Các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn: Đề xuất mô hình nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk
Trương Văn Thảo
Trường Đại học Tây Nguyên; Email: tvthao@ttn.edu.vn
Nguyễn Thanh Trúc
Trường Đại học Tây Nguyên; Email: nttruc@ttn.edu.vn
Lê Đức Niêm (Tác giả liên hệ)
Trường Đại học Tây Nguyên; Email: ldniem@ttn.edu.vn
Tóm tắt
Trong bối cảnh khởi nghiệp được xem là động lực thúc đẩy tạo việc làm, đa dạng hóa sinh kế và phát triển kinh tế địa phương, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất mô hình các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk. Trên nền tảng Lý thuyết hành vi có kế hoạch, kết hợp Lý thuyết vốn con người, Lý thuyết nhận thức xã hội, Lý thuyết vốn xã hội, cách tiếp cận hệ sinh thái khởi nghiệp, quan điểm nhận diện cơ hội và Lý thuyết triển vọng, nghiên cứu đề xuất một khung phân tích tích hợp gồm 16 giả thuyết. Mô hình nhấn mạnh tác động của giáo dục khởi nghiệp, năng lực bản thân về khởi nghiệp, vốn xã hội nông thôn, tiếp cận tài chính, môi trường hỗ trợ khởi nghiệp tại địa phương, năng lực số và nhận thức cơ hội kinh doanh tại địa phương đến thái độ và ý định khởi nghiệp; đồng thời xem xét vai trò trung gian của thái độ đối với khởi nghiệp và vai trò điều tiết của nhận thức rủi ro khởi nghiệp.
Từ khóa: Ý định khởi nghiệp, thanh niên nông thôn, thái độ đối với khởi nghiệp, nhận thức rủi ro, Đắk Lắk
Abstract
In the context of entrepreneurship being regarded as a driving force for job creation, livelihood diversification, and local economic development, this study proposes a model of the factors influencing entrepreneurial intention among rural youth in Dak Lak province. Drawing on the Theory of Planned Behavior, combined with Human Capital Theory, Social Cognitive Theory, Social Capital Theory, the entrepreneurial ecosystem approach, the opportunity recognition perspective, and Prospect Theory, the study develops an integrated analytical framework comprising 16 hypotheses. The model emphasizes the effects of entrepreneurship education, entrepreneurial self-efficacy, rural social capital, access to finance, the local entrepreneurial support environment, digital capability, and perceptions of local business opportunities on entrepreneurial attitudes and intentions. It also examines the mediating role of entrepreneurial attitude and the moderating role of perceived entrepreneurial risk.
Keywords: Entrepreneurial intention, rural youth, entrepreneurial attitude, perceived risk, Dak Lak
GIỚI THIỆU
Khởi nghiệp có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, đổi mới sáng tạo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt tại những khu vực mà khả năng hấp thụ lao động còn hạn chế. Đối với khu vực nông thôn, khởi nghiệp không chỉ tạo sinh kế cho cá nhân mà còn góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh tế, nâng cao giá trị nguồn lực tại địa phương, hạn chế di cư lao động và thúc đẩy phát triển cộng đồng địa phương (Shane và Venkataraman, 2000).
Thanh niên nông thôn là lực lượng có khả năng tiếp thu kiến thức, công nghệ và phương thức kinh doanh mới. Tuy nhiên, quyết định khởi nghiệp của nhóm này không hình thành một cách tự phát mà thường bắt đầu từ ý định thực hiện hành vi. Theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch, ý định là tiền đề gần nhất của hành vi, phản ánh mức độ sẵn sàng, quyết tâm và kế hoạch của cá nhân đối với việc thực hiện một hành động cụ thể (Ajzen, 1991). Trong lĩnh vực khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp được xem là chỉ báo quan trọng để giải thích khả năng cá nhân lựa chọn và theo đuổi con đường thành lập doanh nghiệp trong tương lai (Krueger và Carsrud, 1993).
Các nghiên cứu trước cho thấy thái độ đối với khởi nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng nhất hình thành ý định khởi nghiệp. Khi cá nhân đánh giá việc trở thành doanh nhân là hấp dẫn, có lợi, phù hợp và đáng theo đuổi, họ thường có ý định khởi nghiệp mạnh hơn (Liñán và Chen, 2009; Kautonen và cộng sự, 2015; Schlaegel và Koenig, 2014; Vamvaka và cộng sự, 2020). Tuy vậy, thái độ và ý định khởi nghiệp còn chịu tác động của kiến thức, kỹ năng, mạng lưới xã hội, điều kiện tài chính, môi trường hỗ trợ, năng lực số và cơ hội kinh doanh được nhận thấy tại địa phương.
Đắk Lắk là địa phương có nhiều tiềm năng khởi nghiệp gắn với nông nghiệp, du lịch và thương mại điện tử. Tuy nhiên, thanh niên nông thôn tại địa phương cũng có thể đối mặt với những rào cản về vốn, thông tin thị trường, kỹ năng quản lý, năng lực công nghệ, cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ. Sự đan xen giữa cơ hội và rào cản này tạo ra bối cảnh nghiên cứu đặc thù mà các mô hình được xây dựng chủ yếu từ sinh viên đô thị hoặc các quốc gia khác chưa thể giải thích đầy đủ. Từ các vấn đề trên, nghiên cứu này đề xuất mô hình tích hợp nhằm giải thích ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Ý định khởi nghiệp (YDKN): là mức độ cá nhân sẵn sàng, quyết tâm và có kế hoạch thành lập hoặc vận hành một hoạt động kinh doanh mới. Theo Ajzen (1991), ý định là tiền đề gần nhất của hành vi có chủ đích. Trong nghiên cứu khởi nghiệp, Bird (1988), Krueger và Carsrud (1993), Liñán và Chen (2009) đều xem ý định là trạng thái nhận thức định hướng sự chú ý và hành động của cá nhân đến việc tạo lập doanh nghiệp.
Thái độ đối với khởi nghiệp (TDKN): phản ánh mức độ cá nhân đánh giá việc khởi nghiệp là tích cực hay tiêu cực, hấp dẫn hay không hấp dẫn, có lợi hay bất lợi. Theo Fishbein và Ajzen (1975), Ajzen (1991), thái độ đối với hành vi được hình thành từ niềm tin về kết quả của hành vi và đánh giá của cá nhân đối với các kết quả đó. Trong nghiên cứu này, thái độ được xem là cơ chế nhận thức trung gian giữa các yếu tố tiền đề và ý định khởi nghiệp.
Giáo dục khởi nghiệp (GDKN): là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, tư duy, trải nghiệm và cảm hứng cần thiết để cá nhân nhận diện cơ hội, phát triển ý tưởng và triển khai hoạt động kinh doanh. Theo Lý thuyết vốn con người, giáo dục và đào tạo giúp nâng cao năng lực tạo ra giá trị của cá nhân (Becker, 1964).
Năng lực bản thân về khởi nghiệp (NLB): là niềm tin của cá nhân về khả năng nhận diện cơ hội, lập kế hoạch, huy động nguồn lực, quản lý và giải quyết các vấn đề kinh doanh. Theo Bandura (1997), niềm tin vào năng lực bản thân ảnh hưởng đến sự lựa chọn hành vi, mức độ nỗ lực và tính kiên trì của cá nhân.
Vốn xã hội nông thôn (VXH): phản ánh các mối quan hệ gia đình, họ hàng, bạn bè, cộng đồng, hợp tác xã, tổ chức đoàn thể và mạng lưới địa phương có khả năng cung cấp thông tin, kinh nghiệm, vốn, khách hàng, đối tác và sự hỗ trợ tinh thần cho thanh niên khi khởi nghiệp (Bourdieu, 2018; Coleman, 1988).
Tiếp cận tài chính (TCTC): là khả năng cá nhân huy động vốn từ bản thân, gia đình, tổ chức tín dụng, chương trình hỗ trợ hoặc nhà đầu tư để khởi sự và duy trì hoạt động kinh doanh. Tài chính là một thành phần quan trọng của môi trường phát triển khởi nghiệp vì người khởi nghiệp cần vốn để đầu tư vào nguyên liệu, thiết bị, công nghệ, marketing và vận hành ban đầu (Gnyawali và Fogel, 1994).
Môi trường hỗ trợ khởi nghiệp tại địa phương (MTHT): bao gồm chính sách, đào tạo, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, kết nối thị trường, cơ sở hạ tầng, văn hóa khởi nghiệp và các tổ chức hỗ trợ. Cách tiếp cận hệ sinh thái khởi nghiệp cho rằng hoạt động khởi nghiệp được hình thành từ sự tương tác giữa nhiều điều kiện môi trường và nguồn lực (Isenberg, 2010; Stam, 2015).
Năng lực số (NLS): là khả năng sử dụng công nghệ số, mạng xã hội, thương mại điện tử, thanh toán số và công cụ số để tìm kiếm thông tin, tiếp cận khách hàng, quảng bá sản phẩm, thực hiện giao dịch và quản lý hoạt động kinh doanh. Trong bối cảnh nông thôn, năng lực số có thể giúp thanh niên vượt qua hạn chế về khoảng cách địa lý và mở rộng thị trường (Nambisan, 2017).
Nhận thức cơ hội kinh doanh tại địa phương (CHKD): là đánh giá của cá nhân về sự tồn tại của nhu cầu thị trường chưa được đáp ứng, nguồn lực bản địa, sản phẩm đặc trưng và cơ hội phát triển mô hình kinh doanh tại nơi sinh sống. Theo Shane và Venkataraman (2000), nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội là nội dung trung tâm của quá trình khởi nghiệp.
Nhận thức rủi ro khởi nghiệp (RRKN): phản ánh đánh giá chủ quan của cá nhân về khả năng xảy ra các kết quả bất lợi khi thành lập và vận hành hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như mất vốn, thu nhập không ổn định, thất bại kinh doanh, khó tiếp cận thị trường và mất cơ hội nghề nghiệp. Lý thuyết triển vọng cho rằng cá nhân thường nhạy cảm với tổn thất tiềm ẩn hơn so với lợi ích có giá trị tương đương (Kahneman và Tversky, 1979).
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Giáo dục khởi nghiệp và thái độ đối với khởi nghiệp
Giáo dục khởi nghiệp giúp thanh niên tiếp cận kiến thức về phát triển ý tưởng, lập kế hoạch kinh doanh, quản trị nguồn lực và đánh giá cơ hội. Các chương trình đào tạo, trải nghiệm và tiếp xúc với hình mẫu doanh nhân có thể làm giảm sự mơ hồ về khởi nghiệp, tăng cảm nhận về tính hấp dẫn của hoạt động kinh doanh và củng cố thái độ tích cực (Bae và cộng sự, 2014). Từ đó, giả thuyết được đề xuất:
H1: Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Thái độ đối với khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Năng lực bản thân về khởi nghiệp, thái độ và ý định khởi nghiệp
Khi thanh niên tin rằng họ có khả năng nhận diện cơ hội, lập kế hoạch, huy động nguồn lực và quản lý hoạt động kinh doanh, khởi nghiệp sẽ được đánh giá là khả thi và hấp dẫn hơn. Niềm tin này không chỉ hình thành thái độ tích cực mà còn có thể tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp do cá nhân cảm thấy mình có đủ năng lực để hành động (Chen và cộng sự, 1998; Zhao và cộng sự, 2005; Newman và cộng sự, 2019). Từ đó, các giả thuyết được đề xuất:
H2: Năng lực bản thân về khởi nghiệp tác động tích cực đến Thái độ đối với khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H3: Năng lực bản thân về khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Vốn xã hội nông thôn, thái độ và ý định khởi nghiệp
Trong khu vực nông thôn, mạng lưới gia đình, cộng đồng, hợp tác xã, bạn bè và các tổ chức địa phương có thể cung cấp thông tin, kinh nghiệm, vốn, khách hàng và hỗ trợ tinh thần. Những nguồn lực này làm cho khởi nghiệp trở nên ít đơn độc hơn, tăng cảm nhận về tính khả thi và thúc đẩy thái độ tích cực cũng như ý định khởi nghiệp (Davidsson và Honig, 2003; Liñán và Santos, 2007). Từ đó, các giả thuyết được đề xuất:
H4: Vốn xã hội nông thôn tác động tích cực đến Thái độ đối với khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H5: Vốn xã hội nông thôn tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Tiếp cận tài chính, thái độ và ý định khởi nghiệp
Khả năng tiếp cận vốn giúp thanh niên chuyển hóa ý tưởng thành hoạt động kinh doanh cụ thể. Khi cá nhân cảm nhận có thể huy động nguồn vốn từ gia đình, tổ chức tín dụng hoặc chương trình hỗ trợ, họ có xu hướng đánh giá khởi nghiệp là khả thi hơn và có ý định theo đuổi mạnh hơn. Ngược lại, thiếu vốn có thể tạo rào cản và làm suy giảm ý định (Gnyawali và Fogel, 1994; Fatoki, 2010). Các giả thuyết được đề xuất gồm:
H6: Tiếp cận tài chính tác động tích cực đến Thái độ đối với khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H7: Tiếp cận tài chính tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Môi trường hỗ trợ khởi nghiệp tại địa phương, thái độ và ý định khởi nghiệp
Một môi trường địa phương có chính sách hỗ trợ, chương trình đào tạo, tư vấn, kết nối thị trường, hạ tầng và văn hóa khuyến khích khởi nghiệp có thể làm giảm chi phí, rủi ro và sự không chắc chắn khi bắt đầu kinh doanh. Do đó, thanh niên có thể đánh giá khởi nghiệp là lựa chọn nghề nghiệp hấp dẫn hơn và hình thành ý định mạnh hơn (Gnyawali và Fogel, 1994; Saeed và cộng sự, 2015; Isenberg, 2010; Stam, 2015). Nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:
H8: Môi trường hỗ trợ khởi nghiệp tại địa phương tác động tích cực đến Thái độ đối với khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H9: Môi trường hỗ trợ khởi nghiệp tại địa phương tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Năng lực số, thái độ và ý định khởi nghiệp
Năng lực số giúp thanh niên tìm kiếm thông tin, quảng bá sản phẩm, tiếp cận khách hàng, sử dụng thương mại điện tử và quản lý giao dịch trên môi trường số. Đối với khu vực nông thôn, năng lực này đặc biệt quan trọng vì có thể mở rộng thị trường ngoài địa phương và giảm chi phí giao dịch. Vì vậy, năng lực số được kỳ vọng làm tăng thái độ tích cực và ý định khởi nghiệp (Nambisan, 2017; Ta và cộng sự, 2025). Từ đó, các giả thuyết được đề xuất:
H10: Năng lực số tác động tích cực đến Thái độ đối với khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H11: Năng lực số tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Nhận thức cơ hội kinh doanh tại địa phương, thái độ và ý định khởi nghiệp
Khi thanh niên nhận thấy địa phương có nhu cầu chưa được đáp ứng, nguồn lực đặc trưng, sản phẩm bản địa, du lịch cộng đồng hoặc cơ hội thương mại điện tử, họ có xu hướng đánh giá khởi nghiệp là hấp dẫn và khả thi hơn. Nhận thức cơ hội vì vậy có thể tác động trực tiếp đến thái độ và ý định khởi nghiệp (Ardichvili và cộng sự, 2003; Ng và cộng sự, 2021; Ng và cộng sự, 2024). Các giả thuyết sau được đề xuất:
H12: Nhận thức cơ hội kinh doanh tại địa phương tác động tích cực đến Thái độ đối với khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H13: Nhận thức cơ hội kinh doanh tại địa phương tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Thái độ đối với khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp
Theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch, thái độ tích cực đối với một hành vi làm gia tăng ý định thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Trong bối cảnh khởi nghiệp, nếu thanh niên đánh giá việc trở thành người khởi nghiệp là có lợi, hấp dẫn và phù hợp với mục tiêu cá nhân, họ sẽ có khuynh hướng hình thành ý định khởi nghiệp mạnh hơn (Liñán và Chen, 2009; Kautonen và cộng sự, 2015; Vamvaka và cộng sự, 2020). Giả thuyết sau được đề xuất:
H14: Thái độ đối với khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Vai trò trung gian của thái độ đối với khởi nghiệp
Thái độ đối với khởi nghiệp được kỳ vọng là cơ chế truyền dẫn tác động của các yếu tố tiền đề đến ý định khởi nghiệp. Các yếu tố như giáo dục, năng lực bản thân, vốn xã hội, tiếp cận tài chính, môi trường hỗ trợ, năng lực số và nhận thức cơ hội có thể làm thay đổi cách thanh niên đánh giá về lợi ích, tính hấp dẫn và tính khả thi của khởi nghiệp. Khi thái độ trở nên tích cực, ý định khởi nghiệp có nhiều khả năng được hình thành. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết trung gian sau:
H15a: Thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H15b: Thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Năng lực bản thân về khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H15c: Thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Vốn xã hội nông thôn và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H15d: Thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Tiếp cận tài chính và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H15e: Thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Môi trường hỗ trợ khởi nghiệp tại địa phương và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H15f: Thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Năng lực số và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
H15g: Thái độ đối với khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Nhận thức cơ hội kinh doanh tại địa phương và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk.
Vai trò điều tiết của nhận thức rủi ro khởi nghiệp
Khởi nghiệp luôn gắn với sự không chắc chắn. Trong bối cảnh thanh niên nông thôn tỉnh Đắk Lắk, rủi ro có thể xuất phát từ thiếu vốn, biến động giá nông sản, thị trường tiêu thụ không ổn định, phụ thuộc điều kiện tự nhiên, hạn chế về kinh nghiệm quản lý và khả năng ứng phó với thất bại. Theo Lý thuyết triển vọng, sự lo ngại về tổn thất có thể làm cá nhân thận trọng hơn trước các quyết định có tính không chắc chắn (Kahneman và Tversky, 1979). Do đó, khi nhận thức rủi ro cao, thái độ tích cực đối với khởi nghiệp có thể khó chuyển hóa thành ý định mạnh. Nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H16: Nhận thức rủi ro khởi nghiệp điều tiết tiêu cực mối quan hệ giữa Thái độ đối với khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn tại tỉnh Đắk Lắk (cụ thể, tác động tích cực của Thái độ đối với khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp sẽ yếu hơn khi Nhận thức rủi ro khởi nghiệp ở mức cao).
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
Trên cơ sở tổng quan lý thuyết và hệ thống giả thuyết đã phát triển, mô hình nghiên cứu đề xuất xem xét tác động của 7 yếu tố tiền đề đến Thái độ và Ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn. Thái độ đối với khởi nghiệp được xác định là biến trung gian trung tâm, trong khi Nhận thức rủi ro khởi nghiệp được xem là biến điều tiết làm thay đổi mức độ chuyển hóa Thái độ thành Ý định. Mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày tại Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Bảng: Tổng hợp giả thuyết nghiên cứu
| Giả thuyết | Nội dung | Loại quan hệ |
| H1 | GDKN tác động tích cực đến TDKN | Trực tiếp |
| H2 | NLB tác động tích cực đến TDKN | Trực tiếp |
| H3 | NLB tác động tích cực đến YDKN | Trực tiếp |
| H4 | VXH tác động tích cực đến TDKN | Trực tiếp |
| H5 | VXH tác động tích cực đến YDKN | Trực tiếp |
| H6 | TCTC tác động tích cực đến TDKN | Trực tiếp |
| H7 | TCTC tác động tích cực đến YDKN | Trực tiếp |
| H8 | MTHT tác động tích cực đến TDKN | Trực tiếp |
| H9 | MTHT tác động tích cực đến YDKN | Trực tiếp |
| H10 | NLS tác động tích cực đến TDKN | Trực tiếp |
| H11 | NLS tác động tích cực đến YDKN | Trực tiếp |
| H12 | CHKD tác động tích cực đến TDKN | Trực tiếp |
| H13 | CHKD tác động tích cực đến YDKN | Trực tiếp |
| H14 | TDKN tác động tích cực đến YDKN | Trực tiếp |
| H15a-H15g | TDKN trung gian các mối quan hệ giữa 7 yếu tố tiền đề và YDKN | Trung gian |
| H16 | RRKN điều tiết âm quan hệ TDKN → YDKN | Điều tiết |
Nguồn: Tổng hợp từ đề xuất của nhóm tác giả
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Nghiên cứu đã phát triển một mô hình nhằm giải thích ý định khởi nghiệp của thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Trên nền tảng Lý thuyết hành vi có kế hoạch, nghiên cứu tích hợp các góc nhìn từ Lý thuyết vốn con người, Lý thuyết nhận thức xã hội, Lý thuyết vốn xã hội, hệ sinh thái khởi nghiệp, quan điểm nhận diện cơ hội và Lý thuyết triển vọng. Mô hình cho thấy ý định khởi nghiệp không chỉ phụ thuộc vào thái độ cá nhân mà còn chịu tác động đồng thời của giáo dục, năng lực bản thân, vốn xã hội, tiếp cận tài chính, môi trường hỗ trợ, năng lực số và nhận thức cơ hội kinh doanh tại địa phương.
Đóng góp lý thuyết của nghiên cứu nằm ở việc mở rộng mô hình ý định khởi nghiệp trong bối cảnh nông thôn bằng cách xác định thái độ đối với khởi nghiệp là cơ chế trung gian và nhận thức rủi ro là điều kiện biên. Về thực tiễn, mô hình gợi ý rằng các chương trình hỗ trợ thanh niên nông thôn cần được thiết kế theo hướng đồng bộ: tăng cường giáo dục khởi nghiệp, nâng cao năng lực số, phát triển mạng lưới xã hội, mở rộng tiếp cận tài chính, hoàn thiện môi trường hỗ trợ địa phương và giúp thanh niên nhận diện cơ hội kinh doanh gắn với nguồn lực địa phương.
Nghiên cứu này có tính chất đề xuất mô hình nên chưa kiểm định bằng dữ liệu thực nghiệm. Các nghiên cứu tiếp theo cần phát triển thang đo phù hợp, thu thập dữ liệu từ thanh niên nông thôn tại Đắk Lắk và sử dụng các phương pháp định lượng như PLS-SEM hoặc CB-SEM để đánh giá độ tin cậy, giá trị thang đo, tác động trực tiếp, trung gian và điều tiết trong mô hình.
Tài liệu tham khảo:
1.Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T
2. Ardichvili, A., Cardozo, R., & Ray, S. (2003). A theory of entrepreneurial opportunity identification and development. Journal of Business Venturing, 18(1), 105-123. https://doi.org/10.1016/S0883-9026(01)00068-4
3. Bae, T. J., Qian, S., Miao, C., & Fiet, J. O. (2014). The relationship between entrepreneurship education and entrepreneurial intentions: A meta-analytic review. Entrepreneurship Theory and Practice, 38(2), 217-254. https://doi.org/10.1111/etap.12095
4. Bandura, A. (1997). Self-efficacy: The exercise of control. W. H. Freeman.
Becker, G. S. (1964). Human capital: A theoretical and empirical analysis, with special reference to education. Columbia University Press.
5. Bird, B. (1988). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. Academy of Management Review, 13(3), 442-453. https://doi.org/10.5465/amr.1988.4306970
6. Bourdieu, P. (2018). The forms of capital. In The sociology of economic life (pp. 78-92). Routledge.
7. Chen, C. C., Greene, P. G., & Crick, A. (1998). Does entrepreneurial self-efficacy distinguish entrepreneurs from managers? Journal of Business Venturing, 13(4), 295-316. https://doi.org/10.1016/S0883-9026(97)00029-3
8. Coleman, J. S. (1988). Social capital in the creation of human capital. American Journal of Sociology, 94, S95-S120. https://doi.org/10.1086/228943
9. Davidsson, P., & Honig, B. (2003). The role of social and human capital among nascent entrepreneurs. Journal of Business Venturing, 18(3), 301-331. https://doi.org/10.1016/S0883-9026(02)00097-6
10. Fatoki, O. O. (2010). Graduate entrepreneurial intention in South Africa: Motivations and obstacles. International Journal of Business and Management, 5(9), 87-98. https://doi.org/10.5539/ijbm.v5n9p87
11. Fishbein, M., & Ajzen, I. (1975). Belief, attitude, intention and behavior: An introduction to theory and research. Addison-Wesley.
12. Gnyawali, D. R., & Fogel, D. S. (1994). Environments for entrepreneurship development: Key dimensions and research implications. Entrepreneurship Theory and Practice, 18(4), 43-62. https://doi.org/10.1177/104225879401800403
13. Isenberg, D. J. (2010). How to start an entrepreneurial revolution. Harvard Business Review, 88(6), 40-50.
14. Kahneman, D., & Tversky, A. (1979). Prospect theory: An analysis of decision under risk. Econometrica, 47(2), 263-291. https://doi.org/10.2307/1914185
15. Kautonen, T., van Gelderen, M., & Fink, M. (2015). Robustness of the theory of planned behavior in predicting entrepreneurial intentions and actions. Entrepreneurship Theory and Practice, 39(3), 655-674. https://doi.org/10.1111/etap.12056
16. Krueger, N. F., Jr., & Carsrud, A. L. (1993). Entrepreneurial intentions: Applying the theory of planned behaviour. Entrepreneurship & Regional Development, 5(4), 315-330. https://doi.org/10.1080/08985629300000020
17. Liñán, F., & Chen, Y.-W. (2009). Development and cross-cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 33(3), 593-617. https://doi.org/10.1111/j.1540-6520.2009.00318.x
18. Liñán, F., & Santos, F. J. (2007). Does social capital affect entrepreneurial intentions? International Advances in Economic Research, 13(4), 443-453. https://doi.org/10.1007/s11294-007-9109-8
19. Nambisan, S. (2017). Digital entrepreneurship: Toward a digital technology perspective of entrepreneurship. Entrepreneurship Theory and Practice, 41(6), 1029-1055. https://doi.org/10.1111/etap.12254
20. Newman, A., Obschonka, M., Schwarz, S., Cohen, M., & Nielsen, I. (2019). Entrepreneurial self-efficacy: A systematic review of the literature on its theoretical foundations, measurement, antecedents, and outcomes, and an agenda for future research. Journal of Vocational Behavior, 110, 403-419. https://doi.org/10.1016/j.jvb.2018.05.012
21. Ng, H. S., Kee, D. M. H., & Khan, M. J. (2021). Effects of personality, education and opportunities on entrepreneurial intentions. Education + Training, 63(7/8), 992-1014. https://doi.org/10.1108/ET-02-2019-0040
22. Ng, H. S., Ramayah, T., Kee, D. M. H., Khan, M. J., & Khan, R. U. (2024). Examining the mediating role of the theory of planned behaviour in the links between personality, education, opportunities and entrepreneurial intentions. Journal of Infrastructure, Policy and Development, 8(10), Article 4974. https://doi.org/10.24294/jipd.v8i10.4974
23. Saeed, S., Yousafzai, S. Y., Yani-de-Soriano, M., & Muffatto, M. (2015). The role of perceived university support in the formation of students’ entrepreneurial intention. Journal of Small Business Management, 53(4), 1127-1145. https://doi.org/10.1111/jsbm.12090
24. Schlaegel, C., & Koenig, M. (2014). Determinants of entrepreneurial intent: A meta-analytic test and integration of competing models. Entrepreneurship Theory and Practice, 38(2), 291-332. https://doi.org/10.1111/etap.12087
25. Shane, S., & Venkataraman, S. (2000). The promise of entrepreneurship as a field of research. Academy of Management Review, 25(1), 217-226. https://doi.org/10.5465/amr.2000.2791611
26. Stam, E. (2015). Entrepreneurial ecosystems and regional policy: A sympathetic critique. European Planning Studies, 23(9), 1759-1769. https://doi.org/10.1080/09654313.2015.1061484
27. Ta, H. H., Layeghi, G., Delladio, S., Nguyen, V. H. A., & Caputo, A. (2025). Examining the impact of big five personality traits and digital competencies on digital entrepreneurial intention: The mediating role of digital self-efficacy. International Entrepreneurship and Management Journal, 21, Article 112. https://doi.org/10.1007/s11365-025-01143-z
28. Vamvaka, V., Stoforos, C., Palaskas, T., & Botsaris, C. (2020). Attitude toward entrepreneurship, perceived behavioral control, and entrepreneurial intention: Dimensionality, structural relationships, and gender differences. Journal of Innovation and Entrepreneurship, 9, Article 5. https://doi.org/10.1186/s13731-020-0112-0
29. Zhao, H., Seibert, S. E., & Hills, G. E. (2005). The mediating role of self-efficacy in the development of entrepreneurial intentions. Journal of Applied Psychology, 90(6), 1265-1272. https://doi.org/10.1037/0021-9010.90.6.1265
| Ngày nhận bài: 25/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/8/2026; Ngày duyệt đăng: 27/8/2026 |
Các tin khác
Xây dựng mô hình các chỉ báo tài chính và phi tài chính về khả năng hoạt động liên tục: Nghiên cứu từ các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam
Nâng cao hiệu quả kinh tế của đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp Việt Nam
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phát triển du lịch bền vững: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Công nghệ thông tin và năng suất lao động trong khu vực công: Phân tích thực nghiệm tại TP. Hải Phòng
Nợ công, chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế tại Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình Bayesian VAR với tiên nghiệm Minnesota
Tác động của các loại hình văn hóa tổ chức đến cảm nhận tính hữu ích của dự toán linh hoạt: Cách tiếp cận từ mô hình PLS - SEM tại Việt Nam
Tác động của vốn trí tuệ đến hành vi đổi mới sáng tạo của nhân viên: Tổng quan lý thuyết và định hướng mô hình nghiên cứu
Định hướng ESG và hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam: Tiếp cận hồi quy Bayes
Phân tích các nhân tố tác động đến sự hài lòng của du khách đối với phát triển du lịch bền vững tại Đặc khu Phú Quốc tỉnh An Giang
