Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của phụ nữ tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 11:21 | 18/07/2026
Trong bối cảnh kinh tế số, khởi nghiệp của phụ nữ trở thành một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật và các nhà hoạch định chính sách.

Nguyễn Thị Hường

E-mail: [email protected]

Nguyễn Hải Quang

E-mail: [email protected]

Trường Đại học Công Thương TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Trong bối cảnh kinh tế số, khởi nghiệp của phụ nữ trở thành một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ giới học thuật và các nhà hoạch định chính sách. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ khởi nghiệp vẫn còn thấp hơn nam giới do chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố về tâm lý, nhận thức và môi trường xã hội. Nghiên cứu này nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng của Lý thuyết hành vi có kế hoạch, mô hình nghiên cứu đề xuất 3 yếu tố chính gồm Nhận thức khởi nghiệp, Thái độ đối với khởi nghiệp và Chuẩn chủ quan. Nghiên cứu kỳ vọng làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý xã hội trong việc hình thành ý định và thúc đẩy quyết định khởi nghiệp của phụ nữ. Kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ tạo tiền đề cho các nhà khoa học phát triển mô hình nghiên cứu này trong thực tiễn.

Từ khóa: Ý định khởi nghiệp, quyết định khởi nghiệp, nhận thức, thái độ, chuẩn chủ quan

Abstract

In the context of digital economic transformation, women entrepreneurship is becoming a topic of great interest to academics and policymakers. However, the rate of women participation in entrepreneurship remains lower than that of men due to the influence of various psychological, cognitive, and social environmental factors. This study aims to develop a research model of factors influencing the entrepreneurial intentions and decisions of female gender in Viet Nam. Based on the Theory of Planned Behavior, the research model proposes three main factors: Entrepreneurial Perception, Attitude towards Entrepreneurship, and Subjective Norms. The study hopes to clarify the role of psychosocial factors in shaping the entrepreneurial intentions and decisions of women. The research findings are expected to lay the groundwork for scientists to develop this research model in practice.

Keywords: Entrepreneurial intention, entrepreneurial decision, awareness, attitude, subjective norm

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế số phát triển mạnh mẽ, khởi nghiệp được xem là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và phát triển kinh tế bền vững. Hiện nay, nhiều quốc gia chú trọng phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm khai thác tiềm năng sáng tạo của lực lượng lao động trẻ, đặc biệt là phụ nữ. Trong đó, phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động kinh doanh đổi mới, thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ khởi nghiệp vẫn thấp hơn nam giới do chịu ảnh hưởng của các rào cản về tâm lý, văn hóa, nguồn lực và định kiến xã hội (Shinnar và cộng sự, 2012).

Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và khuyến khích tinh thần doanh nhân trong giới trẻ, tiêu biểu là Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp của phụ nữ vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu xem xét đồng thời các yếu tố nhận thức, thái độ và chuẩn chủ quan đối với ý định và quyết định khởi nghiệp.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp

Khởi nghiệp là quá trình hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh, dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh.

Quyết định khởi nghiệp là sự lựa chọn của người khởi nghiệp biến ý định thành hành vi khởi nghiệp. Quá trình này bao gồm tất cả các hoạt động liên quan tới việc hiện thực hóa ý tưởng. Các hoạt động này thường bao gồm việc chuẩn bị, thành lập và điều hành một doanh nghiệp mới, được gọi là quá trình khởi nghiệp. Các định nghĩa mới hơn về khởi nghiệp làm nổi bật yếu tố quá trình là một cách hữu ích để hiểu cách thức đổi mới và sáng tạo trong khởi nghiệp phát triển theo thời gian. Hầu hết các khái niệm về khởi nghiệp trong những năm gần đây đều liên quan đến việc tạo ra giá trị, từ đó có tác động tích cực trong xã hội (Bird, 1998).

Ý định khởi nghiệp

Ý định khởi nghiệp là sự sẵn sàng thực hiện hành vi kinh doanh thông qua việc làm chủ hành vi kinh doanh hoặc thành lập tổ chức kinh doanh của riêng mình. Ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ việc cá nhân nhận thức được các cơ hội kinh doanh, phù hợp với thái độ của cá nhân về khởi nghiệp và các chuẩn chủ quan, cũng như tích hợp được các nguồn lực mà cá nhân cảm thấy có khả năng giúp ích cho quyết định khởi nghiệp của mình.

Nhận thức

Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Nói một cách tổng quát, nhận thức là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, ước lượng, sự lý luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ.

Nhận thức kiểm soát hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi là niềm tin của một người về khả năng thực hiện kiểm soát của chính họ, mức độ hoạt động và các sự kiện ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Đó là nhận thức cá nhân về việc kiểm soát một số hành vi nhất định. Ở góc độ khác, nhận thức kiểm soát hành vi được hiểu là những đánh giá nhận thức về năng lực cá nhân liên quan đến các nhiệm vụ cụ thể của tinh thần kinh doanh. Nó có vai trò quan trọng trong việc công nhận các kỹ năng cần thiết thông qua quá trình tạo doanh nghiệp mới, ảnh hưởng đến sự lựa chọn hành động và nỗ lực sẵn sàng đầu tư của một cá nhân.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn nhằm phân tích tác động của nhận thức, thái độ và chuẩn chủ quan đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ thông qua phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống.

Trước hết, nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích thư mục để thống kê, phân loại và phân tích các công trình khoa học liên quan đến chủ đề khởi nghiệp. Phương pháp này giúp khái quát bối cảnh học thuật của lĩnh vực nghiên cứu và hỗ trợ tổng hợp tri thức thông qua việc tích hợp số lượng lớn các nghiên cứu được công bố trong một khoảng thời gian xác định.

Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dung có hệ thống nhằm xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu tổng quan để khám phá xu hướng nghiên cứu, nền tảng lý thuyết và mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu.

Ở giai đoạn thứ nhất, cơ sở dữ liệu Scopus được lựa chọn để tiến hành phân tích thư mục do đây là cơ sở dữ liệu học thuật có độ uy tín cao trong lĩnh vực nghiên cứu khởi nghiệp. Các từ khóa được sử dụng gồm “entrepreneurial intention”, “entrepreneurial behavior” và “Theory of planned behavior”. Kết quả tìm kiếm ban đầu thu được 1.840 tài liệu. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào các bài báo khoa học bằng tiếng Anh (các chương sách, sách chuyên khảo và luận văn không được xem xét). Sau quá trình sàng lọc, có 608 tài liệu phù hợp được giữ lại để phân tích. Nghiên cứu tập trung vào các công trình được công bố trong giai đoạn 2010-2024, phản ánh sự gia tăng đáng kể của các nghiên cứu liên quan đến khởi nghiệp phụ nữ trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt, số lượng nghiên cứu tăng mạnh trong giai đoạn 2020-2021 dưới tác động của đại dịch COVID-19, khi khởi nghiệp được xem là giải pháp thích ứng trước khủng hoảng kinh tế và bất ổn xã hội.

Ở giai đoạn thứ hai, nhóm nghiên cứu tiến hành đọc tóm tắt, thảo luận và phản biện nội bộ để lựa chọn các nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ nhằm thực hiện phân tích nội dung có hệ thống. Chỉ các bài báo được công bố trên các tạp chí thuộc danh mục SSCI và SCI mới được đưa vào phân tích nhằm bảo đảm tính học thuật và độ tin cậy của dữ liệu. Sau quá trình sàng lọc, tổng cộng 157 bài báo được xác nhận phù hợp để phục vụ cho việc tổng hợp và phân tích nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phát triển giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu này được phát triển dựa trên nền tảng của Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) nhằm giải thích mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ, chuẩn chủ quan với ý định và quyết định khởi nghiệp của phụ nữ. Các giả thuyết nghiên cứu được xây dựng thông qua tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây.

Thứ nhất, nhóm yếu tố nhận thức được xem là nền tảng quan trọng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp. Điểm kiểm soát hành vi (LoC) phản ánh niềm tin của cá nhân về khả năng kiểm soát các tình huống trong cuộc sống và được xem là một trong những yếu tố tác động đến hành vi khởi nghiệp. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H1a: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Mặc dù chưa tìm thấy tác động đáng kể giữa điểm kiểm soát và ý định khởi nghiệp, nhiều nghiên cứu khác đều cho rằng, nhận thức kiểm soát hành vi có mối quan hệ tích cực với ý định kinh doanh. Đồng thời, nhận thức về tính khả thi của hoạt động khởi nghiệp cũng được xem là yếu tố quyết định quan trọng hình thành ý định khởi nghiệp (Liñán và Fayolle, 2015). Nghiên cứu của Trivedi (2017) tiếp tục khẳng định vai trò của ý tưởng kinh doanh và nhận thức cơ hội trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp. Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H1b: Ý tưởng kinh doanh có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, tính sáng tạo nhận thức cũng được xem là yếu tố thúc đẩy sự sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh doanh thông qua khả năng đổi mới, giải quyết vấn đề và thích ứng với sự thay đổi. Từ đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H1c: Tính sáng tạo nhận thức có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Thứ hai, nhóm yếu tố thái độ đối với khởi nghiệp được xem là một trong những yếu tố cốt lõi trong việc hình thành ý định hành vi theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh thái độ gắn kết khởi nghiệp có tác động đáng kể đến ý định khởi nghiệp như Autio và cộng sự (2001) và Liñán và cộng sự (2009). Vì vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H2a: Gắn kết với khởi nghiệp có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Ngoài ra, các nghiên cứu của Santos và cộng sự (2016) cũng khẳng định rằng, ý chí kiểm soát bản của cá nhân có thái độ tích cực đối với khởi nghiệp thường có xu hướng hình thành ý định kinh doanh mạnh mẽ hơn. Do đó, giả thuyết sau được đề xuất:

H2b: Ý chí kiểm soát bản thân có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Nghiên cứu của Bird (1998), Liñán và cộng sự (2015) cho rằng, khả năng chấp nhận rủi ro, sự tự tin và khả năng kiểm soát bản thân là những biểu hiện quan trọng của thái độ khởi nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H2c: Tự tin hướng tới thành quả có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Thứ ba, đối với nhóm yếu tố chuẩn chủ quan phản ánh mức độ ảnh hưởng của gia đình, bạn bè và môi trường xã hội đến quyết định hành vi của cá nhân. Các nghiên cứu của Liñán và Chen (2009), Trivedi (2017) đều cho thấy, yêu cầu chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H3a: Yêu cầu chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Trong bối cảnh khởi nghiệp, động lực tuân thủ chuẩn chủ quan được xem là yếu tố thúc đẩy cá nhân hành động phù hợp với kỳ vọng của những người có ảnh hưởng đối với hoạt động kinh doanh. Các nghiên cứu thực nghiệm của Autio và cộng sự (20015) cho thấy, chuẩn chủ quan và động lực tuân thủ xã hội có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của cá nhân, đặc biệt trong môi trường giáo dục và khởi nghiệp thanh niên. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H3b: Động lực tuân thủ chuẩn chủ quan có tác động cùng chiều đến Ý định khởi nghiệp.

Cuối cùng, ý định khởi nghiệp được xem là tiền đề dẫn đến quyết định và hành vi khởi nghiệp thực tế. Theo Bird (1998), ý định phản ánh trạng thái tinh thần hướng đến hành động khởi nghiệp, trong khi Liñán và cộng sự (2015) xem khởi nghiệp là một hành vi có kế hoạch. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:

H4: Ý định khởi nghiệp có tác động cùng chiều đến Quyết định khởi nghiệp

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trên cơ sở các lý thuyết nền tảng và giả thuyết nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu đến ý định và quyết định khởi nghiệp như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của phụ nữ tại TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

KẾT LUẬN

Nghiên cứu xây dựng mô hình lý thuyết nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định và Quyết định khởi nghiệp của phụ nữ dựa trên nền tảng Lý thuyết hành vi có kế hoạch. Kết quả tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước cho thấy, Nhận thức, Thái độ và Chuẩn chủ quan đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành Ý định khởi nghiệp, từ đó thúc đẩy Quyết định khởi nghiệp thực tế. Nghiên cứu này góp phần bổ sung cơ sở lý luận về hành vi khởi nghiệp của phụ nữ trong bối cảnh toàn cầu hóa tại Việt Nam, đồng thời đáp ứng nhu cầu của các trường đại học và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của nữ giới. Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để các nhà khoa học tiếp tục mở rộng và phát triển các nghiên cứu thực tiễn, góp phần hỗ trợ việc xây dựng và triển khai các dự án khởi nghiệp dành cho phụ nữ tại Việt Nam cũng như trên thế giới.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Autio, E., Keeley, R. H., Klofsten, M., Parker, G. G., & Hay, M. (2001). Entrepreneurial intent among students in Scandinavia and in the USA. Enterprise and Innovation Management Studies, 2(2), 145-160.

3. Bird, B. (1998). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. Academy of Management Review, 13(3), 442-453.

4. Liñán, F., & Fayolle, A. (2015). A systematic literature review on entrepreneurial intentions: Citation, thematic analyses, and research agenda. International Entrepreneurship and Management Journal, 11(4), 907-933.

5. Santos, F. J., Roomi, M. A., & Liñán, F. (2016). About gender differences and the social environment in the development of entrepreneurial intentions. Journal of Small Business Management, 54(1), 49-66.

6. Shinnar, R. S., Giacomin, O., & Janssen, F. (2012). Entrepreneurial perceptions and intentions: The role of gender and culture. Entrepreneurship Theory and Practice, 36(3), 465-493.

7. Trivedi, R. (2017). Does university play significant role in shaping entrepreneurial intention? A cross-country comparative analysis. Journal of Small Business and Enterprise Development, 24(4), 790-811.

Ngày nhận bài: 22/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/7/2026; Ngày duyệt đăng: 17/7/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Phát triển kinh tế số tại Việt Nam: Thực trạng, rào cản và gợi mở chính sách đến năm 2030

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số đã và đang trở thành một trong những động lực then chốt tái định hình mô hình tăng trưởng kinh tế, gia tăng năng suất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Chủ trương phát triển các vùng động lực trong giai đoạn tới đã được khẳng định; đồng thời các vùng động lực được kỳ vọng sẽ có đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam cho các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045.
Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Doanh nghiệp spin-off là hướng đi tiềm năng để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, song việc triển khai tại Việt Nam còn vướng mắc về pháp lý, tài chính và năng lực vận hành. Trên cơ sở phân tích thực tiễn và tham vấn chuyên gia, bài viết đề xuất quy trình phát triển doanh nghiệp spin-off và các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng tại trường đại học đa ngành.
Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng công nghệ viễn thám, bài viết phân tích biến động nhiệt độ bề mặt tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2024 và mối quan hệ giữa nhiệt độ bề mặt, độ che phủ thực vật với một số chỉ tiêu phát triển kinh tế đô thị. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp hài hòa tăng trưởng kinh tế với kiểm soát hiệu ứng đảo nhiệt và phát triển đô thị bền vững.
Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Hồ sơ kế toán số được hình thành từ hóa đơn điện tử, phần mềm, dữ liệu ngân hàng và hệ thống quản trị tích hợp. Vì vậy, chất lượng bàn giao ảnh hưởng đến khả năng truy vết, tính liên tục của công việc và độ tin cậy của thông tin kế toán.
Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Quản lý tài nguyên rừng toàn cầu đang đứng trước một ngã rẽ mang tính quyết định, khi những áp lực về bảo vệ hệ sinh thái, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế cho các cộng đồng phụ thuộc vào rừng đang đan xen phức tạp.
Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Trong giáo dục đại học, tài sản thương hiệu ngày càng được quan tâm khi các trường đại học phải cạnh tranh trong thu hút người học và khẳng định vị thế. Việc lựa chọn trường không chỉ dựa trên chương trình đào tạo và học phí mà còn liên quan đến danh tiếng, môi trường học tập, triển vọng nghề nghiệp và những giá trị mà người học nhận được.
Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Bài viết kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa Bộ chỉ số DTI và Chỉ số PCI của các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2020-2024, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số tại các địa phương.
Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Trong bối cảnh tự chủ đại học tại Việt Nam, sinh viên không chỉ quan tâm đến khả năng chi trả mà còn quan tâm đến chất lượng nhận được và tính hợp lý của mức phí. Vì vậy, vấn đề trọng tâm không chỉ là sinh viên có thể trả bao nhiêu, mà là điều gì khiến họ sẵn lòng duy trì hoặc gia tăng cam kết tài chính với cơ sở đào tạo.
Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Sự phát triển của xe điện đang được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy giao thông bền vững và giảm các tác động môi trường của hoạt động vận tải. Tuy nhiên, sự mở rộng của thị trường xe điện không chỉ phụ thuộc vào đặc tính công nghệ hay giá cả sản phẩm mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ các yếu tố tâm lý – xã hội và môi trường chính sách