Phát triển kinh tế nền tảng tại Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 09:15 | 12/06/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, kinh tế nền tảng đang trở thành một hệ điều hành mới cho thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu.

ThS. Huỳnh Diệu Ngân

Khoa Marketing - Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh

Email: hd.ngan@hutech.edu.vn

Tóm tắt

Kinh tế nền tảng hay kinh tế số của thế giới đang bước qua giai đoạn thử nghiệm, tiến vào giai đoạn trưởng thành và nhu cầu cho sự phát triển bền vững. Tại Việt Nam, kinh tế nền tảng đang phát triển nhanh chóng và trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm làm rõ khái niệm, vai trò và đặc điểm của kinh tế nền tảng; đồng thời cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của kinh tế nền tảng tại Việt Nam hiện nay, bao gồm quy mô, cấu trúc và hệ thống chính sách. Nhiều minh chứng cho thấy rằng Việt Nam đang phát triển vượt bậc về chiều ngang nhưng lại chưa tương xứng với tiềm năng về chiều sâu. Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp hướng tới một nền kinh tế nền tảng phát triển bền vững hơn.

Từ khóa: Kinh tế nền tảng, kinh tế số, thương mại điện tử, truyền thông số, giao hàng trực tuyến

Abstract

The global platform economy, or digital economy, is moving beyond the experimental stage and entering a phase of maturity, accompanied by increasing demands for sustainable development. In Vietnam, the platform economy has been developing rapidly and has become a new growth driver of the national economy. The article briefly outlines the concepts, roles, and characteristics of the platform economy, while also providing an overview of its current development in Vietnam, including its scale, structure, and policy framework. Evidence suggests that Vietnam is experiencing strong horizontal expansion; however, this development has not yet fully matched its potential in terms of depth. The author also proposes several solutions aimed at promoting a more sustainable development of the platform economy.

Keywords: Platform economy, digital economy, e-commerce, online media, online transport and food

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, kinh tế nền tảng đang trở thành một hệ điều hành mới cho thương mại hàng hóa và dịch vụ toàn cầu. Sự bùng nổ của các tập đoàn xuyên biên giới như Amazon, Meta, hay các nhóm siêu ứng dụng của Đông Nam Á như Grab, Shopee, thông qua việc kết nối nhiều nhóm người dùng bằng Internet, đã làm thay đổi phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng truyền thống.

Tại Việt Nam, kinh tế số hay kinh tế nền tảng cũng đang dần được quan tâm và tiếp cận trên nhiều lĩnh vực, từ thương mại điện tử, ứng dụng gọi xe, giao hàng cho đến các nền tảng về trung gian tài chính, ví điện tử đã thúc đẩy sự thay đổi hành vi tiêu dùng và góp phần định hình lại nền kinh tế. Trong nhiều năm vừa qua, kinh tế nền tảng tại Việt Nam đang trải qua giai đoạn bùng nổ mạnh mẽ, biến Việt Nam trở thành một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng kinh tế số nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Chính phủ cũng từng bước hoàn thiện, ban hành nhiều chính sách liên quan đến chuyển đổi số và thương mại điện tử, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nền tảng phát triển. Tuy nhiên, với sự thay đổi liên tục của công nghệ và trí tuệ nhân tạo, nhiều chiến lược và quy định hiện hành dường như chưa theo kịp với thực tiễn phát triển. Do đó, việc nghiên cứu về thực trạng và các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nền tảng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Khái niệm

Trong cuốn sách Platform Capitalism xuất bản vào năm 2017, Srnicek đã định nghĩa kinh tế nền tảng là một mô hình kinh tế được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp kỹ thuật số đóng vai trò là cơ sở hạ tầng trung gian, cho phép hai hoặc nhiều nhóm đối tương (người dùng, nhà cung cấp, quảng cáo) tương tác và giao dịch trực tiếp với nhau.

