Nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô

Nghiên cứu - Trao đổi 10:04 | 25/07/2026
Trong bối cảnh sinh viên ngày càng quan tâm đến tự tạo việc làm và phát triển ý tưởng kinh doanh, việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp sẽ giúp nhà trường có cơ sở xây dựng chương trình hỗ trợ phù hợp.

ThS. Hồ Kinh Thư, ThS. Trương Hữu Tâm

ThS. Trần Huỳnh Minh Thư

Email: Thuhkhatinh@gmail.com

ThS. Lê Thanh Toàn

Trường Đại học Tây Đô

Tóm tắt

Nghiên cứu xem xét tác động của chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi (theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch), năng lực bản thân trong khởi nghiệp và giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát từ 290 sinh viên và được phân tích bằng hồi quy tuyến tính bội để kiểm định các mối quan hệ trong mô hình. Kết quả cho thấy, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê đến Ý định khởi nghiệp. Trong khi đó, Năng lực bản thân trong khởi nghiệp không cho thấy ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng, các hoạt động giáo dục và hỗ trợ khởi nghiệp cần được triển khai đồng bộ nhằm thúc đẩy thái độ, niềm tin và ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Từ khóa: Khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp, giáo dục khởi nghiệp, Lý thuyết hành vi có kế hoạch

Abstract

This study examines the effects of subjective norms, perceived behavioral control (based on the Theory of Planned Behavior), entrepreneurial self-efficacy, and entrepreneurship education on students' entrepreneurial intention at Tay Do University. Data were collected through a questionnaire survey of 290 students and analyzed using multiple linear regression to test the relationships proposed in the research model. The results indicate that subjective norms, perceived behavioral control, and entrepreneurship education have positive and statistically significant effects on entrepreneurial intention. In contrast, entrepreneurial self-efficacy does not exhibit a statistically significant effect. The findings suggest that entrepreneurship education and support programs should be implemented in an integrated manner to strengthen students' attitudes, beliefs, and entrepreneurial intention.

Keywords: Entrepreneurship, entrepreneurial intention, entrepreneurship education, Theory of Planned Behavior

GIỚI THIỆU

Việc nghiên cứu ý định khởi nghiệp rất quan trọng vì đây là nền tảng dự báo khả năng một cá nhân trở thành doanh nhân (Mensah và cộng sự, 2021). Trong bối cảnh sinh viên ngày càng quan tâm đến tự tạo việc làm và phát triển ý tưởng kinh doanh, việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp sẽ giúp nhà trường có cơ sở xây dựng chương trình hỗ trợ phù hợp. Dựa trên Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), nghiên cứu này tập trung vào 2 thành phần là chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991; Fayolle và Gailly, 2015; Mensah và cộng sự, 2021); đồng thời bổ sung năng lực bản thân trong khởi nghiệp và giáo dục khởi nghiệp để làm rõ hơn các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Ý định khởi nghiệp

Ý định khởi nghiệp là sự nhận thức và quyết tâm của cá nhân trong việc tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Ahmed và cộng sự, 2019; Farrukh và cộng sự , 2018). Theo Al-Jubari và cộng sự (2019) đây là một quyết định có chủ đích, phản ánh xu hướng chuẩn bị cho các hành động khởi sự kinh doanh. Đối với sinh viên, ý định này thể hiện ở mong muốn phát triển ý tưởng kinh doanh và tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp sau khi học tập tại trường đại học.

Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)

TPB do Ajzen (1991) phát triển là lý thuyết được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu ý định khởi nghiệp (Fayolle và Gailly, 2015; Mensah và cộng sự, 2021; Urban và Kujinga, 2017). Trong nghiên cứu này, 2 yếu tố được xem xét là chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Chuẩn chủ quan phản ánh mức độ cá nhân chịu ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè và xã hội trong việc quyết định khởi nghiệp (Mensah và cộng sự, 2021). Với sinh viên Trường Đại học Tây Đô, sự ủng hộ từ người thân và môi trường xung quanh có thể thúc đẩy mong muốn khởi nghiệp. Nhận thức kiểm soát hành vi là mức độ cá nhân cảm nhận việc khởi nghiệp là dễ hay khó, đồng thời đánh giá khả năng thành công của bản thân trong quá trình đó (Liñán và Chen, 2009; Mensah và cộng sự, 2021). Khi sinh viên tin rằng mình có đủ khả năng và nguồn lực để khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp sẽ mạnh hơn. Do vậy, các giả thuyết sau được đề xuất:

H1: Chuẩn chủ quan có tác động tích cực và có ý nghĩa đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô.

H2: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực và có ý nghĩa đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô.

Năng lực bản thân trong khởi nghiệp

Năng lực bản thân trong khởi nghiệp là một cấu trúc gắn liền với niềm tin cá nhân. Những niềm tin này phản ánh khả năng và năng lực mà mỗi cá nhân sở hữu để thực hiện thành công một nhiệm vụ cụ thể (Hakyemez và Mardikyan, 2021; Mensah và cộng sự, 2021; Pihie, 2009). Cấu trúc này được xem là tiền đề của ý định khởi nghiệp và là công cụ thiết yếu hỗ trợ quá trình tạo lập doanh nghiệp mới, đồng thời là yếu tố quan trọng đối với hiệu quả học tập (Nguyen và cộng sự, 2021). Năng lực bản thân bao gồm các yếu tố như động lực và sự gắn kết trong việc theo đuổi nhiệm vụ, vốn là các khía cạnh dự báo cho ý định khởi nghiệp (Nguyen và cộng sự, 2021). Giáo dục đại học có thể cung cấp cho sinh viên những giá trị giúp họ phản ứng hiệu quả hơn trước những khó khăn của quá trình khởi nghiệp, giúp họ “kiên trì lâu hơn, bền bỉ trước thách thức và xây dựng kế hoạch cũng như chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu khởi nghiệp lớn hơn” (Mensah và cộng sự, 2021). Do vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H3: Năng lực bản thân trong khởi nghiệp có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô.

Giáo dục khởi nghiệp

Người ta thường chấp nhận rằng giáo dục khởi nghiệp dựa trên học tập từ trải nghiệm và hướng đến việc kết nối với thế giới kinh doanh và cộng đồng (Boon và cộng sự, 2013). Theo Jardim và cộng sự (2021), giáo dục hướng đến khởi nghiệp là lĩnh vực điển hình cho sự tiến bộ và phát triển của xã hội, là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gắn kết xã hội, thành công tổ chức và sự hoàn thiện cá nhân. Vì vậy, số lượng các chương trình giáo dục khởi nghiệp đã tăng lên nhanh chóng trong 2 thập niên qua. Trong bối cảnh mà tri thức được công nhận là vượt trội hơn nguồn lực vật chất như một yếu tố tạo ra giá trị và phúc lợi xã hội, giáo dục đại học và các cơ sở của nó ngày càng giữ vai trò quan trọng (Esteves, 2013). Trong bối cảnh Trường Đại học Tây Đô, giáo dục khởi nghiệp có thể góp phần hình thành tư duy đổi mới, nâng cao kỹ năng kinh doanh và thúc đẩy sinh viên quan tâm nhiều hơn đến việc khởi nghiệp. Do vậy, giả thuyết sau được đề xuất:

H4: Giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô.

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên 4 giả thuyết nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu về các yếu tố quyết định ý định khởi nghiệp (Hình).

Hình: Mô hình nghiên cứu

Nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện theo hướng định lượng, tập trung vào sinh viên đại học năm thứ 4 và học viên thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Tây Đô. Đơn vị phân tích là cá nhân; nguồn thông tin chính được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát. Mẫu nghiên cứu gồm 290 bảng khảo sát hợp lệ, chiếm 26,1% tổng thể mẫu, được thu thập từ tháng 2/2026. Dữ liệu được xử lý bằng phân tích mô hình cấu trúc, với sự hỗ trợ của SmatPLS 4.0.

Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, nhóm tác giả xây dựng bảng khảo sát gồm các thang đo về Chuẩn chủ quan (3 biến quan sát), Nhận thức kiểm soát hành vi (4 biến quan sát), Năng lực bản thân (5 biến quan sát) và Giáo dục khởi nghiệp (5 biến quan sát), được điều chỉnh từ Mensah và cộng sự (2021). Thang đo Ý định khởi nghiệp (6 biến quan sát) được điều chỉnh từ Al-Jubari và cộng sự (2019).

Nghiên cứu sử dụng hồi quy tuyến tính bội với SPSS 26.0 để kiểm định 4 giả thuyết về mối quan hệ giữa Chuẩn chủ quan (CCQ), Nhận thức kiểm soát hành vi (KSHV), Năng lực bản thân (NLKN) và Giáo dục khởi nghiệp (GDKN) với Ý định khởi nghiệp (YDKN).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Độ tin cậy của thang đo

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, các thang đo đều đạt độ tin cậy tốt, với Cronbach’s Alpha dao động từ 0,781 đến 0,892, cao hơn ngưỡng 0,7 theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2019). Các hệ số tương quan biến tổng đều đạt yêu cầu, nên không có biến quan sát nào cần loại bỏ. Như vậy, các thang đo đều đủ điều kiện để phân tích tiếp theo.

Bảng 1: Độ tin cậy của thang đo

Tên biến

Mã biến

Cronbach’s

Alpha

Tương quan

với biến tổng

Chuẩn chủ quan

CCQ1

0,832

0,567

CCQ2

0,799

CCQ3

0,728

Nhận thức kiểm soát hành vi

KSHV1

0,816

0,670

KSHV2

0,592

KSHV3

0,654

KSHV4

0,627

Năng lực bản thân trong khởi nghiệp

NLKN1

0,892

0,772

NLKN2

0,698

NLKN3

0,740

NLKN4

0,779

NLKN5

0,691

Giáo dục khởi nghiệp

GDKN1

0,781

0,547

GDKN2

0,560

GDKN3

0,558

GDKN4

0,586

GDKN5

0,526

Ý định khởi nghiệp

YDKN1

0,872

0,690

YDKN2

0,685

YDKN3

0,590

YDKN4

0,716

YDKN5

0,712

YDKN6

0,645

Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Phân tích nhân tố khám phá

Bảng 2 cho thấy, dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố với KMO = 0,888 và kiểm định Bartlett’s có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000). Các biến quan sát đều có tải nhân tố lớn hơn 0,6, không xuất hiện tải chéo đáng kể. Tổng phương sai trích đạt 65,258%, vượt mức yêu cầu tối thiểu theo Hair và cộng sự (2019) cho thấy, thang đo đạt giá trị hội tụ và phân biệt tốt.

Bảng 2: Ma trận xoay nhân tố

Mã biến

Các biến độc lập

Biến phụ thuộc

1

2

3

4

Mã biến

1

NLKN1

0,814

YDKN4

0,818

NLKN5

0,804

YDKN5

0,815

NLKN4

0,801

YDKN1

0,795

NLKN3

0,766

YDKN2

0,789

NLKN2

0,731

YDKN6

0,761

GDKN1

0,769

YDKN3

0,708

GDKN4

0,715

GDKN3

0,638

GDKN2

0,625

GDKN5

0,609

KSHV1

0,786

KSHV3

0,783

KSHV4

0,756

KSHV2

0,714

CCQ2

0,870

CCQ3

0,858

CCQ1

0,632

KMO

0,888

Sig. của kiểm định Bartlett's

0,00

Eigenvalues

1233

Tổng phương sai trích %

65,258

Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Phân tích tương quan Person

Bảng 3 cho thấy, các biến độc lập đều có tương quan dương và có ý nghĩa thống kê với Ý định khởi nghiệp (Sig. < 0,01). Trong đó, Chuẩn chủ quan có tương quan mạnh nhất với Ý định khởi nghiệp (r = 0,712), tiếp đến là Giáo dục khởi nghiệp (r = 0,574), Nhận thức kiểm soát hành vi (r = 0,556) và Năng lực bản thân trong khởi nghiệp (r = 0,345). Các hệ số tương quan giữa các biến độc lập đều dưới 0,7, cho thấy nguy cơ đa cộng tuyến thấp (Hair và cộng sự, 2019).

Bảng 3: Kết quả tương quan

YDKN

CCQ

KSHV

NLKN

GDKN

YDKN

1

0,712***

0,556***

0,345***

0,574***

CCQ

0,712***

1

0,483***

0,313***

0,473***

KSHV

0,556***

0,483***

1

0,288***

0,440***

NLKN

0,345***

0,313***

0,288***

1

0,252***

GDKN

0,574***

0,473***

0,440***

0,252***

1

Ghi chú: ***: sig < 0,001.

Nguồn: Phân tích dữ liệu của nhóm tác giả

Phân tích hồi quy

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê (Sig. F = 0,000), với R² hiệu chỉnh = 0,605, nghĩa là 4 biến độc lập giải thích được 60,5% sự biến thiên của Ý định khởi nghiệp. Giá trị Durbin-Watson = 1,782 cho thấy không có hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc nhất (Yahua Qiao, 2011). Các chỉ số VIF đều nhỏ hơn 2, nên không có đa cộng tuyến đáng kể.

Về mức độ tác động, Chuẩn chủ quan ảnh hưởng mạnh nhất đến Ý định khởi nghiệp (Beta = 0,492; Sig. = 0,000), tiếp đến là Giáo dục khởi nghiệp (Beta = 0,241; Sig. = 0,000) và Nhận thức kiểm soát hành vi (Beta = 0,205; Sig. = 0,000). Năng lực bản thân trong khởi nghiệp không có ý nghĩa thống kê (Beta = 0,023; Sig. = 0,587). Như vậy, các giả thuyết H1, H2 và H4 được chấp nhận, còn H3 bị bác bỏ.

THẢO LUẬN

Kết quả cho thấy, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Giáo dục khởi nghiệp tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô. Kết quả này phù hợp với TPB của Ajzen (1991) và tương đồng với các nghiên cứu trước của Mensah và cộng sự (2021), Fayolle và Gailly (2015), Urban và Kujinga (2017), Liñán và Fayolle (2015), theo đó ý định khởi nghiệp chịu ảnh hưởng rõ từ chuẩn mực xã hội, cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi và môi trường giáo dục. Điều này cho thấy, với sinh viên, sự ủng hộ từ gia đình, bạn bè cùng môi trường học tập có định hướng khởi nghiệp là những yếu tố quan trọng thúc đẩy mong muốn khởi sự kinh doanh.Riêng Năng lực bản thân trong khởi nghiệp không ảnh hưởng có ý nghĩa đến Ý định khởi nghiệp. Kết quả này khác với kỳ vọng lý thuyết của Hakyemez và Mardikyan (2021), Mensah và cộng sự (2021), Pihie (2009), Nguyen và cộng sự (2021). Một lý do có thể là sinh viên Trường Đại học Tây Đô tuy có nhận thức về năng lực cá nhân nhưng chưa chuyển hóa thành quyết tâm khởi nghiệp, do thiếu trải nghiệm thực tế, thiếu cơ hội thực hành kinh doanh hoặc còn e ngại rủi ro. Ngoài ra, trong bối cảnh sinh viên, ý định khởi nghiệp có thể chịu tác động mạnh hơn từ sự khuyến khích bên ngoài và môi trường đào tạo hơn là từ cảm nhận năng lực nội tại.Về hàm ý quản trị, các bên liên quan cần tăng cường các hoạt động truyền thông, cố vấn và kết nối doanh nhân để tạo sự ủng hộ từ gia đình và xã hội xung quanh sinh viên. Đồng thời, cần mở rộng các học phần, workshop, cuộc thi ý tưởng và trải nghiệm khởi nghiệp thực tế để nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi và củng cố niềm tin khởi nghiệp. Đối với năng lực bản thân, Nhà trường nên chú trọng các hoạt động thực hành và mô phỏng dự án để biến sự tự tin thành ý định khởi nghiệp rõ ràng hơn.

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI

Nghiên cứu cho thấy Ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Tây Đô chịu ảnh hưởng bởi Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Giáo dục khởi nghiệp; trong khi Năng lực bản thân trong khởi nghiệp chưa cho thấy tác động rõ ràng. Kết quả này gợi ý các bên liên quan cần tiếp tục tạo môi trường học tập và hỗ trợ khởi nghiệp thiết thực hơn cho sinh viên.Nghiên cứu còn hạn chế ở phạm vi khảo sát tại một trường đại học và mới dừng ở ý định khởi nghiệp. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng sang nhiều cơ sở đào tạo khác, đồng thời bổ sung các yếu tố như hỗ trợ tài chính, ảnh hưởng gia đình và kinh nghiệm thực tiễn để tăng khả năng giải thích của mô hình.

Tài liệu tham khảo:

1. Ahmed, T., Klobas, J. E., & Ramayah, T. (2019). Personality traits, demographic factors and entrepreneurial intentions: Improved understanding from a moderated mediation study. Entrepreneurship Research Journal, 1-16.

2. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

3. Al-Jubari, I., Hassan, A., & Liñán, F. (2019). Entrepreneurial intention among university students in Malaysia: Integrating self-determination theory and the theory of planned behavior. International Entrepreneurship and Management Journal, 15(4), 1323-1342.

4. Boon, J., Van der Klink, M., & Janssen, J. (2013). Fostering intrapreneurial competencies of employees in the education sector. International Journal of Training and Development, 17(3), 210-220.

5. Esteves, P. C. (2013). Universidade como centro de um sistema regional de inovação: O caso campus Araranguá da Universidade Federal de Santa Catarina. Luận văn thạc sĩ, Universidade Federal de Santa Catarina.

6. Farrukh, M., Alzubi, Y., Shahzad, I. A., Waheed, A., & Kanwal, N. (2018). Entrepreneurial intentions. Asia Pacific Journal of Innovation and Entrepreneurship, 12(3), 399-414.7. Fayolle, A., & Gailly, B. (2015). The impact of entrepreneurship education on entrepreneurial attitudes and intention: Hysteresis and persistence. Journal of Small Business Management, 53(1), 75-93.

8. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th ed.). Pearson Prentice Hall.

9. Hakyemez, T. C., & Mardikyan, S. (2021). The interplay between institutional integration and self-efficacy in the academic performance of first-year university students: A multigroup approach. The International Journal of Management Education, 19(1), 1-21.

10. Jardim, J., Bártolo, A., & Pinho, A. (2021). Towards a global entrepreneurial culture: A systematic review of the effectiveness of entrepreneurship education programs. Education Sciences, 11(8), 398.

11. Liñán, F., & Chen, Y. W. (2009). Development and cross-cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 33(3), 593-617.

12. Liñán, F., & Fayolle, A. (2015). A systematic literature review on entrepreneurial intentions: Citation, thematic analyses, and research agenda. International Entrepreneurship and Management Journal, 11(4), 907-933.

13. Mensah, I. K., Zeng, G., Luo, C., Xiao, Z., & Lu, M. (2021). Exploring the predictors of Chinese college students’ entrepreneurial intention. SAGE Open, 11(3), 1-14.

14. Nguyen, T. T., Nguyen, L. T., Phan, H. T., & Vu, A. T. (2021). Impact of entrepreneurship extracurricular activities and inspiration on entrepreneurial intention: Mediator and moderator effect. SAGE Open, 11(3), 1-13. https://doi.org/10.1177/21582440211032174

15. Pihie, Z. L. (2009). Entrepreneurship as a career choice: An analysis of entrepreneurial self-efficacy and intention of university students. European Journal of Social Sciences, 9(2), 338-349.

16. Urban, B., & Kujinga, L. (2017). The institutional environment and social entrepreneurship intentions. International Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 23(4), 638-655.

17. Yahua Qiao (2011). Interstate variations in local government revenue diversification: A longitudinal study.

Ngày nhận bài: 5/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/7/2026; Ngày duyệt đăng: 21/7/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"