.075

Cấu trúc quyền lực

H-index

11

Phân mảnh và liên thông

Components

344

Phân mảnh và liên thông

Component Ratio

0.893

Phân mảnh và liên thông

Connectedness

0.052

Phân mảnh và liên thông

Fragmentation

0.948

Khép kín và bao phủ

Closure

0.115

Khép kín và bao phủ

Breadth

0.982

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả, 2026

Kết quả phân tích tại Bảng 1 cho thấy, mạng lưới có 385 tác nhân nhưng mức độ liên kết rất thấp. Có tới 175 doanh nghiệp không tham gia bất kỳ mối liên kết nào. Tổng số liên kết thực tế chỉ đạt 478, số liên kết bình quân trên mỗi doanh nghiệp là 1.242 và mật độ mạng đạt 0.003. Mạng lưới bị chia thành 344 thành phần liên thông nhỏ, chỉ số phân mảnh đạt 0.948, còn mức độ liên thông chỉ đạt 0.052. Các chỉ số này cho thấy, mạng lưới tồn tại chủ yếu dưới dạng các cụm nhỏ, rời rạc và thiếu trung tâm điều phối mạnh.

Tình trạng phân mảnh cao phản ánh thực tế nhiều doanh nghiệp chỉ liên hệ với một số đối tác quen thuộc, thiếu liên kết ngang với doanh nghiệp cùng loại hình và thiếu liên kết chéo với các nhóm dịch vụ bổ trợ. Điều này làm giảm khả năng hình thành sản phẩm du lịch tổng hợp, đồng thời khiến doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận dòng khách và thông tin thị trường. Khi mạng lưới thiếu cơ chế lan tỏa, lợi thế tài nguyên của điểm đến khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh chung.

Hình: Sơ đồ cấu trúc mạng lưới liên kết doanh nghiệp du lịch tỉnh Phú Thọ

Liên kết doanh nghiệp du lịch Phú Thọ qua phân tích mạng lưới xã hội

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả, 2026

Quan sát sơ đồ mạng lưới tại Hình cho thấy, nhóm doanh nghiệp lữ hành tập trung gần lõi mạng và có số lượng liên kết lớn hơn so với các nhóm khác. Các cơ sở lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ trợ chủ yếu phân bố ở vùng ngoại vi. Điều này phản ánh mô hình liên kết dọc, phụ thuộc vào doanh nghiệp lữ hành trong tổ chức tour và điều phối dòng khách.

Cấu trúc liên kết dọc có thể phù hợp với việc tổ chức tour theo từng tuyến, nhưng không đủ để tạo hệ sinh thái liên kết bền vững. Nếu cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển và dịch vụ bổ trợ không có quan hệ ngang hoặc quan hệ chéo, khả năng phối hợp chất lượng dịch vụ sẽ bị hạn chế. Do đó, nhóm lữ hành tuy là trung tâm điều phối hiện tại, nhưng mạng lưới cần thêm các đầu mối trung gian khác để giảm rủi ro phụ thuộc.

Bảng 2: Các chỉ số đo lường tính trung tâm của mạng lưới liên kết doanh nghiệp du lịch tỉnh Phú Thọ

Nhóm

Liên kết đi ra

Liên kết đi vào

Chênh lệch vào - ra

Cận kề đi ra

Cận kề đi vào

Trung gian khoảng cách

Trung gian thuộc tính

Doanh nghiệp lữ hành

7.170

8.936

1.766

0.099

0.108

141.046

268.338

Cơ sở lưu trú

0.899

1.633

0.734

0.093

0.093

8.932

18.257

Cơ sở ăn uống

1.844

0.052

-1.792

0.094

0.091

0.000

0.000

Doanh nghiệp/hộ vận chuyển

2.860

1.767

-1.093

0.096

0.095

20.319

46.988

Đơn vị khác

1.595

1.595

0.000

0.095

0.095

10.547

23.023

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu của tác giả, 2026

Về độ trung tâm cấp bậc, doanh nghiệp lữ hành là nhóm có vị trí nổi bật nhất với OutDegree = 7.170 và InDegree = 8.936, phản ánh vai trò đầu mối trong kết nối các dịch vụ du lịch. Nhóm cơ sở lưu trú có độ trung tâm thấp hơn, chủ yếu tham gia với vai trò cung ứng dịch vụ. Nhóm cơ sở ăn uống có mức mất cân đối lớn giữa liên kết đi ra và liên kết đi vào, cho thấy họ chủ động tìm kiếm hợp tác nhưng ít được lựa chọn như đối tác trung tâm.

Về trung tâm cận kề và trung tâm giữa, doanh nghiệp lữ hành tiếp tục giữ vị trí gần trung tâm nhất và đóng vai trò trung gian gần như độc tôn. Distance-weighted Betweenness của nhóm này đạt 141.046 và Attribute-weighted Betweenness đạt 268.338; trong khi nhóm cơ sở ăn uống có hệ số betweenness bằng 0. Điều này cho thấy, mạng lưới phụ thuộc mạnh vào một số ít doanh nghiệp lữ hành trong duy trì kết nối giữa các nhóm dịch vụ.

Kết quả về tính trung tâm tại Bảng 2 cho thấy, mạng lưới đang có xu hướng nghẽn tại một số điểm trung gian. Khi doanh nghiệp lữ hành giữ quá nhiều vai trò kết nối, các nhóm doanh nghiệp còn lại ít có cơ hội phát triển năng lực hợp tác độc lập. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng chia sẻ thông tin mà còn làm giảm sức chống chịu của mạng lưới khi thị trường thay đổi, chẳng hạn khi dòng khách chuyển hướng hoặc khi một số doanh nghiệp đầu mối gặp khó khăn.

Phân tích lỗ hổng cấu trúc cho thấy, năng lực môi giới của doanh nghiệp du lịch còn hạn chế. Doanh nghiệp lữ hành có Effective size cao nhất (7.957), song Constraint vẫn ở mức cao (0.938), phản ánh mạng lưới khép kín và phụ thuộc vào đối tác quen thuộc. Các nhóm lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ trợ có Effective size thấp và Constraint rất cao, cho thấy khả năng khai thác lỗ hổng cấu trúc để mở rộng liên kết còn yếu.

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mạng lưới doanh nghiệp du lịch Phú Thọ có ưu điểm là doanh nghiệp lữ hành giữ vai trò đầu mối giúp tổ chức tour thuận lợi trong ngắn hạn. Tuy nhiên, cấu trúc quá phụ thuộc vào một số tác nhân trung tâm làm giảm khả năng chống chịu của mạng lưới trước biến động thị trường. Khi nhiều doanh nghiệp nằm ở ngoại vi hoặc không có liên kết, dòng thông tin, khách hàng và cơ hội hợp tác khó lan tỏa đến toàn bộ hệ sinh thái du lịch địa phương.

Từ góc độ chính sách, lỗ hổng cấu trúc vừa là hạn chế vừa là cơ hội. Khi nhiều cụm doanh nghiệp chưa được kết nối, địa phương có thể thiết kế các chương trình xúc tiến, diễn đàn gặp gỡ, cơ sở dữ liệu dùng chung và sản phẩm liên kết để tạo vai trò môi giới mới cho hiệp hội du lịch, cơ sở đào tạo, trung tâm xúc tiến và doanh nghiệp đầu tàu.

Điều quan trọng là chính sách liên kết phải gắn với lợi ích cụ thể của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không nhìn thấy lợi ích về dòng khách, doanh thu, dữ liệu thị trường hoặc giảm chi phí tìm kiếm đối tác, các chương trình liên kết sẽ khó duy trì lâu dài. Vì vậy, bên cạnh vai trò điều phối của Nhà nước, cần thiết kế các sản phẩm chung, chương trình truyền thông chung và cơ chế chia sẻ lợi ích đủ minh bạch để khuyến khích doanh nghiệp tham gia thường xuyên.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Bài viết vận dụng SNA để làm rõ cấu trúc và mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch tỉnh Phú Thọ. Các chỉ số phân tích cho thấy, mạng lưới đang ở trạng thái thưa, nhiều doanh nghiệp chưa tham gia liên kết thường xuyên, trong khi nhóm lữ hành giữ vai trò trung tâm trong dòng kết nối. Cấu trúc này có thể hỗ trợ tổ chức tour trước mắt, nhưng chưa đủ để tạo một hệ sinh thái du lịch có khả năng tự điều chỉnh và chống chịu trước biến động thị trường.

Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế điều phối mạng lưới liên kết doanh nghiệp du lịch thông qua hiệp hội du lịch hoặc ban điều phối liên kết cấp tỉnh. Cơ chế này không làm thay vai trò thị trường của doanh nghiệp mà tạo nền tảng kết nối thông tin, chuẩn hóa quy trình hợp tác và hỗ trợ giải quyết xung đột lợi ích.

Thứ hai, cần tăng cường liên kết ngang giữa các doanh nghiệp cùng loại hình, đặc biệt trong lĩnh vực lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ trợ. Các cụm hợp tác theo địa bàn hoặc theo sản phẩm có thể giúp doanh nghiệp nhỏ chia sẻ thông tin khách hàng, phối hợp chất lượng dịch vụ và cùng tham gia quảng bá điểm đến.

Thứ ba, cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh nâng cao năng lực tham gia mạng lưới thông qua đào tạo kỹ năng liên kết, chuyển đổi số, xây dựng sản phẩm và quản trị chất lượng. Đồng thời, cần phát huy vai trò môi giới của hiệp hội du lịch, cơ sở đào tạo, tổ chức xúc tiến và cơ quan quản lý nhà nước trong kết nối doanh nghiệp theo chuỗi sản phẩm.

Thứ tư, cần hình thành cơ sở dữ liệu liên kết du lịch cấp tỉnh, cập nhật thông tin doanh nghiệp, sản phẩm, năng lực phục vụ, nhu cầu hợp tác và lịch sự kiện. Khi thông tin minh bạch, chi phí tìm kiếm đối tác giảm xuống và khả năng hình thành liên kết mới sẽ tăng lên. Giới hạn của nghiên cứu là dữ liệu mới phản ánh mạng lưới tại một thời điểm; các nghiên cứu tiếp theo có thể phân tích mạng lưới theo thời gian hoặc so sánh với các địa phương có điều kiện tương đồng.

Về điều kiện thực thi, các chính sách liên kết cần tránh cách làm phong trào, chỉ dừng ở hội nghị hoặc ký kết ngắn hạn. Cần có đầu mối theo dõi dữ liệu, cập nhật nhu cầu hợp tác của doanh nghiệp, công khai sản phẩm có khả năng ghép nối và định kỳ đánh giá hiệu quả liên kết bằng các chỉ số cụ thể. Khi dữ liệu liên kết được duy trì thường xuyên, cơ quan quản lý có thể nhận diện sớm nhóm doanh nghiệp đang bị tách rời khỏi mạng lưới, từ đó thiết kế hỗ trợ phù hợp hơn.

Tài liệu tham khảo:

Adiyia, B., & Vanneste, D. (2018). Local tourism value chain linkages as pro-poor tools for regional development in western Uganda. Development Southern Africa, 35(2). https://doi.org/10.1080/0376835X.2018.1428529

Baggio, R., Scott, N., & Cooper, C. (2010). Network science: A review focused on tourism. Annals of Tourism Research, 37(3), 802-827. https://doi.org/10.1016/j.annals.2010.02.008

Borgatti, S. P., Everett, M. G., & Johnson, J. C. (2018). Analyzing social networks (2nd ed.). SAGE.

Dredge, D. (2006). Networks, conflict and collaborative communities. Journal of Sustainable Tourism, 14(6). https://doi.org/10.2167/jost567.0

Lê Minh Tiến. (2006). Tổng quan phương pháp phân tích mạng lưới xã hội trong nghiên cứu xã hội. Tạp chí Khoa học Xã hội, 9, 66-77.

Nguyễn Văn Hậu. (2024). Phân tích mạng lưới liên kết du lịch tại các tỉnh Nam Đồng bằng sông Hồng. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 234, 48-57.

Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ. (2025). Báo cáo Kết quả triển khai chương trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng và Thành phố Hồ Chí Minh 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2025.

Timur, S., & Getz, D. (2008). A network perspective on managing stakeholders for sustainable urban tourism. International Journal of Contemporary Hospitality Management, 20(4), 445-461. https://doi.org/10.1108/09596110810873543

Ngày nhận bài: 16/7/2026; Ngày phản biện: 18/8/2026; Ngày duyệt đăng: 28/8/2026

Các tin khác

Trách nhiệm xã hội môi trường, chiến lược logistics xanh và kết quả hoạt động kinh doanh: Tổng quan tài liệu có hệ thống theo khung ADO

Trách nhiệm xã hội môi trường, chiến lược logistics xanh và kết quả hoạt động kinh doanh: Tổng quan tài liệu có hệ thống theo khung ADO

Phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và quản trị Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) ngày càng trở thành định hướng quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Trước áp lực giảm phát thải khí nhà kính, yêu cầu công bố thông tin môi trường và tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp không chỉ được đánh giá qua kết quả tài chính mà còn qua trách nhiệm đối với môi trường và xã hội.
Mối liên kết rủi ro lan truyền biến động và tương quan động giữa giá cà phê Robusta, Arabica và VN-index: Bằng chứng từ mô hình M-garch

Mối liên kết rủi ro lan truyền biến động và tương quan động giữa giá cà phê Robusta, Arabica và VN-index: Bằng chứng từ mô hình M-garch

Quá trình tài chính hóa hàng hóa trong những thập niên gần đây đã làm gia tăng mức độ liên kết giữa thị trường hàng hóa và thị trường tài chính. Sự tham gia ngày càng lớn của các nhà đầu tư tài chính vào thị trường hàng hóa không chỉ ảnh hưởng đến quá trình hình thành giá mà còn có thể làm thay đổi cấu trúc tương quan giữa lợi suất hàng hóa và tài sản tài chính.
Chuyển đổi kép trong các nhà máy sản xuất Việt Nam: Ứng dụng tự động hóa và số hóa hướng tới mục tiêu Net Zero

Chuyển đổi kép trong các nhà máy sản xuất Việt Nam: Ứng dụng tự động hóa và số hóa hướng tới mục tiêu Net Zero

Chuyển đổi kép đang trở thành hướng tiếp cận quan trọng giúp nhà máy sản xuất tại Việt Nam tối ưu tài nguyên, năng lượng và minh bạch hóa phát thải hướng tới Net Zero. Nghiên cứu tập trung phân tích mô hình chuyển đổi kép dựa trên hệ thống tự động hóa hiện đại, qua đó đề xuất lộ trình triển khai phù hợp cho doanh nghiệp sản xuất.
Đánh giá mức độ ưu tiên của các yếu tố chuỗi cung ứng trong ngành chế biến thủy sản Việt Nam

Đánh giá mức độ ưu tiên của các yếu tố chuỗi cung ứng trong ngành chế biến thủy sản Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, ngành chế biến thủy sản Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong xuất khẩu, tạo việc làm, phát triển vùng nguyên liệu và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, cùng với cơ hội mở rộng thị trường, các doanh nghiệp trong ngành phải đối mặt với yêu cầu ngày càng cao.
Tác động của giá trị cảm nhận, niềm tin, thái độ, ảnh hưởng xã hội và rủi ro   cảm nhận đến ý định mua hàng

Tác động của giá trị cảm nhận, niềm tin, thái độ, ảnh hưởng xã hội và rủi ro cảm nhận đến ý định mua hàng

Ý định mua hàng là chủ đề trung tâm trong nghiên cứu hành vi người tiêu dùng vì phản ánh mức độ sẵn sàng của khách hàng đối với việc thực hiện giao dịch trong tương lai
Quản trị chuyển đổi số tại các ngân hàng thương mại trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Quản trị chuyển đổi số tại các ngân hàng thương mại trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới, cùng với sự nổi lên của Fintech, BigTech và các ngân hàng số thuần túy, đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc cạnh tranh của ngành tài chính ngân hàng
Ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành khai khoáng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành khai khoáng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Quản trị công ty là một loạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan tạo nên một khung hướng dẫn quản lý và kiểm soát tốt, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả từ đó gia tăng giá trị của doanh nghiệp.
Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng chuyển hóa doanh thu thành dòng tiền của doanh nghiệp xây dựng. Trong bối cảnh rủi ro khoản phải thu gia tăng, nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến DSO của doanh nghiệp kỹ thuật xây dựng niêm yết tại Việt Nam, qua đó hỗ trợ kiểm soát dòng tiền và giảm áp lực tài trợ vốn lưu động.
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Các nghiên cứu marketing trực tuyến gần đây chỉ ra rằng chất lượng của các dịch vụ bán hàng phát trực tiếp (livestream) trên các nền tảng thương mại điện tử có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng của một bộ phận lớn khách hàng trực tuyến. Hành vi mua hàng này được thúc đẩy bởi một loạt các cơ chế phát trực tiếp chất lượng cao được tạo ra bởi các công ty bán hàng trực tuyến trên các nền tảng thương mại điện tử hiện nay.
Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Việc thấu hiểu nhu cầu và đặc điểm của khách hàng là yếu tố quan trọng, giúp doanh nghiệp triển khai các chiến lược tiếp thị cá nhân hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ. Phân khúc khách hàng được xem là một trong những phương pháp phân tích thị trường quan trọng, cho phép phân chia tập khách hàng thành các nhóm có những đặc điểm và hành vi tương đồng.