Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của phụ nữ tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 11:21 | 18/07/2026
Trong bối cảnh kinh tế số, khởi nghiệp của phụ nữ trở thành một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật và các nhà hoạch định chính sách.

Nguyễn Thị Hường

E-mail: 6013230003@huit.edu.vn

Nguyễn Hải Quang

E-mail: quangnhai@huit.edu.vn

Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Trong bối cảnh kinh tế số, khởi nghiệp của phụ nữ trở thành một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật và các nhà hoạch định chính sách. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ khởi nghiệp vẫn còn thấp hơn nam giới do chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố về tâm lý, nhận thức và môi trường xã hội. Nghiên cứu này nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng của Lý thuyết hành vi có kế hoạch, mô hình nghiên cứu đề xuất 3 yếu tố chính gồm Nhận thức khởi nghiệp, Thái độ đối với khởi nghiệp và Chuẩn chủ quan. Nghiên cứu kỳ vọng làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý xã hội trong việc hình thành ý định và thúc đẩy quyết định khởi nghiệp của phụ nữ. Kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ tạo tiền đề cho các nhà khoa học phát triển mô hình nghiên cứu này trong thực tiễn.

Từ khóa: Ý định khởi nghiệp, quyết định khởi nghiệp, nhận thức, thái độ, chuẩn chủ quan

Abstract

In the context of digital economic transformation, women entrepreneurship is becoming a topic of great interest to academics and policymakers. However, the rate of women participation in entrepreneurship remains lower than that of men due to the influence of various psychological, cognitive, and social environmental factors. This study aims to develop a research model of factors influencing the entrepreneurial intentions and decisions of female gender in Viet Nam. Based on the Theory of Planned Behavior, the research model proposes three main factors: Entrepreneurial Perception, Attitude towards Entrepreneurship, and Subjective Norms. The study hopes to clarify the role of psychosocial factors in shaping the entrepreneurial intentions and decisions of women. The research findings are expected to lay the groundwork for scientists to develop this research model in practice.

Keywords: Entrepreneurial intention, entrepreneurial decision, awareness, attitude, subjective norm

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, khởi nghiệp được xem là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững. Hiện nay, nhiều quốc gia chú trọng phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm khai thác tiềm năng sáng tạo của lực lượng lao động trẻ, đặc biệt là phụ nữ. Trong đó, phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động kinh doanh đổi mới, thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ khởi nghiệp vẫn thấp hơn nam giới do chịu ảnh hưởng của các rào cản về tâm lý, văn hóa, nguồn lực và định kiến xã hội (Shinnar và cộng sự, 2012).

Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và khuyến khích tinh thần doanh nhân trong giới trẻ, tiêu biểu là Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp của phụ nữ vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu xem xét đồng thời các yếu tố nhận thức, thái độ và chuẩn chủ quan đối với ý định và quyết định khởi nghiệp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp

Khởi nghiệp là quá trình hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh, dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh.

Quyết định khởi nghiệp là sự lựa chọn của người khởi nghiệp biến ý định thành hành vi khởi nghiệp. Quá trình này bao gồm tất cả các hoạt động liên quan tới việc hiện thực hóa ý tưởng. Các hoạt động này thường bao gồm việc chuẩn bị, thành lập và điều hành một doanh nghiệp mới, được gọi là quá trình khởi nghiệp. Các định nghĩa mới hơn về khởi nghiệp làm nổi bật yếu tố quá trình là một cách hữu ích để hiểu cách thức đổi mới và sáng tạo trong khởi nghiệp phát triển theo thời gian. Hầu hết các khái niệm về khởi nghiệp trong những năm gần đây đều liên quan đến việc tạo ra giá trị, từ đó có tác động tích cực trong xã hội (Bird, 1998).

Ý định khởi nghiệp

Ý định khởi nghiệp là sự sẵn sàng thực hiện hành vi kinh doanh thông qua việc làm chủ hành vi kinh doanh hoặc thành lập tổ chức kinh doanh của riêng mình. Ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ việc cá nhân nhận thức được các cơ hội kinh doanh, phù hợp với thái độ của cá nhân về khởi nghiệp và các chuẩn chủ quan, cũng như tích hợp được các nguồn lực mà cá nhân cảm thấy có khả năng giúp ích cho quyết định khởi nghiệp của mình.

Nhận thức

Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Nói một cách tổng quát, nhận thức là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, ước lượng, sự lý luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ.

Nhận thức kiểm soát hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi là niềm tin của một người về khả năng thực hiện kiểm soát của chính họ, mức độ hoạt động và các sự kiện ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Đó là nhận thức cá nhân về việc kiểm soát một số hành vi nhất định. Ở góc độ khác, nhận thức kiểm soát hành vi được hiểu là những đánh giá nhận thức về năng lực cá nhân liên quan đến các nhiệm vụ cụ thể của tinh thần kinh doanh. Nó có vai trò quan trọng trong việc công nhận các kỹ năng cần thiết thông qua quá trình tạo doanh nghiệp mới, ảnh hưởng đến sự lựa chọn hành động và nỗ lực sẵn sàng đầu tư của một cá nhân.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn nhằm phân tích tác động của nhận thức, thái độ và chuẩn chủ quan đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ thông qua phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống.

Trước hết, nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích thư mục để thống kê, phân loại và phân tích các công trình khoa học liên quan đến chủ đề khởi nghiệp. Phương pháp này giúp khái quát bối cảnh học thuật của lĩnh vực nghiên cứu và hỗ trợ tổng hợp tri thức thông qua việc tích hợp số lượng lớn các nghiên cứu được công bố trong một khoảng thời gian xác định.

Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dung có hệ thống nhằm xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu tổng quan để khám phá xu hướng nghiên cứu, nền tảng lý thuyết và mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu.

Ở giai đoạn thứ nhất, cơ sở dữ liệu Scopus được lựa chọn để tiến hành phân tích thư mục do đây là cơ sở dữ liệu học thuật có độ uy tín cao trong lĩnh vực nghiên cứu khởi nghiệp. Các từ khóa được sử dụng gồm “entrepreneurial intention”, “entrepreneurial behavior” và “Theory of planned behavior”. Kết quả tìm kiếm ban đầu thu được 1.840 tài liệu. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào các bài báo khoa học bằng tiếng Anh (các chương sách, sách chuyên khảo và luận văn không được xem xét). Sau quá trình sàng lọc, có 608 tài liệu phù hợp được giữ lại để phân tích. Nghiên cứu tập trung vào các công trình được công bố trong giai đoạn 2010-2024, phản ánh sự gia tăng đáng kể của các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp phụ nữ trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt, số lượng nghiên cứu tăng mạnh trong giai đoạn 2020-2021 dưới tác động của đại dịch COVID-19, khi khởi nghiệp được xem là giải pháp thích ứng trước khủng hoảng kinh tế và bất ổn xã hội.

Ở giai đoạn thứ hai, nhóm nghiên cứu tiến hành đọc tóm tắt, thảo luận và phản biện nội bộ để lựa chọn các nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ nhằm thực hiện phân tích nội dung có hệ thống. Chỉ các bài báo được công bố trên các tạp chí thuộc danh mục SSCI và SCI mới được đưa vào phân tích nhằm bảo đảm tính học thuật và độ tin cậy của dữ liệu. Sau quá trình sàng lọc, tổng cộng 157 bài báo được xác nhận phù hợp để phục vụ cho việc tổng hợp và phân tích nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phát triển giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu này được phát triển dựa trên nền tảng của Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) nhằm giải thích mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ, chuẩn chủ quan với ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ. Các giả thuyết nghiên cứu được xây dựng thông qua tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây.

Thứ nhất, nhóm yếu tố nhận thức được xem là nền tảng quan trọng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp. Điểm kiểm soát hành vi (LoC) phản ánh niềm tin của cá nhân về khả năng kiểm soát các tình huống trong cuộc sống và được xem là một trong những yếu tố tác động đến hành vi khởi nghiệp. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H1a: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Mặc dù chưa tìm thấy tác động đáng kể giữa điểm kiểm soát và ý định khởi nghiệp, nhiều nghiên cứu khác đều cho rằng, nhận thức kiểm soát hành vi có mối quan hệ tích cực với ý định kinh doanh. Đồng thời, nhận thức về tính khả thi của hoạt động khởi nghiệp cũng được xem là yếu tố quyết định quan trọng hình thành ý định khởi nghiệp (Liñán và Fayolle, 2015). Nghiên cứu của Trivedi (2017) tiếp tục khẳng định vai trò của ý tưởng kinh doanh và nhận thức cơ hội trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H1b: Ý tưởng kinh doanh có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, tính sáng tạo nhận thức cũng được xem là yếu tố thúc đẩy sự sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh doanh thông qua khả năng đổi mới, giải quyết vấn đề và thích ứng với sự thay đổi. Từ đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H1c: Tính sáng tạo nhận thức có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Thứ hai, nhóm yếu tố thái độ đối với khởi nghiệp được xem là một trong những yếu tố cốt lõi trong việc hình thành ý định hành vi theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh thái độ gắn kết khởi nghiệp có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp như Autio và cộng sự (2001) và Liñán và cộng sự (2009). Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H2a: Gắn kết với khởi nghiệp có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Ngoài ra, các nghiên cứu của Santos và cộng sự (2016) cũng khẳng định rằng, ý chí kiểm soát bản của cá nhân có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp thường có xu hướng hình thành ý định kinh doanh mạnh mẽ hơn. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H2b: Ý chí kiểm soát bản thân có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Nghiên cứu của Bird (1998), Liñán và cộng sự (2015) cho rằng, khả năng chấp nhận rủi ro, sự tự tin và khả năng kiểm soát bản thân là những biểu hiện quan trọng của thái độ khởi nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H2c: Tự tin hướng tới thành quả có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Thứ ba, đối với nhóm yếu tố chuẩn chủ quan phản ánh mức độ ảnh hưởng của gia đình, bạn bè và môi trường xã hội đến quyết định hành vi của cá nhân. Các nghiên cứu của Liñán và Chen (2009), Trivedi (2017) đều cho thấy, yêu cầu chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H3a: Yêu cầu chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Trong bối cảnh khởi nghiệp, động lực tuân thủ chuẩn chủ quan được xem là yếu tố thúc đẩy cá nhân hành động phù hợp với kỳ vọng của những người có ảnh hưởng đối với hoạt động kinh doanh. Các nghiên cứu thực nghiệm của Autio và cộng sự (20015) cho thấy, chuẩn chủ quan và động lực tuân thủ xã hội có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của cá nhân, đặc biệt trong môi trường giáo dục và khởi nghiệp thanh niên. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H3b: Động lực tuân thủ chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Cuối cùng, ý định khởi nghiệp được xem là tiền đề dẫn đến quyết định và hành vi khởi nghiệp thực tế. Theo Bird (1998), ý định phản ánh trạng thái tinh thần hướng đến hành động khởi nghiệp, trong khi Liñán và cộng sự (2015) xem khởi nghiệp là một hành vi có kế hoạch. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H4: Ý định khởi nghiệp có tác động cùng chiều đến Quyết định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trên cơ sở các lý thuyết nền tảng và giả thuyết nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu đến ý định và quyết định khởi nghiệp như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của phụ nữ tại TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

KẾT LUẬN

Nghiên cứu xây dựng mô hình lý thuyết nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định và Quyết định khởi nghiệp của phụ nữ dựa trên nền tảng Lý thuyết hành vi có kế hoạch. Kết quả tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước cho thấy, Nhận thức, Thái độ và Chuẩn chủ quan đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành Ý định khởi nghiệp, từ đó thúc đẩy Quyết định khởi nghiệp thực tế. Nghiên cứu này góp phần bổ sung cơ sở lý luận về hành vi khởi nghiệp của phụ nữ trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam, đồng thời đáp ứng nhu cầu của các trường đại học và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của nữ giới. Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để các nhà khoa học tiếp tục mở rộng và phát triển các nghiên cứu thực tiễn, góp phần hỗ trợ việc xây dựng và triển khai các dự án khởi nghiệp dành cho phụ nữ tại Việt Nam cũng như trên thế giới.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Autio, E., Keeley, R. H., Klofsten, M., Parker, G. G., & Hay, M. (2001). Entrepreneurial intent among students in Scandinavia and in the USA. Enterprise and Innovation Management Studies, 2(2), 145-160.

3. Bird, B. (1998). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. Academy of Management Review, 13(3), 442-453.

4. Liñán, F., & Fayolle, A. (2015). A systematic literature review on entrepreneurial intentions: Citation, thematic analyses, and research agenda. International Entrepreneurship and Management Journal, 11(4), 907-933.

5. Santos, F. J., Roomi, M. A., & Liñán, F. (2016). About gender differences and the social environment in the development of entrepreneurial intentions. Journal of Small Business Management, 54(1), 49-66.

6. Shinnar, R. S., Giacomin, O., & Janssen, F. (2012). Entrepreneurial perceptions and intentions: The role of gender and culture. Entrepreneurship Theory and Practice, 36(3), 465-493.

7. Trivedi, R. (2017). Does university play significant role in shaping entrepreneurial intention? A cross-country comparative analysis. Journal of Small Business and Enterprise Development, 24(4), 790-811.

Ngày nhận bài: 22/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/7/2026; Ngày duyệt đăng: 17/7/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"
Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Việc duy trì một kênh quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là rất cần thiết nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại