Đổi mới công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trong bối cảnh chuyển đổi số: Thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên và hàm ý chính sách
Vũ Thị Lệ Quyên
Thuế tỉnh Thái Nguyên; Email: [email protected]
Nguyễn Việt Hoàng
Thuế tỉnh Thái Nguyên
Nguyễn Xuân Đài
Xã A Sào, tỉnh Hưng Yên
Tóm tắt
Việc chuyển từ phương pháp thuế khoán sang cơ chế tự khai, tự nộp đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là bước cải cách quan trọng nhằm hiện đại hóa công tác quản lý thuế và thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Hệ thống pháp luật mới đã tạo cơ sở để đổi mới phương thức quản lý theo hướng số hóa, quản lý dựa trên dữ liệu và nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành và thực tiễn triển khai tại tỉnh Thái Nguyên, bài viết đánh giá kết quả, chỉ ra những khó khăn, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý thuế theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả.
Từ khóa: Thuế, hộ kinh doanh, quản lý thuế, cá nhân kinh doanh, tuân thủ thuế, Luật Quản lý thuế
Abstract
The transition from the presumptive tax method to a self-declaration and self-payment mechanism for business households and individual businesses represents a significant reform aimed at modernizing tax administration and promoting the development of the private sector. The new legal framework provides a foundation for transforming tax administration toward digitalization, data-driven management, and enhanced taxpayer compliance. Based on an analysis of current regulations and implementation practices in Thai Nguyen Province, this paper evaluates the outcomes, identifies key challenges, and proposes solutions to improve the tax administration model toward greater modernization, transparency, and efficiency.
Keywords: Taxation, business households, tax administration, individual businesses, tax compliance, law on tax administration
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhằm tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Một trong những nội dung cải cách có ý nghĩa quan trọng là bãi bỏ phương pháp thuế khoán, chuyển sang cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Để triển khai chủ trương này, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật Quản lý thuế năm 2025, Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025, Nghị định số 68/2026/NĐ-CP về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh (HKD), cá nhân kinh doanh (CNKD) cùng các thông tư hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục quản lý thuế, kế toán HKD và quản lý tuân thủ. Hệ thống pháp luật mới đã tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc chuyển đổi phương thức quản lý thuế từ quản lý theo địa bàn và ngành nghề sang quản lý trên nền tảng số, gắn với hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử, sổ sách kế toán và phân tích dữ liệu.
Tuy nhiên, quá trình triển khai trên thực tế cũng đặt ra nhiều thách thức. Phần lớn HKD có quy mô nhỏ, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin chưa đồng đều, trong khi dữ liệu phục vụ quản lý vẫn còn phân tán, việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức tín dụng và nền tảng số chưa thực sự hoàn thiện. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, đặc biệt trong việc kiểm soát doanh thu, quản lý dòng tiền và đánh giá mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu thực tiễn triển khai tại các địa phương có kết quả nổi bật sẽ cung cấp cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả của chính sách và đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý thuế.
Tỉnh Thái Nguyên là một trong những địa phương triển khai sớm, đồng bộ các giải pháp chuyển đổi số trong quản lý thuế đối với HKD và đạt nhiều kết quả tích cực về kê khai thuế điện tử, sử dụng hóa đơn điện tử, quản lý dòng tiền và ứng dụng eTax Mobile. Những kết quả này không chỉ góp phần tăng cường tính tuân thủ của người nộp thuế, nâng cao hiệu quả thu ngân sách mà còn cung cấp những bài học thực tiễn có giá trị để nghiên cứu, nhân rộng trên phạm vi cả nước.
THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH, CÁ NHÂN KINH DOANH TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Việc ban hành đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách thuế và quản lý thuế đối với HKD, CNKD đã tạo bước chuyển căn bản trong phương thức quản lý thuế. Nếu trước đây, việc quản lý chủ yếu dựa trên phương pháp thuế khoán, xác định nghĩa vụ thuế theo tiêu chí cùng địa bàn, cùng ngành nghề và quy mô kinh doanh, thì từ ngày 1/1/2026, mô hình quản lý đã chuyển sang cơ chế hiện đại theo nguyên tắc người nộp thuế tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm (Nghị quyết số 198/2025/QH15, 2025).
Cùng với đó, chuyển đổi số được xác định là nền tảng của phương thức quản lý mới thông qua việc triển khai hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, thanh toán không dùng tiền mặt, ví điện tử, sổ sách kế toán điện tử và quản lý thuế trên cơ sở đánh giá rủi ro. Theo dữ liệu đăng ký thuế, cả nước hiện có 3.115.189 HKD, CNKD đang hoạt động; với khoảng hơn 55% hộ thực hiện nộp tờ khai thuế.
Trong bức tranh chung đó, tỉnh Thái Nguyên nổi lên là địa phương có kết quả triển khai cao với tỷ lệ HKD nộp tờ khai đạt 98% (cao nhất cả nước với gần 45 nghìn hộ kinh doanh). Kết quả này phản ánh hiệu quả của công tác tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế cũng như sự chủ động của cơ quan thuế trong tổ chức thực hiện chính sách mới.
Hiệu quả của mô hình quản lý mới cũng được thể hiện qua kết quả thu ngân sách. Trong 6 tháng đầu năm 2026, số thu từ HKD, CNKD đã nộp ngân sách nhà nước đạt 147,2 tỷ đồng, đạt 57% so với dự toán Cục Thuế giao (257 tỷ đồng), bằng 83% so với cùng kỳ năm 2025 (177,8 tỷ đồng). Số thu ngân sách nhà nước thấp hơn so với cùng kỳ là do có sự ảnh hưởng từ việc nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với hộ, cá nhân kinh doanh theo quy định chính sách thuế mới.
Một trong những nội dung được triển khai đồng bộ là chuẩn hóa thông tin tài khoản ngân hàng của HKD. Đến nay, 100% số hộ thuộc diện phải thực hiện đã hoàn thành việc thông báo tài khoản ngân hàng với cơ quan thuế (41.167 hộ). Đây là tiền đề quan trọng để cơ quan thuế từng bước quản lý dòng tiền, đối chiếu doanh thu và tăng cường kiểm soát nghĩa vụ thuế trên nền tảng số.
Cùng với đó, công tác quản lý dòng tiền và phân tích dữ liệu đã được đẩy mạnh. Qua rà soát hóa đơn đầu vào, cơ quan thuế đã xử lý 1.133 HKD, truy thu khoảng 10 tỷ đồng tiền thuế của các năm trước. Thông qua phân tích dòng tiền, 196 HKD có dấu hiệu rủi ro đã được kiểm tra, truy thu hơn 4,2 tỷ đồng tiền thuế. Ngoài ra, việc kiểm tra trực tiếp đối với 478 HKD đã truy thu 153 triệu đồng tiền thuế các năm trước. Những kết quả này cho thấy phương thức quản lý dựa trên dữ liệu và đánh giá rủi ro bước đầu đã phát huy hiệu quả trong việc phát hiện các trường hợp kê khai chưa đầy đủ, góp phần chống thất thu ngân sách.
Việc ứng dụng các nền tảng số trong quản lý thuế cũng đạt kết quả tích cực. Đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 98,2% HKD cài đặt và sử dụng ứng dụng eTax Mobile. Ứng dụng này giúp người nộp thuế thực hiện các thủ tục đăng ký, kê khai, nộp thuế và tra cứu thông tin trên môi trường điện tử, qua đó giảm chi phí tuân thủ và nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan thuế.
Đối với hóa đơn điện tử, tỷ lệ HKD đã sử dụng hóa đơn điện tử trên tổng số HKD đã đăng ký sử dụng là 99,7%. Đây là nền tảng quan trọng để cơ quan thuế kiểm soát doanh thu theo thời gian thực, tăng cường tính minh bạch trong giao dịch và tạo cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý rủi ro.
Đặc biệt, 100% HKD có doanh thu trên 1 tỷ đồng đã thực hiện kê khai thuế bằng phương thức điện tử. Đến ngày 30/7/2026, đã có 5.748 tờ khai 01/CNKD (dùng cho hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh) trong quý II/2026 với doanh thu kê khai là 3.138 tỷ đồng, số thuế kê khai là 52,4 tỷ đồng. Trong đó, số hộ có doanh thu tờ khai trên 1 tỷ là 583 hộ với doanh thu kê khai là 1.461 tỷ đồng, số thuế kê khai là 26 tỷ. Kết quả này cho thấy việc chuyển từ phương pháp thuế khoán sang cơ chế tự khai, tự nộp, kết hợp với ứng dụng công nghệ số và quản lý dựa trên dữ liệu, đã góp phần phản ánh sát hơn doanh thu thực tế của HKD, nâng cao tính tuân thủ và tăng hiệu quả quản lý thuế.
Thực tiễn triển khai tại Thái Nguyên cho thấy, việc đổi mới mô hình quản lý thuế đối với HKD, CNKD theo hướng hiện đại đã bước đầu mang lại kết quả tích cực cả về nâng cao mức độ tuân thủ, tăng hiệu quả quản lý và tăng thu ngân sách. Đồng thời, những kết quả này cũng khẳng định vai trò của chuyển đổi số và quản lý dựa trên dữ liệu trong tiến trình hiện đại hóa ngành Thuế, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng mô hình quản lý thuế đối với HKD trên phạm vi cả nước.
GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ
Kết quả thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy việc chuyển đổi từ phương pháp thuế khoán sang cơ chế tự khai, tự nộp đã bước đầu phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế, tăng cường minh bạch trong hoạt động kinh doanh và tạo nền tảng cho quản lý thuế hiện đại. Tuy nhiên, để phát huy những kết quả đạt được cần lưu ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, hình thành mô hình quản lý thuế chuyên biệt đối với HKD, CNKD.
Trong thời gian tới cần từng bước xây dựng mô hình quản lý thuế riêng đối với HKD, CNKD theo hướng chuyên môn hóa, tách biệt với mô hình quản lý doanh nghiệp nhằm phù hợp với đặc điểm của từng nhóm người nộp thuế.
Theo đó, hình thành các đơn vị chuyên trách thực hiện quản lý toàn diện đối với HKD từ đăng ký thuế, kê khai, quản lý doanh thu, hóa đơn điện tử, quản lý dòng tiền, quản lý rủi ro, thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế nợ thuế đến hỗ trợ người nộp thuế. Việc chuyên môn hóa sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực cán bộ thuế, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả quản lý.
Thứ hai, chuyển mạnh sang mô hình quản lý thuế dựa trên dữ liệu và quản lý rủi ro.
Quản lý thuế trong giai đoạn tới không còn dựa chủ yếu vào địa bàn, ngành nghề hay kinh nghiệm của cán bộ quản lý mà phải dựa trên dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích hành vi người nộp thuế và các tiêu chí đánh giá rủi ro. Cơ quan thuế cần xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về HKD, kết nối và chia sẻ thông tin với các cơ quan đăng ký kinh doanh, ngân hàng, cơ quan công an, cơ quan bảo hiểm xã hội, đơn vị cung cấp hóa đơn điện tử, các sàn thương mại điện tử, tổ chức trung gian thanh toán và các cơ quan quản lý nhà nước khác nhằm hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ quản lý thuế.
Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống cảnh báo tự động, phân loại mức độ rủi ro của từng HKD để thực hiện quản lý theo mức độ tuân thủ, giảm kiểm tra đối với người nộp thuế có mức độ tuân thủ cao và tập trung nguồn lực vào các trường hợp có dấu hiệu rủi ro, thất thu thuế.
Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong quản lý thuế HKD.
Chuyển đổi số cần được coi là nền tảng của mô hình quản lý mới. Trong thời gian tới cần tiếp tục mở rộng việc sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền, thanh toán không dùng tiền mặt, eTax Mobile, sổ sách kế toán điện tử và các dịch vụ thuế điện tử khác.
Mục tiêu hướng tới là toàn bộ quá trình quản lý thuế đối với HKD được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số, từ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, tra cứu thông tin, thanh tra, kiểm tra đến xử lý vi phạm thanh toán việc mua bán hàng hóa cũng bằng hình thức điện tử, qua đó giảm tối đa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính minh bạch.
Thứ tư, xây dựng cơ chế quản lý theo mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản lý dựa trên mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Đối với HKD chấp hành tốt pháp luật thuế cần ưu tiên hỗ trợ, giảm tần suất kiểm tra, tạo điều kiện thực hiện thủ tục hành chính nhanh chóng.
Đối với các trường hợp có dấu hiệu gian lận, trốn thuế hoặc rủi ro cao cần áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ hơn như phân tích dòng tiền, đối chiếu hóa đơn điện tử, kiểm tra chuyên đề, thanh tra điện tử và áp dụng đầy đủ các biện pháp cưỡng chế theo quy định.
Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý thuế.
Sự thay đổi của mô hình quản lý đòi hỏi đội ngũ công chức thuế phải chuyển từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang quản lý trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số. Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có kiến thức chuyên sâu về phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro, thương mại điện tử, kinh tế số, công nghệ thông tin và quản trị dữ liệu lớn; đồng thời thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số và kỹ năng hỗ trợ người nộp thuế.
Thứ sáu, tăng cường phối hợp liên ngành trong quản lý thuế.
Cơ quan thuế cần thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên với Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, Công an, Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thống kê, các sàn thương mại điện tử và chính quyền địa phương nhằm chia sẻ dữ liệu, kiểm soát dòng tiền, xác minh doanh thu và xử lý các hành vi gian lận thuế. Việc phối hợp liên ngành sẽ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, hạn chế thất thu ngân sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Trong dài hạn, mục tiêu của Thuế tỉnh Thái Nguyên nói riêng và của ngành Thuế nói chung không chỉ là bảo đảm hoàn thành dự toán thu ngân sách hằng năm mà còn xây dựng thành công mô hình quản lý thuế hiện đại đối với HKD, CNKD theo chuẩn mực quốc tế. Đối với tỉnh Thái Nguyên, với những kết quả nổi bật đạt được trong năm 2026 về tỷ lệ kê khai thuế, triển khai hóa đơn điện tử, sử dụng eTax Mobile và quản lý dòng tiền, địa phương sẽ góp phần hoàn thiện mô hình quản lý thuế chuyên biệt đối với HKD, CNKD trên phạm vi toàn quốc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân, chuyển đổi số quốc gia và nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2026). Nghị định số 68/2026/NĐ-CP về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
2. Cục Thuế (2026). Báo cáo dữ liệu đăng ký thuế.
3. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
4. Thuế tỉnh Thái Nguyên (2026). Báo cáo dữ liệu đăng ký thuế.
| Ngày nhận bài: 28/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 29/7/2026; Ngày duyệt đăng: 4/8/2026 |
Các tin khác
Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi khách hàng chọn lựa sử dụng xe điện trong nước hoặc nước ngoài bằng phương pháp hồi quy logistic
Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn căn hộ có mức giá trung bình của khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh
Hành vi tìm kiếm thông tin bất động sản của người tiêu dùng trong bối cảnh chuyển đổi số tại TP. Hồ Chí Minh
Quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và hàm ý chính sách
Quản lý rủi ro pháp lý đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam
Thể chế hóa kinh tế tư nhân sau sắp xếp đơn vị hành chính: Thực tiễn tại TP. Cần Thơ
Từ thực hiện ESG đến tài sản bền vững: Tổng quan nghiên cứu và định hướng phát triển mô hình kế toán bền vững
Nghiên cứu hành vi lựa chọn trường của sinh viên đại học: Ứng dụng phương pháp phân tích hồi quy bội