Trên thực tế, kinh tế nền tảng chưa có một định nghĩa chính thống nào cho đến thời điểm hiện tại. Tại Việt Nam, cụm từ này xuất hiện và được thừa nhận trong một số văn bản pháp luật. Trong Luật giao dịch điện tử 2023, tại điều 45 có quy định về “Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử là tập hợp phần cứng, phần mềm và cơ sở dữ liệu được thiết lập với chức năng, tính năng chính để phục vụ giao dịch điện tử, bảo đảm xác thực, tin cậy trong giao dịch điện tử”. Từ đó, định nghĩa nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử là hệ thống thông tin “tạo môi trường điện tử cho pháp các bên thực hiện giao dịch hoặc cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc sử dụng để phát triển sản phẩm, dịch vụ.”

Vai trò của kinh tế nền tảng

Kinh tế nền tảng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số thông qua nhiều khía cạnh khác nhau. Trước hết, mô hình này góp phần thúc đẩy tăng trưởng thương mại điện tử và gia tăng số lượng người dùng Internet nhờ khả năng kết nối nhanh chóng giữa các chủ thể trên môi trường số. Đồng thời, kinh tế nền tảng còn hỗ trợ phát triển hệ thống hàng hóa và dịch vụ số, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Bên cạnh đó, việc thực hiện các giao dịch trực tuyến giúp nâng cao tính minh bạch của nền kinh tế, qua đó hỗ trợ cơ quan quản lý giám sát và điều hành hiệu quả hơn. Kinh tế nền tảng cũng góp phần giảm chi phí giao dịch về thời gian, tài chính và nhân lực nhờ tối ưu hóa quá trình kết nối và trao đổi thông tin. Ngoài ra, mô hình này còn giúp hạn chế tình trạng bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể trên thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả kết nối cung – cầu và cải thiện khả năng dự báo nhu cầu thị trường. (Viện nghiên cứu chính sách trung ương, 2026)

Đặc điểm của kinh tế nền tảng

Thứ nhất, hiệu ứng mạng lưới là đặc điểm quan trọng nhất của kinh tế nền tảng. Khác với mô hình truyền thống, nhờ vào cấu trúc thị trường đa bên khi có thể kết nối hai hay nhiều nhóm đối tượng độc lập có nhu cầu tương tác với nhau, các sản phẩm hay dịch vụ nền tảng này có xu hướng đạt được lợi suất tăng dần theo quy mô, tức là càng có nhiều người tham gia, nền tảng càng có giá trị và khả năng thu hút người dùng mới càng cao (Thomas Eisenmann et al., 2006).

Thứ hai, kinh tế nền tảng phụ thuộc vào dữ liệu số và thuật toán. Dữ liệu được xem là nguyên liệu và tài sản cốt lõi trong mô hình kinh tế nền tảng. Các doanh nghiệp sử dụng dữ liệu và thuật toán để phân tích hành vi người tiêu dùng, tối ưu hóa kết nối cung – cầu, cá nhân hóa dịch vụ và nâng cao hiệu quả vận hành. Việc ứng dụng dữ liệu lớn và công nghệ số sẽ giúp các nền tảng giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ trao đổi thông tin và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường (OECD, 2019).

Thứ ba, kinh tế nền tảng có khả năng mở rộng nhanh với chi phí cận biên thấp. Hoàn toàn khác với kinh doanh truyền thống khi phải phụ thuộc nhiều vào tài sản cố định và năng lực sản xuất, một khi hạ tầng công nghệ đã được xây dựng xong, chi phí để phục vụ thêm một người dùng mới hoặc thực hiện thêm một giao dịch mới của kinh tế nền tảng gần như bằng không. Đặc điểm này cho phép các doanh nghiệp nền tảng mở rộng quy mô toàn cầu với tốc độ cực kỳ nhanh chóng.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NỀN TẢNG TẠI VIỆT NAM

Về quy mô

Kinh tế số Việt Nam đang phát triển nhanh cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng với những con số ấn tượng, trở thành một trong những động lực phát triển mới của nền kinh tế (Hình 1). Trong giai đoạn 2018-2025, quy mô của nền kinh tế số Việt Nam liên tục tăng trưởng, tính theo GMV, từ 9 tỷ USD năm 2018 lên 39 tỷ USD năm 2025 (tương đương gấp 4,3 lần), duy trì đà tăng trưởng 2 con số trong nhiều năm liền. Một cột mốc quan trọng của kinh tế nền tảng là vào năm 2021, Việt Nam đã chính thức trở thành quốc gia có quy mô giao dịch nền tảng đứng thứ 3 trong ASEAN, chỉ sau Thái Lan và Indonesia (Vietstats, 2025). Có thể nói, trong ASEAN, Việt Nam không phải là quốc gia có nền kinh tế số lớn nhất về quy mô, nhưng lại là quốc gia có tốc độ tăng trưởng hàng đầu, với hơn 20%/năm (Hà Văn, 2025). Tầm quan trọng của kinh tế số còn thể hiện ở tỷ trọng trong GDP ngày càng tăng. Nếu như năm 2020, tỷ trọng của kinh tế số trong GDP là 12,66% thì đến năm 2025 là 14,02%, trung bình đạt 13,07% trong giai đoạn 2020-2025 (Tạp chí Kinh tế Việt Nam, 2026).

Hình 1: Quy mô nền kinh tế số Việt Nam theo GMV

Phát triển kinh tế nền tảng tại Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp

Nguồn: Google, Temasek & Bain, 2018-2025

Về cấu trúc

Kinh tế nền tảng bao gồm 4 trụ cột chính, bao gồm: thương mại điện tử, truyền thông số, du lịch trực tuyến, vận tải và giao đồ ăn. Cho đến thời điểm hiện tại, thương mại điện tử vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất, với hơn 60% năm 2025.

Thương mại điện tử Việt Nam trong những năm vừa qua thể hiện tốc độ tăng trưởng hàng đầu, với khoảng 5 tỷ USD (tính theo GMV) vào năm 2019 lên 25 tỷ USD vào năm 2025 (Google, Tasamek & Bain, 2026). Với con số trên, tỷ lệ tăng trưởng về GMV Việt Nam tăng 34,75% so với năm 2024, trên bốn sàn thương mại điện tử lớn gồm Shopee, Tiktok Shop, Lazada và Tiki (Hoàng Tùng, 2026). Ngoài ra, trong những năm gần đây, nhờ sự thúc đẩy của Chính phủ, sự phát triển của các phương thức thanh toán số, với tổng giá trị giao dịch năm 2025 đạt 178 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2024 đã giúp gia tăng niềm tin của người tiêu dùng và góp phần mở rộng quy mô thị trường thương mại điện tử (Google, Tasamek & Bain, 2026).

Lĩnh vực thứ hai là truyền thông số với 2,8 tỷ USD (tính theo GMV) vào năm 2019, xếp vị trí cuối cùng trong 4 trụ cột lên 6 tỷ USD, chiếm tỷ trọng thứ hai vào năm 2025 (Google, Tasamek & Bain, 2026). Theo Cục Thống kê, năm 2025, tỷ lệ người sử dụng Internet lên đến 84,2%, trong đó tỷ lệ người dân tham gia mạng xã hội chiếm 66,5%. Ngoài ra, Báo cáo chỉ số chuyển đổi số quốc gia năm 2023 cho thấy lĩnh vực báo chí cũng có mức độ số hóa cao khi 95% cơ quan báo chí đã khai thác nền tảng điện tử. Trong đó, có hơn 70% cơ quan báo chí đẩy mạnh phát triển nội dung trên nhiều kênh khác nhau, đồng thời ứng dụng công nghệ nhằm nghiên cứu và nâng cao hiệu quả tiếp cận công chúng. Bên cạnh đó, xu hướng tiếp nhận thông tin qua nền tảng số cũng ngày càng phổ biến khi cũng trong chính báo cáo, đã chỉ ra 83,1% người dân lựa chọn các nền tảng trực tuyến để cập nhật tin tức. (Lưu Hồng Minh, 2025).

Trụ cột thứ ba là vận tải và giao đồ ăn với 1,1 tỷ USD (tính theo GMV) vào năm 2019 lên 5 tỷ USD vào năm 2025 cũng phần nào thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ (Google, Tasamek & Bain, 2026). Theo Báo cáo thường niên về “Các nền tảng giao đồ ăn Đông Nam Á” vào năm 2025 của Momentum Works, tổng giá trị giao dịch trên 3 nền tảng ShopeeFood, GrabFood và beFood của Việt Nam đạt 2,1 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2024 (Viễn Thông, 2026). Sự tăng trưởng của lĩnh vực này được thúc đẩy bởi quá trình đô thị hóa, tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh cao và nhu cầu về tính tiện lợi của người tiêu dùng. Ngoài ra, sự thiếu thốn của giao thông công cộng và tình trạng tắc nghẽn, đặc biệt ở những thành phố lớn, đã tạo điều kiện để dịch vụ gọi xe phát triển. Ngoài ra, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam phần nào ảnh hưởng đến dịch vụ vận tải hành khách. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển, dịch vụ vận tải và giao đồ ăn cũng cho thấy áp lực cạnh tranh ngày càng lớn, khi liên tục trong 3 năm, một số doanh nghiệp như Baemin, Gojek, GoDood và Loship lần lượt rời khỏi thị trường Việt Nam (Viễn Thông, 2025).

Và cuối cùng là du lịch trực tuyến, sau giai đoạn chịu nhiều ảnh hưởng của dịch Covid-19, đang hồi phục và thể hiện tốt vai trò, khi đạt kỷ lục với mức 4 tỷ USD (tính theo GMV) vào năm 2025. Chỉ trong 6 năm, từ năm 2020 đến 2025, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã tăng từ 3,84 triệu lên đến 21,2 triệu (Tô Ngọc, 2026). Với các chính sách thị thực linh hoạt (miễn thị thực và thị thực điện tử) cùng sự thành công trong quảng bá; bên cạnh sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của ngành du lịch trực tuyến, với mức tăng trưởng 16% trong năm 2025 (Chiêu Anh, 2026). Trong những năm gần đây, việc xây dựng hệ sinh thái du lịch, với việc tận dụng các công nghệ số như thẻ Việt, hệ thống vé điện tử, hệ thống thuyết minh đa phương tiện,… đã trở thành mục tiêu chiến lược cho sự phát triển du lịch bền vững của ngành (Chiêu Anh, 2026)

Về hệ thống chính sách liên quan đến kinh tế nền tảng

Việt Nam cũng đang từng bước hình thành và hoàn thiện thông qua các chiến lược chuyển đổi số, chương trình phát triển doanh nghiệp công nghệ số và các quy định về thương mại điện tử, dữ liệu và an toàn không gian mạng. Cụ thể, Việt Nam không có luật riêng về kinh tế nền tảng, các hoạt động trên nền tảng số được điều chỉnh đan xen thông qua một hệ thống các luật chuyên ngành và văn bản dưới luật (bao gồm nhưng không đầy đủ) như Bảng.

Bảng: Tổng hợp Hệ thống chính sách liên quan đến kinh tê nền tảng

Số hiệu

Nội dung trích yếu

Ngày ban hành

Nghị định số 52/2013/NĐ- CP

Nghị định về Thương mại điện tử

Ngày 16/5/2013 (có hiệu lực ngày 01/07/2013)

Luật số 24/2018/QH14

Luật An ninh mạng

Ngày 12/6/2018 (có hiệu lực ngày 01/01/2019)

Nghị định số 53/2022/NĐ-CP

Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng

Ngày 15/8/2022 (có hiệu lực ngày 01/10/2022)

Nghị quyết số 52 – NQ/TW

Nghị quyết Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Ngày 27/9/2019

Quyết định số 749/QĐ-TTg

Quyết định phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”

Ngày 03/6/2020

Quyết định số 316/QĐ-TTg

Quyết định Về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ

Ngày 9/3/2021

Nghị định số 85/2021/NĐ-CP

Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của chính phủ về Thương mại điện tử

Ngày 25/9/2021 (có hiệu lực ngày 01/01/2022)

Quyết định số 411/QĐ-TTg

Quyết định Phê duyệt chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

Ngày 31/3/2022

Nghị định số 13/2023/NĐ-CP

Nghị định Bảo vệ dữ liệu cá nhân

Ngày 17/4/2023 (có hiệu lực ngày 01/07/2023)

Luật số 19/2023/QH15

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Ngày 20/6/2023

(có hiệu lực ngày 01/07/2024)

Luật số 20/2023/QH15

Luật Giao dịch điện tử

Ngày 22/6/2023 (có hiệu lực ngày 01/07/2024)

Luật số 24/2023/QH15

Luật Viễn thông

Ngày 24/11/2023 (có hiệu lực ngày 01/07/2024)

Nghị định số 52/2024/NĐ-CP

Nghị định quy định về thanh toán không dùng tiền mặt

Ngày 15/5/2024 (có hiệu lực ngày 01/07/2024)

Nghị định 55/2024/NĐ-CP

Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Ngày 16/5/2024 (có hiệu lực ngày 01/07/2024)

Quyết định số 1568/QĐ-BCT

Quyết định Phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Ngày 03/6/2025

Luật số 91/2025/QH15

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân

Ngày 26/6/2025 (có hiệu lực 01/01/2026)

Nghị định số 169/2025/NĐ-CP

Nghị định Quy định hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu

Ngày 30/6/2025 (có hiệu lực ngày 01/07/2025)

Luật số 60/2024/QH15

Luật Dữ liệu

Ngày 30/11/2024 (có hiệu lực 01/07/2025)

Luật số 122/2025/QH15

Luật Thương mại điện tử

Ngày 10/12/2025 (có hiệu lực 01/07/2026)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Thư viện Pháp luật

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NỀN TẢNG TẠI VIỆT NAM

Thứ nhất, kinh tế nền tảng ngày càng nhận được sự quan tâm của nhiều đối tượng, bao gồm cả doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức. Cùng với sự mở rộng về quy mô, số lượng doanh nghiệp và tỷ lệ người dùng tham gia nền tảng cũng tăng trưởng tích cực. Tính đến tháng 9 năm 2022, Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số - SMEdx của Bộ Thông tin và Truyền thông được triển khai vào năm 2021 đã thu hút được 490.923 doanh nghiệp tiếp cận, trong đó có 62.047 doanh nghiệp sử dụng nền tảng (Nhĩ Anh, 2022). Con số này đã tăng vượt bậc chỉ trong vài năm, tính đến tháng 10 năm 2024, đã có 401.072 doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam sử dụng nền tảng số của Chương trình SMEdx (Vân Anh, 2024). Cùng với sự tham gia tích cực của doanh nghiệp thì các cá nhân và tổ chức cũng ngày càng chủ động tiếp cận và khai thác các nền tảng để gia tăng thu nhập. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2024, con số này lên đến 3,7 triệu, cho thấy một bước tiến đáng chú ý, kinh tế nền tảng không chỉ nói đến doanh nghiệp mà đã lan tỏa sang người lao động trong vài năm trở lại đây (Việt An, 2024). Ngoài ra, kết quả thống kê cho thấy Việt Nam đứng đầu về số lượng người dùng tương tác và tin tưởng vào AI. Đồng thời, năm 2025, số lượng người bán và cửa hàng bán hàng qua video tại Việt Nam là 650 nghìn, với 1,3 tỷ giao dịch, tăng 60% so với cùng kỳ năm 2024 (Google, Temasek & Bain, 2026).

Thứ hai, quy mô của nền kinh tế số Việt Nam ở mức trung bình và còn rất nhiều tiềm năng phát triển. Mặc dù trong khu vực ASEAN, Việt Nam đã lên vị trí top 3 quốc gia lớn nhất về quy mô kinh tế số, nhưng có thể nói, Việt Nam vẫn chỉ đang tiệm cận mức trung bình và chưa thực sự đạt được mức trưởng thành khi còn cách xa so với Indonesia (99 tỷ) và Thái Lan (56 tỷ). Đặc biệt, so với quy mô dân số, Việt Nam phát triển chưa thực sự tương ứng khi GMV bình quân đầu người vẫn còn thấp đáng kể so với Malaysia và Thái Lan và đặc biệt là Singapore. Hay nói cách khác, khả năng khai thác thị trường số thậm chí chưa thực sự tương xứng cả với thị trường nội địa. Kinh tế số Việt Nam chỉ tương đương với Malaysia trong khi dân số gần gấp ba quốc gia này. Tuy nhiên, với nhiều lợi thế sẵn có về quy mô dân số, tỷ lệ sử dụng Internet cao và tốc độ phát triển thương mại điện tử hàng đầu, Việt Nam cho thấy tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn trong thời gian tới (Hình 2).

Hình 2: Quy mô của nền kinh tế số và dân số của nhóm ASEAN - 6

Phát triển kinh tế nền tảng tại Việt Nam: Thực trạng và một số giải pháp

Nguồn: Google, Tamasek & Bain, 2026

Thứ ba, cấu trúc của kinh tế nền tảng của Việt Nam phát triển theo chiều rộng hơn là chiều sâu, còn phụ thuộc đáng kể vào thương mại điện tử. Nhìn chung, so với các quốc gia trong cùng khu vực, nền kinh tế số Việt Nam thể hiện sự cân bằng hơn trong cấu trúc, khi có sự phát triển ở cả bốn phân khúc lớn (Vietstats, 2025). Nhưng cũng không thể phủ nhận, tỷ trọng của thương mại điện tử đã tăng từ 50% ở năm 2020 lên hơn 60% chỉ trong 5 năm. Điều này phản ánh cấu trúc kinh tế nền tảng Việt Nam vẫn tiềm ẩn rủi ro khi còn được dẫn dắt chủ yếu bởi các hoạt động tiêu dùng trực tuyến, trong khi các nền tảng công nghệ và dịch vụ có giá trị gia tăng cao chưa phát huy hết tiềm lực.

Thứ tư, kinh tế nền tảng của Việt Nam chịu ảnh hưởng từ các nền tảng nước ngoài. Trên thực tế, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dùng nền tảng số trong nước cao, với 25,25% tiếp cận các nền tảng “Make in Vietnam” vào năm 2024 (Nam Anh, 2025). Tuy nhiên, cấu trúc kinh tế nền tảng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào thương mại điện tử. Nhưng tính đến năm 2025, thị trường thương mại điện tử Việt nam vẫn tập trung chủ yếu ở hai nền tảng dẫn đầu, là Shopee của Singapore (với 56,04%) và Tiktok Shop của Trung Quốc (với 41,31%) (Hạ Chi, 2026). Ở lĩnh vực giao đồ ăn trực tuyến, đó cũng là sự thống trị của 2 hãng thuộc Singapore. Điều này cho thấy rằng, giá trị gia tăng và quyền kiểm soát nền tảng vẫn tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh thương mại điện tử, các dịch vụ truyền thông số cũng thể hiện vai trò quan trọng trong cấu trúc, đặc biệt trong lĩnh vực phim ảnh và âm nhạc. Tuy nhiên, với sự yếu kém về thuật toán và hạn chế về quy mô, các nền tảng Việt Nam ở những lĩnh vực trên vẫn chưa có khả năng cạnh tranh với các nền tảng nước ngoài (Hoàng Hạnh, 2026).

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NỀN TẢNG Ở VIỆT NAM

Thứ nhất, liên quan đến hệ thống chính sách, khung pháp lý cho kinh tế nền tảng. Sự nổi lên của kinh tế nền tảng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các quốc gia trong việc xây dựng khung chính sách phù hợp nhằm vừa thúc đẩy đổi mới, vừa hạn chế các tác động tiêu cực phát sinh từ mô hình kinh doanh số. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, kinh tế nền tảng vẫn còn là một khía cạnh khá mới ở Việt Nam, tư duy trong quản lý nhà nước được nhận định là khá cũ, chưa cởi mở và thiếu sự sáng tạo (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2025). Mặt khác, kinh tế nền tảng có tốc độ phát triển rất nhanh và liên tục thay đổi dưới tác động của công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. Do đó, trong quá trình hoàn thiện thể chế đối với kinh tế nền tảng, Nhà nước cần thực hiện theo hướng linh hoạt và cởi mở, tránh tư duy quản lý cũ và lạc hậu. Đồng thời, việc thiết lập cơ chế rà soát, sửa đổi và bổ sung định kỳ vừa nhằm kịp thời thích ứng với sự thay đổi, vừa bao quát được tất cả các vấn đề của nền kinh tế nền tảng, hướng tới một môi trường pháp lý ổn định, thúc đẩy sự phát triển bền vững tại Việt Nam.

Thứ hai, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư và hoàn thiện hạ tầng trung tâm dữ liệu nhằm đáp ứng nhu cầu lưu trữ, xử lý và khai thác dữ liệu ngày càng lớn của kinh tế nền tàng. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích đầu tư vào hạ tầng dữ liệu theo hướng hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế với các ưu đãi có thể về đất đai, năng lượng và thuế nhằm thu hút doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước vào một thị trường đầy tiềm năng như Việt Nam. Bên cạnh việc mở rộng số lượng trung tâm dữ liệu, một vấn đề cấp bách Việt Nam cần quan tâm là an ninh mạng. Theo thống kê của Hiệp hội an ninh mạng quốc gia, năm 2025, theo khảo sát 5.300 đơn vị, tổ chức tại Việt Nam thì có tới 552.000 cuộc tấn công mạng, và mức tổn hại lên đến 52,3% (Lê Lâm, 2026). Những số liệu này cho thấy tầm quan trọng của khung pháp lý liên quan đến quản trị dữ liệu và an ninh mạng, góp phần nâng cao niềm tin của người dùng và doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường kinh tế nền tảng toàn cầu.

Thứ ba, Việt Nam cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực số có trình độ chuyên môn cao và khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Nhà nước cần có khảo sát định kỳ về cung và cầu trong thị trường lao động. Các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp cũng cần cập nhật chương trình đào tạo theo hướng tăng cường kỹ năng công nghệ, tư duy số và thích ứng với kinh tế nền tảng. Đồng thời, sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đặc biệt doang nghiệp công nghệ cao trong việc tiếp cận và thực hành là điều vô cùng cần thiết. Đối với lực lượng lao động truyền thống, nhà nước cũng cần có những hội thảo, chính sách hỗ trợ đào tạo lại và nâng cao kỹ năng để nguồn nhân lực không chỉ có số lượng mà con có chất lượng.

Tài liệu tham khảo:

1. Chiêu Anh (2026). Số hóa ngành du lịch: Chuyển đổi nhanh để phát triển toàn diện, bền vững, https://nhandan.vn/so-hoa-nganh-du-lich-chuyen-doi-nhanh-de-phat-trien-toan-dien-ben-vung-post942262.html, truy cập 13/05/2026.

2. Chiêu Anh (2026). Chuyển đổi số - “đòn bẩy” để hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, https://nhandan.vn/chuyen-doi-so-don-bay-de-hinh-thanh-he-sinh-thai-du-lich-thong-minh-post944072.html, truy cập 09/05/2026.

3. Hạ Chi (2026). Bốn “ông lớn” thương mại điện tử có doanh thu năm 2025 ước đạt 429,66 nghìn tỷ, https://vneconomy.vn/bon-ong-lon-thuong-mai-dien-tu-co-doanh-thu-nam-2025-uoc-dat-42966-nghin-ty.htm, truy cập ngày 07/05/2026.

4. Hoàng Hạnh (2026). Bài cuối: Chuyển đổi số và tự chủ chiến lược trong công nghiệp văn hoá Việt Nam, https://baochinhphu.vn/bai-cuoi-chuyen-doi-so-va-tu-chu-chien-luoc-trong-cong-nghiep-van-hoa-viet-nam-102260420153748881.htm, truy cập 28/04/2026.

5. Hoàng Tùng (2026). Thị trường thương mại điện tử Việt Nam bước vào giai đoạn sàng lọc mạnh mẽ, https://vneconomy.vn/thi-truong-thuong-mai-dien-tu-viet-nam-buoc-vao-giai-doan-sang-loc-manh-me.htm, truy cập 10/05/2026.

6. Lê Lâm (2026). Việt Nam phải đối mặt với khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng trong năm 2025, https://nhandan.vn/viet-nam-phai-doi-mat-voi-khoang-552000-cuoc-tan-cong-mang-trong-nam-2025-post936719.html, truy cập 17/05/2026.

7. Lưu Hồng Minh (2025). Truyền thông đại chúng trong kỷ nguyên số: động lực đổi mới mô hình phát triển xã hội Việt Nam hiện nay, https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/truyen-thong-dai-chung-trong-ky-nguyen-so-dong-luc-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-xa-hoi-viet-nam-hien-nay-p29283.html, truy cập 09/05/2026.

8. Nam Anh (2025). Digital economy contributed 18.3% to GDP, https://en.vneconomy.vn/digital-economy-contributed-18-3-to-gdp.htm, truy cập 29/04/2026.

9. Nhĩ Anh (2022). Thêm 35.000 doanh nghiệp sử dụng các nền tảng chuyển đổi số, https://vneconomy.vn/them-35-000-doanh-nghiep-su-dung-cac-nen-tang-chuyen-doi-so.htm, truy cập 29/04/2026.

10. Nick Srnicek (2017). Platform Capitalism. Polity Press.

11. OECD (2019). An introduction to online platforms and their role in the digital transformation. OECD Publishing.

12. Tạp chí Kinh tế Việt Nam (2026). Kinh tế - xã hội Việt Nam qua các số liệu thống kê chủ yếu, Kinh tế Việt Nam & Thế giới 2025 - 2026, trang 152.

13. Thomas Eisenmann, Geoffrey G. Parker, and Marshall W. Van Alstyne (2006). Strategies for Two-Sided Markets. Harvard Business Review.

14. Tô Ngọc (2026). Lượng khách quốc tế đến Việt Nam du lịch năm 2025 lập kỷ lục, https://www.qdnd.vn/du-lich/tin-tuc/luong-khach-quoc-te-den-viet-nam-du-lich-nam-2025-lap-ky-luc-1021180, truy cập 13/05/2026.

15. Vân Anh (2024). Thêm 35.000 doanh nghiệp sử dụng các nền tảng chuyển đổi số, https://vietnamnet.vn/hon-401-000-doanh-nghiep-nho-va-vua-dung-cac-nen-tang-so-cua-chuong-trinh-smedx-2339267.html, truy cập 29/04/2026.

16. Việt An (2024). Hơn 3,7 triệu cá nhân và tổ chức tại Việt Nam đang kiếm sống từ các nền tảng số, https://vneconomy.vn/hon-3-7-trieu-ca-nhan-va-to-chuc-tai-viet-nam-dang-kiem-song-tu-cac-nen-tang-so.htm, truy cập 30/04/2026.

17. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2025). Nhận diện tác động của kinh doanh nền tảng tới nền kinh tế Việt Nam.

18. Vietstats (2025). Kinh tế nền tảng Việt Nam trong bức tranh ASEAN-5: Từ bám đuổi đến nhóm tăng trưởng nhanh nhất, https://vietstats.vn/con-so-biet-noi/kinh-te-nen-tang-viet-nam-trong-buc-tranh-asean-5-tu-bam-duoi-den-nhom-tang-truong-nhanh-nhat/?id=aef50160-9a27-4d50-b2ce-41482d2b40ad, truy cập 01/05/2026.

19. Viễn Thông (2025). Người Việt chi 2,1 tỷ USD đặt đồ ăn qua ứng dụng năm 2025, https://vnexpress.net/nguoi-viet-chi-2-1-ty-usd-dat-do-an-qua-ung-dung-nam-2025-5010647.html, truy cập 09/05/2026.

20. Viễn Thông (2025). ShopeeFood, GrabFood nắm hơn 90% thị trường giao đồ ăn, https://vnexpress.net/shopeefood-grabfood-nam-hon-90-thi-truong-giao-do-an-4911752.html, truy cập 10/05/2026.

21. Website: Thuvienphapluat.vn

Ngày nhận bài: 5/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/6/2026; Ngày duyệt bài: 12/6/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"
Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Việc duy trì một kênh quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là rất cần thiết nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại