Hoàn thiện thị trường lao động trong kinh tế nền tảng tại Việt Nam
ThS. Huỳnh Diệu Ngân
Khoa Marketing - Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (HUTECH University)
Email: hd.ngan@hutech.edu.vn
Tóm tắt
Kinh tế nền tảng đã tái định hình sâu sắc cấu trúc thị trường lao động toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, đằng sau sự thay đổi ấn tượng đó là sự tồn tại của khoảng cách số và bài toán về kỹ năng số. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là phải thu hẹp khoảng cách đó, nhằm xây dựng một thị trường lao động bền vững. Mục tiêu của nghiên cứu là cung cấp cái nhìn tổng quan về thị trường lao động và những bất bình đẳng đang dần được tạo ra trong kinh tế nền tảng, từ đó đưa ra những giải pháp hướng đến một thị trường lao động ổn định và hài hòa hơn.
Từ khóa: Kinh tế nền tảng, kinh tế số, lao động nền tảng, lao động phi chính thức, bất bình đẳng
Abstract
The platform economy has profoundly reshaped labor markets worldwide, particularly in Viet Nam. However, behind this remarkable transformation lie persistent digital divides and challenges related to digital skills. Therefore, an urgent task is to narrow these gaps in order to build a more sustainable labor market. The objective of this study is to provide an overview of the labor market and the emerging inequalities associated with the platform economy, and to propose solutions to foster a more stable and harmonious labor market.
Keywords: Platform economy, digital economy, platform labor, informal labor, inequality
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và các nền tảng trực tuyến đã thúc đẩy sự hình thành và mở rộng của kinh tế nền tảng trên thế giới. Thống kê cho thấy, trong giai đoạn 2018-2022, thu nhập của lao động trong khu vực nền tảng cao hơn 14% so với mặt bằng chung, đạt trung bình 11,3 triệu đồng/tháng. Bên cạnh đó, tốc độ tạo việc làm cũng tăng trưởng mạnh mẽ với tỷ lệ 9,4%, gấp 2,5 lần so với bình quân (Đại Kim, 2025).
Sự phát triển của kinh tế nền tảng mở ra nhiều lợi ích cho thị trường lao động, giúp người lao động có thể tận dụng được thời gian nhàn rỗi và tăng thu nhập. Đó chính là nguồn thu nhập thứ hai của 55,1% người lao động (Quỳnh Chi, 2025). Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, lao động trong kinh tế nền tảng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, khi thu nhập của họ thường không ổn định, mức độ cạnh tranh rất cao và quyền lợi không được đảm bảo. Những vấn đề này diễn ra thường xuyên và kéo dài, tạo ra thêm những loại bất bình đẳng đặc trưng của kinh tế nền tảng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
ILO, ISSA và OECD (2023) đã định nghĩa việc làm và công việc trên nền tảng số là các hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ được thực hiện thông qua nền tảng kỹ thuật số, nơi nền tảng giữ vai trò điều phối hoặc kiểm soát những khía cạnh quan trọng của quá trình làm việc như tiếp cận khách hàng, phân bổ nhiệm vụ, đánh giá kết quả và hỗ trợ thanh toán. Người lao động được coi là tham gia lao động nền tảng khi thực hiện các hoạt động này ít nhất một giờ trong kỳ tham chiếu.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO, 2021) đã chia lao động trên nền tảng số thành 2 nhóm lớn: các nền tảng trực tuyến dựa trên web và các nền tảng dựa trên địa điểm. Đối với các nền tảng dựa trên web, công việc được thực hiện từ xa thông qua Internet, bao gồm từ các công việc chuyên môn cao, lập trình, phân tích dữ liệu trong một khoảng thời gian quy định cho tới các tác vụ ngắn như kiểm duyệt nội dung hay dán nhãn. Đối với các nền tảng dựa trên địa điểm, người lao động phải hiện diện trực tiếp để cung cấp dịch vụ, bao gồm các dịch vụ vận chuyển, sửa chữa, giúp việc gia đình hay chăm sóc cá nhân.
Việc làm trên nền tảng có những đặc điểm rất khác biệt so với các hình thức lao động truyền thống. Thứ nhất là tính linh hoạt cao, cho phép người lao động tự chủ hơn về mặt thời gian và không gian làm việc phù hợp với nhu cầu cá nhân. Thứ hai là rào cản gia nhập thấp, khi đa số các nền tảng không đòi hỏi quy trình tuyển dụng khắt khe hay bằng cấp phức tạp, giúp người lao động dễ dàng tiếp cận việc làm chỉ với các thiết bị kết nối cơ bản như điện thoại thông minh hoặc máy tính cá nhân. Đặc điểm thứ ba thể hiện ở mô hình quan hệ 3 bên khi có sự tham gia của trí tuệ nhân tạo (AI). Trong mối quan hệ này, người lao động được xem là đối tác thay vì nhân viên chính thức và không bị ràng buộc bởi hợp đồng lao động truyền thống. Thay vào đó, toàn bộ quy trình từ phân công công việc, định giá, theo dõi tiến độ và đánh giá hiệu suất đều thông qua cơ chế quản lý bằng thuật toán.
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRONG KINH TẾ NỀN TẢNG TẠI VIỆT NAM
Những kết quả đạt được
Thế giới chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các nền tảng lao động kỹ thuật số. Trong một thập kỷ qua, số lượng các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu đã tăng gấp 5 lần (ILO, 2025). Đồng thời, số liệu cho thấy, tính đến tháng 10/2025, đã có hơn 653 nền tảng lao động kỹ thuật số đang hoạt động trên thế giới. Nền tảng số phát triển mở ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động (ILO, 2026).
Tại Việt Nam, các nền tảng thương mại điện tử như Shopee, Tiktok cũng như các nền tảng về dịch vụ vận tải và giao đồ ăn như Grab phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây, không chỉ tạo ra ngày càng nhiều việc làm trực tiếp cho thị trường lao động mà còn thúc đẩy nhiều cơ hội việc làm cho các lĩnh vực khác. Báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2025) cho thấy, với tỷ lệ sử dụng internet cao và tăng nhanh, cùng tỷ trọng lớn của nhóm dân số trẻ, ưa chuộng sử dụng dịch vụ nền tảng, xu hướng mua sắm trực tuyến tăng nhanh cả về số lượng và tốc độ. Năm 2023, quy mô thị trường thương mại điện tử bán lẻ tăng thêm khoảng 4 tỷ USD (tăng 25%) so với năm 2022, đạt 20,5 tỷ USD. Doanh thu thương mại điện tử năm 2024 ước đạt 27,7-28 tỷ USD, tăng 36%, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới. Với dân số đô thị đang tăng nhanh, nhu cầu về các phương thức vận tải gọi xe cũng đã tăng lên trong những năm gần đây, đóng góp khoảng 1,7% GDP năm 2022 và tiếp tục tăng trong năm 2023). Bên cạnh đó, thị trường giao đồ ăn trực tuyến cũng có sự tăng trưởng đáng kể do người tiêu dùng thay đổi thói quen truyền thống; sử dụng các nền tảng trực tuyến để đặt đồ ăn. Tính chung, năm 2022, tổng giá trị tăng thêm của ngành nền tảng đóng góp 40,5 tỷ USD vào GDP của Việt Nam, tương đương 9,92%.
Cũng theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2025), năm 2022, số lao động trong ngành nền tảng đạt hơn 2 triệu người, chiếm 4,12% tổng số việc làm trong nền kinh tế. Đo lường tác động lan tỏa của ngành nền tảng tới cơ hội việc làm cho thấy một tỷ USD sản phẩm cuối cùng của Ngành tạo ra hơn 93.000 cơ hội việc làm trong toàn nền kinh tế, trong đó tác động lan toả về tạo cơ hội việc làm của ngành nền tảng tới các ngành khác là lớn hơn lan toả đến giá trị tăng thêm và thu nhập. Điều này thể hiện rằng ngành Nền tảng càng phát triển thì sẽ càng nhiều cơ hội việc làm được tạo ra. Với kết quả đo lường số nhân việc làm như trên, trong năm 2022, ước tính sản phẩm cuối cùng của ngành nền tảng tăng lên đã kích thích tạo thêm gần 424.000 cơ hội việc làm trong nền kinh tế.
Cùng với đó, kinh tế nền tảng làm giảm rào cản gia nhập thị trường lao động, giúp khả năng tiếp cận của các nhóm lao động gần như nhau, hạn chế những ràng buộc về điều kiện như vị trí địa lý, bằng cấp hay vốn…
Một số thách thức
Thể chế bảo vệ người lao động chưa theo kịp sự phát triển của các mô hình lao động nền tảng
Những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong thể chế bảo vệ người lao động phi chính thức. Trong đó, Luật Bảo hiểm xã hội mở ra cơ hội về chế độ thai sản, giảm thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu và cơ hội hưởng lương hưu (Quốc hội, 2024). Luật việc làm cũng đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ cho lao động tự do như đào tạo và cấp chứng chỉ kỹ năng quốc gia, vay vốn hay cơ hội tham gia bảo hiểm thất nghiệp (Quốc hội, 2025). Tuy nhiên, việc thiết kế hệ thống pháp luật chủ yếu dựa trên mô hình lao động truyền thống (dựa trên hợp đồng làm công ăn lương) mà chưa có luật nào điều chỉnh chính thức, hay thể chế bảo vệ rõ ràng lao động trong kinh tế nền tảng (Hoàng Kim Khuyên và Phạm Thị Thúy Nga, 2025).
Gia tăng bất bình đẳng đối với người lao động phi chính thức
Việc nhận định người lao động phi chính thức là đối tác trong mối quan hệ với các doanh nghiệp kinh doanh trên nền tảng đã ảnh hưởng đến quyền lợi của họ rất nhiều như quyền về việc làm, quyền an sinh xã hội, quyền thân nhân và an toàn lao động (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2025). Cụ thể, người lao động phi chính thức sẽ không có hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, đồng nghĩa với việc không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, không có ngày nghỉ phép vẫn được hưởng lương; khi có tai nạn xảy ra hay đau ốm, những người này sẽ mất thu nhập, trong khi lại phải tự chịu hoàn toàn chi phí y tế. Báo cáo của ILO, ISSA và OECD (2023) chỉ ra rằng, lao động nền tảng có mức độ bao phủ an sinh xã hội thấp hơn, khi chỉ có thể tham gia các chương trình bảo hiểm tự nguyện và không được hưởng đầy đủ các chế độ. Mặc dù được gọi là đối tác, người lao động dựa vào nền tảng hoàn toàn không có quyền lực trong việc thương lượng hay khẳng định vị thế, mà hoàn toàn bị kiểm soát bởi hệ thống kiểm soát kỹ thuật số vô hình (Nguyễn Đức Lộc, 2026). Điều đó cho thấy, sự phát triển của kinh tế số đã làm xuất hiện thêm các dạng bất bình đẳng khác trong thị trường lao động.
Gia tăng khoảng cách số trên thị trường lao động
Thương mại điện tử Việt Nam đang chứng kiến sự bão hòa khi số lượng cửa hàng liên tục sụt giảm. Chỉ trong nửa đầu năm 2025, 80.000 cửa hàng trên các sàn thương mại điện tử đã dừng hoạt động (Thanh Hoa - Túc Hạ, 2025). Bên cạnh sự cạnh tranh khốc liệt về giá hay hàng nhập khẩu từ thị trường nước ngoài, việc thực hiện các biện pháp quản lý ngày càng khắt khe để đảm bảo tính minh bạch của hàng hóa, tăng cường kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng, ngăn chặn các hành vi quảng cáo sai sự thật, lừa dối khách hàng… là những chính sách giúp sàng lọc người bán trên các sàn những năm gần đây. Bên cạnh đó, xu hướng “winner takes most” (người thắng chiếm phần lớn) cũng được thể hiện rõ tại thị trường Việt Nam khi một nhóm người bán có lợi thế hơn về quy mô, dữ liệu, thương hiệu và khả năng đầu tư công nghệ có thị phần cao hơn nhiều so với nhóm còn lại. Trong quý III/2025, Shopee đứng đầu thị phần với 56% và Tiktok Shop bứt phá với 41%. Đồng thời, số liệu cho thấy các shop Mall trên các sàn chiếm tới 35,7% doanh thu trên 2 sàn này, trong khi chỉ chiếm 2,64% tổng số shop (Khôi Ngô, 2025).
Ngoài ra, khoảng cách số giữa các nhóm dân cư cũng được thể hiện rõ nét trong khảo sát Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) từ năm 2016-2023. Cụ thể, trong giai đoạn trên, về tiếp cận Internet, nữ giới kém hơn nam giới từ 5-10%; các nhóm dân tộc thiểu số thấp hơn 10-20% so với nhóm còn lại; khu vực nông thôn kém hơn thành thị từ 9-25%. Điều này khiến các nhóm yếu thế khó có khả năng tiếp cận việc làm số, các nền tảng.
Theo Ngân hàng thế giới (2011), lợi ích của chuyển đổi số phụ thuộc rất lớn vào kỹ năng trình độ số của người lao động. Điều đáng lo ngại là Việt Nam xếp cuối cùng trong khu vực ASEAN-6 về nguồn cung kỹ năng số. Việc nguồn nhân lực không đáp ứng kịp với quá trình chuyển đổi số sẽ làm giảm lợi ích tổng thể của nền kinh tế và tạo ra sự bất bình đẳng lớn.
Thực tế cũng cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp hiện không tuyển dụng được nhân lực có kỹ năng trong khi rất nhiều người lao động lại đang khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Do đó, kinh tế số làm gia tăng chênh lệch giữa lao động có kỹ năng và lao động phổ thông, đặc biệt trong các vị trí liên quan đến công nghệ, tự động hóa, logistics hay tài chính (Trần Linh, 2026).
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRONG KINH TẾ NỀN TẢNG
Từ những phân tích trên, để hoàn thiện thị trường lao động trong kinh tế nền tảng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động, từ đó nâng cao hiệu quả và những tác động tích cực của kinh tế nền tảng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, cần chú trọng một số giải pháp sau:
Một là, xây dựng và áp dụng chuẩn mực thống kê để đo lường việc làm trên nền tảng
Trên thực tế, việc thiếu các thuật ngữ thống nhất và những định nghĩa mang tiêu chuẩn quốc tế cũng như Việt Nam đã tạo ra rào cản rất lớn cho việc hoạch định chính sách. Việc chuẩn hóa này sẽ hỗ trợ rất lớn trong hoạt động thống kê, cung cấp dữ liệu chính xác về số lượng, thu nhập, giờ lao động, định hình rõ ràng các tiêu chí như cách kiểm soát và tổ chức bằng thuật toán của các nền tảng đối với người lao động.
Hai là, hoàn thiện khung pháp lý
Lao động phi chính thức nói chung và lao động nền tảng nói riêng chiếm tỷ trọng lớn trong thị trường Việt Nam với nhiều bất lợi về an sinh xã hội. Trong khi Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới và được dự báo sẽ nhanh chóng chuyển sang thời kỳ dân số già từ năm 2034 (Dương Liễu, 2026). Điều này sẽ tác động rất lớn đến quy mô thị trường lao động, đồng thời tạo gánh nặng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng như an sinh xã hội. Do đó, để phát triển thị trường lao động mang tính bền vững, đòi hỏi phải hoàn thiện khung pháp lý, cụ thể là Bộ luật Lao động để gia tăng quyền lợi và mở rộng bao phủ an sinh xã hội, nhất là với nhóm lao động phi chính thức. Đặc biệt, cần có những điều luật để điều chỉnh quan hệ lao động trong khu vực kinh tế nền tảng, bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của người lao động làm việc trong khu vực kinh tế đặc thù này.
Ba là, tăng cường giám sát, xử lý vi phạm
Trong nhiều trường hợp, việc doanh nghiệp trên các nền tảng dùng công nghệ và thuật toán để quản lý người lao động thay vì ký hợp đồng lao động chính thức thực chất là một hình thức né tránh đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và trách nhiệm đối với các rủi ro về an toàn lao động. Do đó, cơ quan hữu quan các cấp cần tăng cường phối hợp thanh tra, kiểm tra nhằm kiểm soát và xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng lao động chính thức nhưng không có hợp đồng bằng văn bản. Đồng thời, thời đại công nghệ cũng đòi hỏi quyền lực pháp lý liên quan đến thanh tra kỹ thuật số, cho phép các thanh tra tiếp cận, kiểm toán hệ thống và dữ liệu quản trị trên các nền tảng, bảo vệ tối đa quyền lợi của người lao động.
Bốn là, chủ động đào tạo, đào tạo lại, nâng cao năng lực cho lao động nền tảng
Việc tham gia vào lực lượng lao động trong nền kinh tế số, trong đó có các ngành kinh tế nền tảng đòi hỏi người lao động phải có các kỹ năng số và công nghệ để tối ưu hóa thời gian, quản lý dữ liệu, nâng cao năng suất và thích ứng với quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Các cơ quan quản lý cần phối hợp với các cơ sở đào tạo thiết lập khung chương trình đào tạo kỹ năng số cho người lao động, đặc biệt chú trọng thu hẹp khoảng cách số đối với các khu vực nông thôn, các nhóm giới tính cũng như dân tộc thiểu số. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo để thiết kế chương trình thực tiễn, bám sát nhu cầu thị trường và khả năng chuyển đổi linh hoạt. Bên cạnh đó, với sự thay đổi liên tục của công nghệ và trí tuệ nhân tạo, đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống đào tạo nội bộ và liên kết với các nền tảng để nhân viên liên tục được tái đào tạo và nâng cấp năng lực, chuẩn bị sẵn sàng cho những biến động của thị trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Dương Liễu (2026). Việt Nam bước vào thời kỳ dân số già trong ít năm tới. https://tuoitre.vn/viet-nam-buoc-vao-thoi-ky-dan-so-gia-trong-it-nam-toi-20260126171300799.htm
2. Đại Kim (2025). Tác động đa chiều của kinh tế nền tảng. https://nhandan.vn/tac-dong-da-chieu-cua-kinh-te-nen-tang-post870834.html
3. Hoàng Kim Khuyên và Phạm Thị Thúy Nga (2025). Thực trạng về thể chế bảo vệ người lao động trong nền kinh tế số, phi chính thức ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện trong bối cảnh nâng cao năng lực quốc gia. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
4. International Labour Organization - ILO (2021). World Employment and Social Outlook: The role of digital labour platforms in transforming the world of work. ILO Flagship Report.
5. ILO (2025). Measuring digital platform employment in Viet Nam: Lessons learned from the pilot survey. https://www.ilo.org/sites/default/files/2025-07/ILO%20Research%20brief_Measuring%20DPE%20-%20VNM_2025-07_final.pdf
6. ILO (2026). Digital labour Platforms: Number of platforms and workers. https://www.ilo.org/sites/default/files/2026-02/Research%20Brief_Digital%20labour%20platforms_Number%20of%20platforms%20and%20workers.pdf
7. ILO, ISSA and OECD (2023). Providing adequate and sustainable social protection for workers in the gig and platform economy. Technical paper prepared for the 1st meeting of the employment Working Group under the Indian presidency.
8. Khôi Ngô (2025). Thị trường thương mại điện tử: Shopee giữ “ngôi vương”, Tiktok shop duy trì đà tăng trưởng, Tiki thu hẹp thị phần. https://daibieunhandan.vn/thi-truong-thuong-mai-dien-tu-shopee-giu-ngoi-vuong-tiktok-shop-duy-tri-da-tang-truong-tiki-thu-hep-thi-phan-10393488.html
9. Ngân hàng Thế giới (2021). Chuyển đổi số ở Việt Nam: Kỹ năng của người lao động cũng phải chuyển đổi theo. https://blogs.worldbank.org/en/eastasiapacific/digital-transformation-vietnam-skills-must-transform-too
10. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2025). Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động trong nền kinh tế nền tảng và một số kiến nghị hoàn thiện. Tạp chí Tòa án điện tử. https://tapchitoaan.vn/thuc-trang-phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-lao-dong-trong-nen-kinh-te-nen-tang-va-mot-so-kien-nghi-hoan-thien13359.html
11. Nguyễn Đức Lộc (2026). The broken dream of autonomy: precarious working conditions in Ho Chi Minh City’s platform economy. The Contradictions of Market Socialism.
12. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
13. Quốc hội (2025). Luật Việc làm số 74/2025/QH15.
14. Quỳnh Chi (2025). Trong lao động có từ 2 nguồn thu nhập trở lên, 55,1% tham gia nền kinh tế làm việc tự do. https://laodong.vn/cong-doan/trong-lao-dong-co-tu-2-nguon-thu-nhap-tro-len-551-tham-gia-nen-kinh-te-lam-viec-tu-do-1582560.ldo
15. Thạch Lam (2025). 80.000 gian hàng tháo chạy khỏi sàn thương mại điện tử. https://laodong.vn/kinh-doanh/80000-gian-hang-thao-chay-khoi-san-thuong-mai-dien-tu-1583834.ldo
16. Trần Linh (2026). Thị trường lao động không thiếu người, chỉ thiếu người làm được việc. https://doanhnghiephoinhap.vn/thi-truong-lao-dong-khong-thieu-nguoi-chi-thieu-nguoi-lam-duoc-viec-133330.html
17. United Nations Development Programme - UNDP (2024). E-governance performance in 2023 and the need to close the digital divide. https://www.undp.org/vietnam/blog/e-governance-performance-2023-and-need-close-digital-divide.
18. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2025). Nhận diện tác động của kinh doanh nền tảng tới nền kinh tế Việt Nam.
| Ngày nhận bài: 12/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 14/6/2026; Ngày duyệt đăng: 19/6/2026 |
Các tin khác
Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam