Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Nghiên cứu - Trao đổi 09:56 | 09/09/2026
Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.

Phan Văn Nam, Lê Hồng Tuyên

Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ; Email: pvnam@ctuet.edu.vn

Nguyễn Anh Dũng

Công ty cổ phần Thư viện số Việt Nam

Nguyễn Duy Quân

Công ty cổ phần Công nghệ và Giải pháp Ogori Blockchain Việt Nam

Trần Quốc Thình

Thuế cơ sở 2 tỉnh An Giang

Đoàn Thị Hồng Hạnh

P. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Bài viết đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên công nghệ chuỗi khối (Blockchain) nhằm phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học. Trên cơ sở lý thuyết chi phí giao dịch của Coase và Williamson, lý thuyết thể chế của North, kinh tế học hàng hóa thông tin của Shapiro và Varian, lý thuyết nền tảng 2 phía của Rochet và Tirole, cùng các tiếp cận về quản trị bản quyền số của Lessig, De Filippi và Wright, bài viết lập luận rằng “nút thắt” của thư viện số không nằm ở số hóa tài liệu, mà nằm ở niềm tin, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế phân phối giá trị. Mô hình ViLIB được đề xuất với 4 trụ cột: định danh liên thông, quản trị quyền số, tìm kiếm phân tán và đối soát minh bạch bằng Blockchain. Kết quả phân tích cho thấy, ViLIB có thể giảm chi phí giao dịch, mở rộng khả năng tiếp cận học liệu, gia tăng hiệu quả khai thác tài sản tri thức số và hình thành cơ chế thị trường minh bạch cho học liệu số trong giáo dục đại học.

Từ khóa: Học liệu số, thư viện số liên thông, kinh tế nền tảng, Blockchain, bản quyền số, chi phí giao dịch, ViLIB

Abstract

This article proposes the ViLIB interoperable digital library platform model, based on Blockchain technology, to develop the digital learning resources market in higher education. Drawing on Coase’s and Williamson’s transaction cost theory, North’s institutional theory, Shapiro and Varian’s economics of information goods, Rochet and Tirole’s two-sided platform theory, and approaches to digital copyright governance developed by Lessig, De Filippi, and Wright, the article argues that the “bottleneck” of digital libraries lies not in document digitization but in trust, intellectual property rights, and value distribution mechanisms. The ViLIB model is proposed with four pillars: interoperable identification, digital rights management, distributed search, and transparent reconciliation through Blockchain. The analysis shows that ViLIB can reduce transaction costs, expand access to learning resources, improve the utilization of digital knowledge assets, and establish a transparent market mechanism for digital learning resources in higher education.

Keywords: Digital learning resources, interoperable digital library, platform economy, Blockchain, digital copyright, transaction costs, ViLIB

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất, lưu thông và khai thác tri thức trong giáo dục đại học. Nếu trước đây học liệu chủ yếu được tổ chức dưới dạng bản in, phân phối thông qua thư viện vật lý và lớp học truyền thống, thì hiện nay sách điện tử, giáo trình số, bài giảng điện tử, luận văn, luận án, cơ sở dữ liệu khoa học, sách nói và tài nguyên giáo dục mở có thể được lưu trữ, tìm kiếm, chia sẻ và khai thác trên môi trường số. Sự chuyển dịch này làm cho học liệu trở thành một loại hàng hóa thông tin có chi phí sao chép cận biên thấp nhưng chi phí tạo lập, kiểm định, cấp phép và bảo vệ quyền lại tương đối cao. Cách tiếp cận này phù hợp với lập luận của Shapiro và Varian cho rằng giá trị của hàng hóa thông tin không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở cơ chế định giá, kiểm soát quyền truy cập, phiên bản hóa và phân phối (Shapiro & Varian, 1999).

Về mặt thị trường, học liệu số có tiềm năng lớn vì Việt Nam có nền tảng người dùng số rộng. Theo báo cáo Digital 2025: Vietnam của DataReportal (Kemp, 2025), Việt Nam có khoảng 79,8 triệu người dùng internet vào tháng 01/2025, tương đương 78,8% dân số, tạo điều kiện thuận lợi cho các nền tảng dịch vụ tri thức số. Bên cạnh đó, báo cáo e-Conomy SEA 2024 của Google, Temasek và Bain & Company (2024) cho biết tổng giá trị hàng hóa của kinh tế số Việt Nam dự kiến đạt 36 tỷ USD năm 2024, cho thấy hành vi tiêu dùng, thanh toán và giao dịch trên nền tảng số ngày càng phổ biến. Trong bối cảnh đó, học liệu số cần được nhìn nhận như một cấu phần của kinh tế số giáo dục, thay vì chỉ là hoạt động phụ trợ của thư viện.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển thư viện số cho thấy “nút thắt” lớn nhất hiện nay không phải là việc tạo ra file PDF hay xây dựng kho lưu trữ cục bộ. Tài liệu thiết kế ViLIB cũng xác định rằng khi tài nguyên tri thức chuyển sang môi trường số, khó khăn lớn nhất không còn là số hóa và lưu trữ, mà là 3 câu hỏi: tài nguyên thuộc quyền của ai, được khai thác đến đâu, và giá trị phát sinh được ghi nhận, chia sẻ như thế nào. Đây chính là vấn đề kinh tế học của quyền sở hữu, chi phí giao dịch và niềm tin thị trường.

Từ góc độ kinh tế học thể chế, thị trường chỉ vận hành hiệu quả khi quyền tài sản được xác lập rõ, hợp đồng có thể thực thi và chi phí giao dịch được giảm thiểu (Coase, 1937; Williamson, 1985; North, 1990). Với học liệu số, quyền không đơn giản là “có bản quyền” hay “không có bản quyền”, mà bao gồm nhiều lớp: quyền đọc, quyền tải, quyền in, quyền chia sẻ, quyền khai thác thương mại, giới hạn số người dùng đồng thời, thời hạn sử dụng, phạm vi lãnh thổ và nghĩa vụ thanh toán. Nếu thiếu cơ chế xác minh, đo lường và đối soát, các thư viện và chủ thể quyền sẽ ngại chia sẻ tài nguyên vì sợ mất kiểm soát quyền sở hữu trí tuệ.

Vì vậy, bài viết này đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain nhằm phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học. Trọng tâm của bài viết không phải là mô tả một phần mềm thư viện mà là xây dựng mô hình tích hợp kinh tế và công nghệ để giải quyết 3 vấn đề: giảm chi phí giao dịch, tạo lập niềm tin và phân phối giá trị minh bạch trong khai thác học liệu số.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Lý thuyết chi phí giao dịch và quyền sở hữu: Coase (1937) cho rằng doanh nghiệp tồn tại vì giao dịch qua thị trường phát sinh các chi phí như tìm kiếm thông tin, đàm phán, ký kết và giám sát hợp đồng. Williamson (1985) phát triển quan điểm này khi chỉ ra rằng giao dịch càng phức tạp, có tính chuyên biệt tài sản cao và khó giám sát thì càng cần cơ chế quản trị phù hợp.

Trong thị trường học liệu số, chi phí giao dịch phát sinh từ xác định chủ thể quyền, kiểm tra giấy phép, phân quyền truy cập, ghi nhận lượt sử dụng, thanh toán bản quyền và xử lý tranh chấp. Nếu mỗi thư viện vận hành một hệ thống riêng, các chi phí này bị lặp lại. Nền tảng liên thông như ViLIB có thể giảm chi phí thông qua chuẩn hóa metadata quyền, qua đó biểu diễn có cấu trúc các điều kiện về phạm vi sử dụng, thời hạn, số người dùng và nghĩa vụ thanh toán để hệ thống tự động kiểm tra và đối soát.

Theo North (1990), thể chế giúp giảm bất định và tạo cấu trúc ổn định cho các tương tác kinh tế. Trong ViLIB, Blockchain có thể tạo bản ghi giao dịch khó bị sửa đổi mà không để lại dấu vết, còn Smart Contract có thể tự động tính và phân chia tiền bản quyền theo các điều kiện đã thỏa thuận. Vì vậy, Blockchain và Smart Contract không chỉ là công nghệ mà còn hỗ trợ thể chế hóa giao dịch học liệu số, tăng tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và giảm chi phí giao dịch giữa các bên.

Hàng hóa thông tin và tài sản tri thức số: Shapiro và Varian (1999) cho rằng hàng hóa thông tin có chi phí sản xuất ban đầu cao nhưng chi phí tái sản xuất thấp, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận nhưng cũng làm gia tăng thách thức về định giá và bảo vệ bản quyền. Với học liệu số, một tài nguyên sau khi số hóa có thể phục vụ số lượng lớn người dùng, vì vậy cần áp dụng quản lý quyền số (DRM), kết hợp thủy vân số, định danh người dùng và kiểm soát truy cập để giới hạn việc sao chép, in, tải xuống và chia sẻ theo phạm vi được cấp phép.

Benkler (2006) nhấn mạnh sự phát triển của các mô hình sản xuất tri thức phi tập trung và dựa trên mạng lưới. Tuy nhiên, học liệu đại học bao gồm cả tài nguyên giáo dục mở và tài nguyên thuộc quyền của tác giả, nhà xuất bản hoặc cơ sở nghiên cứu. Do đó, thị trường học liệu số cần mô hình lai ghép, vừa mở rộng tiếp cận tri thức, vừa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và duy trì động lực kinh tế cho các chủ thể quyền.

Kinh tế nền tảng và thị trường 2 phía: Kinh tế nền tảng và thị trường 2 phía: Rochet và Tirole (2003) cho rằng nền tảng chỉ tạo được giá trị khi thu hút được nhiều phía của thị trường cùng tham gia. Eisenmann, Parker và Van Alstyne (2006) cũng nhấn mạnh yêu cầu đồng thời thu hút và cân bằng lợi ích giữa các nhóm người dùng.

ViLIB có thể được xem là một nền tảng nhiều phía, kết nối chủ thể cung cấp học liệu, người sử dụng và các tổ chức trung gian như thư viện, cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và đơn vị vận hành. Giá trị của nền tảng tăng khi số lượng thành viên và tài nguyên tham gia mở rộng, qua đó hình thành hiệu ứng mạng. Tuy nhiên, hiệu ứng này chỉ bền vững khi các vấn đề về quyền, niềm tin và phân phối lợi ích được giải quyết. Theo Parker và cộng sự (2016), giá trị nền tảng nằm ở khả năng thúc đẩy các tương tác có giá trị giữa các bên. Vì vậy, giá trị của ViLIB không chỉ thể hiện ở số lượng học liệu số mà còn ở số giao dịch tri thức hợp pháp, khả năng tiếp cận và cơ chế phân phối lợi ích minh bạch.

Bản quyền số, DRM và luận điểm “code is law”: Lessig (1999) cho rằng kiến trúc phần mềm có thể trực tiếp cho phép hoặc giới hạn hành vi của người dùng, theo đó, “code is law” hàm ý rằng mã lệnh cũng tạo ra các quy tắc vận hành trong môi trường số. Với thư viện số, các điều kiện cấp phép cần được chuyển hóa thành cấu hình kỹ thuật như phạm vi truy cập, thời hạn sử dụng, quyền tải xuống, in và ghi nhận lượt sử dụng.

De Filippi và Wright (2018) cho rằng Blockchain cho phép một số quy tắc được tự động hóa bằng mã nhưng việc chuyển toàn bộ luật và hợp đồng thành mã là không khả thi do quy phạm pháp lý còn phụ thuộc vào diễn giải và bối cảnh. Vì vậy, trong ViLIB, Smart Contract nên hỗ trợ ghi nhận, thực thi và đối soát các điều khoản hợp pháp thay vì thay thế hợp đồng pháp lý. Đồng thời, DRM cần được thiết kế theo nguyên tắc tương xứng giữa bảo vệ quyền và bảo đảm khả năng tiếp cận học thuật (Roncevic, 2020). Do các ngoại lệ bản quyền dành cho thư viện khác nhau giữa các quốc gia (Crews, 2017), cơ chế DRM và kiểm soát truy cập của ViLIB cần phù hợp với pháp luật Việt Nam.

Blockchain và kinh tế học của xác minh: Nakamoto (2008) đề xuất Bitcoin như một hệ thống tiền điện tử ngang hàng, trong đó lịch sử giao dịch được liên kết bằng hàm băm và cơ chế bằng chứng công việc. Dù ViLIB không phải là hệ thống tiền mã hóa, nguyên lý ghi nhận dữ liệu theo chuỗi liên kết bằng mật mã và khả năng kiểm chứng của sổ cái phân tán vẫn phù hợp với nhu cầu đối soát lượt đọc và chia sẻ doanh thu trong thị trường học liệu số. Catalini và Gans (2016) lập luận rằng Blockchain có thể làm giảm chi phí xác minh và chi phí mạng lưới, từ đó tác động đến đổi mới và cạnh tranh trong nền tảng số. Christidis và Devetsikiotis (2016) cũng cho rằng Blockchain và Smart Contract có thể hỗ trợ các mô hình kinh doanh phân tán mới thông qua tự động hóa giao dịch và giảm phụ thuộc vào trung gian. Đối với ViLIB, Blockchain không cần lưu trữ toàn văn sách hoặc giáo trình. Cách phù hợp hơn là ghi mã băm (hash) của tệp lên chuỗi. Mã băm đóng vai trò như dấu vân tay số, giúp kiểm tra tệp có bị thay đổi hay không mà không cần đưa nội dung tài liệu lên Blockchain. Chuỗi cũng có thể ghi nhận sự kiện cấp quyền, nhật ký truy cập hợp lệ và kết quả đối soát. Nội dung học liệu được lưu ngoài chuỗi khối (off-chain), trên hạ tầng lưu trữ riêng có cơ chế bảo mật và kiểm soát truy cập. Blockchain khi đó được sử dụng như lớp bằng chứng và đối soát. Cách tổ chức này giúp giảm chi phí vận hành, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tránh đưa nội dung có bản quyền lên chuỗi công khai.

Chuẩn metadata và chuẩn đo lường sử dụng: Một thị trường học liệu số không thể vận hành nếu thiếu chuẩn dữ liệu. Dublin Core cung cấp một tập thuật ngữ metadata dùng để mô tả tài nguyên số, trong đó có nhan đề, tác giả, chủ đề, nhà xuất bản, ngày tháng, định dạng và quyền (DCMI Usage Board, 2020). ODRL dùng để biểu đạt chính sách quyền dưới dạng dữ liệu máy có thể đọc; chính sách có thể nêu hành vi được phép hoặc bị cấm, nghĩa vụ đi kèm và các ràng buộc sử dụng (W3C, 2018). PREMIS phục vụ bảo quản tài nguyên số dài hạn. Bốn thực thể cốt lõi gồm Đối tượng (Objects), Sự kiện (Events), Quyền (Rights) và Tác nhân (Agents) hỗ trợ ghi lại vòng đời của tài nguyên số (PREMIS Editorial Committee, 2015). COUNTER phiên bản 5.1 chuẩn hóa cách ghi nhận và báo cáo dữ liệu sử dụng tài nguyên điện tử; phiên bản này trở thành yêu cầu tuân thủ từ tháng 01/2025 (Project COUNTER, 2023). Nhờ các chuẩn chung, số liệu sử dụng giữa các thư viện có thể được so sánh và dùng làm cơ sở đáng tin cậy hơn cho đối soát. Tài liệu ViLIB cũng đề xuất quy trình V-RAMS gồm Verification, Rights metadata, Authorization, Measurement và Settlement, tương ứng với xác minh quyền, ghi nhận metadata quyền, phân quyền khai thác, đo lường sử dụng và đối soát hoặc phân bổ lợi ích. Đây là điểm có thể kết nối trực tiếp giữa chuẩn thư viện số quốc tế và mô hình kinh tế nền tảng cho học liệu số.

SO SÁNH VILIB VỚI CÁC NỀN TẢNG THƯ VIỆN TRUYỀN THỐNG

Các nền tảng như Koha, DSpace và Greenstone có vai trò quan trọng trong hiện đại hóa thư viện. Koha là hệ thống thư viện tích hợp mã nguồn mở với các mô-đun như biên mục, lưu thông và quản lý bạn đọc (Koha Community, n.d.). DSpace là nền tảng kho lưu trữ số được hơn 3.000 tổ chức sử dụng trên toàn thế giới (DSpace, n.d.). Greenstone là bộ phần mềm mã nguồn mở dùng để xây dựng và phân phối các bộ sưu tập thư viện số (Greenstone Digital Library Software, n.d.). Các tài liệu chính thức của 3 hệ thống này mô tả chúng chủ yếu theo vai trò quản trị thư viện, kho lưu trữ hoặc xây dựng bộ sưu tập số; vì vậy, chúng không được thiết kế ngay từ đầu như một thị trường học liệu số liên thông nhiều bên. Trong khi đó, ViLIB hướng đến mô hình phần mềm dịch vụ (SaaS) dùng chung cho nhiều thư viện. Với SaaS, phần mềm được cung cấp qua mạng, giúp các thư viện sử dụng hệ thống mà không phải tự cài đặt và vận hành máy chủ riêng. Mỗi thư viện vẫn có không gian quản trị riêng và có thể chia sẻ tài nguyên theo hợp đồng, gói quyền, nhóm người dùng hoặc lượt sử dụng.

Điểm khác biệt kinh tế quan trọng là ViLIB không chỉ trả lời câu hỏi “lưu trữ tài liệu ở đâu”, mà trả lời câu hỏi “tài nguyên này được khai thác hợp pháp như thế nào, ai được hưởng lợi và dữ liệu sử dụng được đối soát ra sao”. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy thư viện số như kho tài liệu sang thư viện số như một hạ tầng thị trường tri thức.

MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT VILIB

Định danh liên thông: ViLIB cần đóng vai trò đầu mối xác thực trung gian. Hệ thống sử dụng OAuth 2.0 cho cơ chế ủy quyền truy cập (Hardt, 2012) và OpenID Connect cho xác thực danh tính trên nền OAuth 2.0 (Sakimura và cộng sự. 2014). Người dùng đăng nhập bằng tài khoản của trường thông qua cơ chế đăng nhập một lần (SSO). Sau khi xác thực, nhà cung cấp danh tính có thể trả về ID token chứa các thông tin định danh cần thiết; access token được cấp khi ViLIB cần truy cập tài nguyên hoặc API theo phạm vi đã được ủy quyền. Vì vậy, ViLIB không cần lưu mật khẩu của người dùng. ViLIB chỉ dựa vào thông tin định danh đã được trường xác nhận để cấp quyền truy cập theo chính sách. Cơ chế này làm giảm chi phí xác thực và cho phép sinh viên trường A truy cập tài nguyên trường B nếu có thỏa thuận cấp quyền.

Quản trị quyền số: Mỗi học liệu khi đưa lên ViLIB phải có hồ sơ quyền, metadata quyền và trạng thái khai thác. Một tài nguyên chỉ được khai thác khi xác định rõ chủ thể quyền, phạm vi sử dụng, thời hạn, nhóm người dùng, giới hạn tải xuống, nghĩa vụ thanh toán và cơ chế chấm dứt. Cách làm này phù hợp với lý thuyết quyền sở hữu, vì tài sản chỉ có thể tham gia thị trường khi quyền sử dụng được xác lập và có thể thực thi.

Blockchain và Smart Contract: Blockchain được sử dụng để ghi nhận bằng chứng về tài nguyên, giao dịch cấp quyền, lượt sử dụng hợp lệ và kết quả đối soát. Smart Contract có thể tự động hóa công thức phân phối lợi ích giữa thư viện cung cấp tài nguyên, thư viện khai thác và chủ thể quyền. Tuy nhiên, Blockchain không thay thế hợp đồng pháp lý. Hợp đồng vẫn là căn cứ gốc, còn Blockchain là cơ chế ghi nhận và kiểm chứng.

Tìm kiếm phân tán: ViLIB tích hợp Elasticsearch hoặc công cụ tương đương để tìm kiếm toàn văn trên khối dữ liệu lớn, hỗ trợ tìm gần đúng và xếp hạng kết quả theo mức độ liên quan. Dữ liệu được tổ chức theo mô hình multi-tenant. Nhiều thư viện cùng sử dụng một hạ tầng, nhưng mỗi thư viện có không gian dữ liệu và quyền quản trị riêng; dữ liệu của đơn vị khác chỉ được truy cập khi có thỏa thuận chia sẻ. Mỗi tài nguyên được gắn với thư viện sở hữu, phạm vi chia sẻ, trạng thái quyền và nhóm người dùng được phép truy cập. Khi người dùng tìm kiếm, hệ thống chỉ hiển thị tài nguyên thuộc thư viện của họ hoặc tài nguyên đã được chia sẻ hợp lệ. Như vậy, tìm kiếm trở thành công cụ giảm chi phí tìm kiếm và kích hoạt giao dịch học liệu.

DRM và chống cào dữ liệu: ViLIB cần áp dụng cơ chế đọc trực tuyến có kiểm soát bản quyền (streaming DRM). Nội dung được truyền đến trình duyệt theo từng phần trong thời gian đọc, thay vì cung cấp toàn bộ tệp để người dùng tải về. Các biện pháp bảo vệ có thể gồm chia nhỏ dữ liệu, thủy vân động (dynamic watermark), tức dấu chìm mang thông tin tài khoản và thời điểm truy cập trên từng trang. Cơ chế này giúp truy nguyên nguồn phát tán nếu tài liệu bị chụp màn hình hoặc chia sẻ trái phép. Hệ thống cũng có thể sử dụng đường dẫn truy cập tạm thời chỉ có hiệu lực trong thời gian ngắn. Ngoài ra, ViLIB có thể giới hạn tốc độ truy cập, phát hiện hành vi bất thường và tạm khóa tài khoản khi có dấu hiệu cào dữ liệu. Tuy nhiên, các biện pháp này phải cân bằng với quyền tiếp cận hợp pháp, nhất là đối với người học, nhà nghiên cứu và người khuyết tật.

SỐ LIỆU MINH CHỨNG VÀ MÔ PHỎNG KINH TẾ

Có thể minh họa tiềm năng của thị trường học liệu số bằng một kịch bản thận trọng. Nếu một nền tảng thư viện số liên thông thu hút 500.000 người dùng hoạt động, mỗi người phát sinh trung bình 2 lượt đọc hợp lệ mỗi tháng, tổng số lượt đọc có đối soát đạt 1 triệu lượt/tháng. Nếu phí bản quyền hoặc phí phân bổ bình quân là 1.000 đồng/lượt, tổng giá trị giao dịch đạt 1 tỷ đồng/tháng, tương đương 12 tỷ đồng/năm. Nếu mở rộng lên 2 triệu lượt đọc/tháng, giá trị giao dịch có thể đạt 24 tỷ đồng/năm. Đây không phải dự báo doanh thu, mà là mô phỏng để cho thấy giá trị kinh tế của học liệu số chỉ hình thành khi có cơ chế đo lường và đối soát.

Bộ chỉ số thí điểm của ViLIB nên bao gồm: tỷ lệ tài nguyên có hồ sơ quyền đầy đủ, tỷ lệ metadata quyền hoàn chỉnh, số khiếu nại bản quyền trên 1.000 tài nguyên, thời gian xử lý khiếu nại, tỷ lệ đối soát đúng hạn, sai lệch đối soát và mức độ hài lòng của chủ thể quyền. Tài liệu ViLIB đã đề xuất các ngưỡng như tỷ lệ tài nguyên có hồ sơ quyền đầy đủ ≥ 95%, tỷ lệ đầy đủ trường metadata quyền bắt buộc ≥ 98%, tỷ lệ đối soát đúng hạn ≥ 95% và sai lệch đối soát ≤ 1%.

THẢO LUẬN

Đóng góp chính của ViLIB là chuyển đổi thư viện số từ mô hình kho lưu trữ sang mô hình nền tảng thị trường tri thức. Trong mô hình kho lưu trữ, mỗi trường tự số hóa, tự quản lý và tự phục vụ người dùng của mình. Cách làm này tạo ra phân mảnh, trùng lặp chi phí và hạn chế khả năng khai thác tài sản tri thức. Trong mô hình nền tảng, ViLIB tạo ra một hạ tầng dùng chung, trong đó tài nguyên có thể được cấp quyền, truy cập, đo lường và phân phối lợi ích giữa nhiều bên.

Về mặt kinh tế, ViLIB có thể tạo ra 3 loại hiệu quả. Thứ nhất là hiệu quả quy mô, vì nhiều thư viện cùng dùng chung hạ tầng. Thứ hai là hiệu quả phạm vi, vì một nền tảng có thể tích hợp sách điện tử, giáo trình, luận văn, bài giảng, tài nguyên mở và tài nguyên trả phí. Thứ ba là hiệu ứng mạng, vì giá trị nền tảng tăng khi có thêm thư viện, tài nguyên và người dùng tham gia.

Tuy nhiên, mô hình này cũng có rủi ro. Rủi ro thứ nhất là thương mại hóa quá mức, làm suy giảm chức năng công cộng của thư viện đại học. Rủi ro thứ hai là tập trung dữ liệu hành vi đọc, ảnh hưởng đến quyền riêng tư của người dùng. Rủi ro thứ ba là phụ thuộc vào nền tảng, khiến các thư viện mất năng lực tự chủ nếu không có cơ chế quản trị minh bạch. Vì vậy, ViLIB cần có hội đồng giám sát gồm đại diện thư viện, chủ thể quyền, chuyên gia pháp lý, chuyên gia dữ liệu và đại diện người dùng.

KẾT LUẬN

Bài viết đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain nhằm phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học. Trên nền tảng lý thuyết chi phí giao dịch, kinh tế nền tảng, hàng hóa thông tin và quản trị bản quyền số, bài viết cho rằng rào cản lớn nhất của thị trường học liệu số không phải là số hóa tài liệu, mà là quyền, niềm tin và cơ chế phân phối giá trị. ViLIB có thể góp phần giảm chi phí giao dịch, mở rộng khả năng tiếp cận học liệu, tăng hiệu quả khai thác tài sản tri thức số và tạo lập cơ chế đối soát minh bạch giữa các bên.

Hàm ý chính sách là cần thúc đẩy chuẩn hóa metadata quyền, xây dựng cơ chế cấp phép học liệu số theo liên minh thư viện, thí điểm đối soát lượt sử dụng theo chuẩn quốc tế và ban hành hướng dẫn bảo vệ dữ liệu người đọc trong môi trường thư viện số. Hướng nghiên cứu tiếp theo là triển khai thí điểm ViLIB tại một nhóm trường đại học, thu thập dữ liệu thực nghiệm về số tài nguyên, lượt đọc, chi phí vận hành, khiếu nại bản quyền, mức độ hài lòng và hiệu quả phân phối lợi ích.

Tài liệu tham khảo

1. Benkler, Y. (2006). The wealth of networks: How social production transforms markets and freedom. Yale University Press.

2. Catalini, C., & Gans, J. S. (2016). Some simple economics of the blockchain (NBER Working Paper No. 22952). National Bureau of Economic Research. https://doi.org/10.3386/w22952

3. Christidis, K., & Devetsikiotis, M. (2016). Blockchains and smart contracts for the Internet of Things. IEEE Access, 4, 2292–2303. https://doi.org/10.1109/ACCESS.2016.2566339

4. Coase, R. H. (1937). The nature of the firm. Economica, 4(16), 386–405. https://doi.org/10.1111/j.1468-0335.1937.tb00002.x

5. Crews, K. D. (2017). Study on copyright limitations and exceptions for libraries and archives: Updated and revised (2017 edition) (SCCR/35/6). World Intellectual Property Organization. https://www.wipo.int/meetings/en/doc_details.jsp?doc_id=389654

6. DCMI Usage Board. (2020). DCMI metadata terms. Dublin Core Metadata Initiative. https://www.dublincore.org/specifications/dublin-core/dcmi-terms/2020-01-20/

7. De Filippi, P., & Wright, A. (2018). Blockchain and the law: The rule of code. Harvard University Press. https://doi.org/10.4159/9780674985933

8. DSpace. (n.d.). Features. https://dspace.org/features/

9. Eisenmann, T., Parker, G., & Van Alstyne, M. W. (2006). Strategies for two-sided markets. Harvard Business Review, 84(10), 92–101.

10. Google, Temasek, & Bain & Company. (2024). e-Conomy SEA 2024: Profits on the rise, harnessing SEA’s advantage. https://economysea.withgoogle.com/

11. Greenstone Digital Library Software. (n.d.). About Greenstone. https://www.greenstone.org/

12. Hardt, D. (2012). The OAuth 2.0 authorization framework (RFC 6749). RFC Editor. https://doi.org/10.17487/RFC6749

13. Kemp, S. (2025, March 3). Digital 2025: Vietnam. DataReportal. https://datareportal.com/reports/digital-2025-vietnam

14. Koha Community. (n.d.). About Koha. https://koha-community.org/about/

15. Lessig, L. (1999). Code and other laws of cyberspace. Basic Books.

16. Nakamoto, S. (2008). Bitcoin: A peer-to-peer electronic cash system. https://bitcoin.org/bitcoin.pdf

17. North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press. https://doi.org/10.1017/CBO9780511808678

18. Parker, G. G., Van Alstyne, M. W., & Choudary, S. P. (2016). Platform revolution: How networked markets are transforming the economy and how to make them work for you. W. W. Norton & Company.

19. PREMIS Editorial Committee. (2015). PREMIS data dictionary for preservation metadata (Version 3.0). Library of Congress. https://www.loc.gov/standards/premis/v3/

20. Project COUNTER. (2023). COUNTER Code of Practice Release 5.1. https://cop5.projectcounter.org/en/5.1/

21. Rochet, J.-C., & Tirole, J. (2003). Platform competition in two-sided markets. Journal of the European Economic Association, 1(4), 990–1029. https://doi.org/10.1162/154247603322493212

22. Roncevic, M. (2020). Digital rights management and books. Library Technology Reports, 56(1), 5–30. https://doi.org/10.5860/ltr.56n1

23. Sakimura, N., Bradley, J., Jones, M., de Medeiros, B., & Mortimore, C. (2014). OpenID Connect Core 1.0. OpenID Foundation. https://openid.net/specs/openid-connect-core-1_0.html

24. Shapiro, C., & Varian, H. R. (1999). Information rules: A strategic guide to the network economy. Harvard Business School Press.

25. Williamson, O. E. (1985). The economic institutions of capitalism: Firms, markets, relational contracting. Free Press.

26. W3C. (2018). ODRL Information Model 2.2. https://www.w3.org/TR/2018/REC-odrl-model-20180215/

Ngày nhận bài: 22/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/8/2026; Ngày duyệt đăng: 7/9/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"
Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Việc duy trì một kênh quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là rất cần thiết nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại