Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Nghiên cứu - Trao đổi 09:53 | 09/09/2026
Việc duy trì một kênh quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là rất cần thiết nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại

ThS. Trần Hoàng Trung, TS. Đặng Vũ Hùng

Ngân hàng Phát triển Việt Nam

ThS. Đào Quốc Huy (tác giả liên hệ)

Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Email: huyqd@vdb.gov.vn

Tóm tắt

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII và dự thảo Đại hội XIV, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 đặt mục tiêu trong giai đoạn 2021-2030, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của nước ta dự kiến khoảng 7%/năm, tổng vốn đầu tư xã hội bình quân đạt 33-35% GDP, ước tính tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 4 năm giai đoạn 2027-2030 tương đương giai đoạn 10 năm 2011-2020 khoảng 15 triệu tỷ đồng, đòi hỏi nền kinh tế phải huy động tối đa các kênh: Ngân sách Nhà nước, vốn ODA, vốn vay của các tổ chức tín dụng, thị trường chứng khoán..., tuy nhiên kênh huy động qua tổ chức trung gian của Nhà nước luôn giữa vị trí quan trọng hàng đầu. Bài viết này, tác giả muốn đánh giá và đưa ra một số gợi ý về kênh quản lý tín dụng Nhà nước cho đầu tư phát triển, để các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo.

Từ khóa: Đầu tư phát triển, ngân sách nhà nước, tín dụng đầu tư của Nhà nước, tổ chức tín dụng

Abstract

The political report at the 13th National Congress and the draft of the 14th National Congress, the 10-year socio-economic development strategy for 2021-2030, set the goal that during the period 2021-2030, Vietnam's average GDP growth rate is expected to be about 7% per year, the average total social investment will reach 33-35% of GDP, and the total estimated social development investment for the four-year period 2027-2030 will be equivalent to that of the 10-year period 2011-2020, approximately 15 million billion VND. This requires the economy to maximally mobilize channels such as the State budget, ODA capital, loans from credit institutions, the stock market, etc. However, the mobilization channel through state intermediary organizations always holds a top priority. In this article, the author aims to evaluate and provide some suggestions on the state credit management channel for development investment so that policymakers in Vietnam can study and reference.

Keywords: Development Investment, State Budget, State Investment Credit, Credit Organization

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 của Việt Nam đặt mục tiêu trong giai đoạn 2021-2030, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của nước ta dự kiến khoảng 7%/năm, tổng vốn đầu tư xã hội bình quân đạt 33-35% GDP, ước tính tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2027-2030 tương đương giai đoạn 2011-2020 khoảng 15 triệu tỷ đồng.

Để đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển (ĐTPT), đòi hỏi nền kinh tế phải huy động qua nhiều kênh khác nhau: chi từ ngân sách Nhà nước (NSNN), vốn ODA, vốn vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), vốn huy động qua thị trường chứng khoán... Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam giai đoạn sắp tới, có thể thấy rằng việc huy động nguồn vốn ĐTPT qua các kênh nói trên cũng gặp nhiều khó khăn.

Bắt nguồn từ những lý do nêu trên, việc duy trì một kênh quản lý nguồn vốn ĐTPT cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước (TDNN) là rất cần thiết nhằm đảm bảo vẫn đáp ứng được nhu cầu vốn ĐTPT của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại hoặc không làm cho hoạt động của các kênh này đi chệnh định hướng đã được đặt ra.

TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC

Khái niệm

TDNN là hình thức cung ứng vốn trung và dài hạn do Nhà nước tổ chức thực hiện thông qua các định chế tài chính phát triển, nhằm tài trợ cho các dự án và hoạt động đầu tư có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế - xã hội nhưng chưa được thị trường tín dụng thương mại đáp ứng đầy đủ. Khác với tín dụng thương mại, TDNN không đặt trọng tâm vào mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến việc hỗ trợ các lĩnh vực có lợi ích xã hội cao, thời gian thu hồi vốn dài và mức độ rủi ro lớn. Do đó, hình thức tín dụng này được xem là công cụ can thiệp có chọn lọc của Nhà nước nhằm khắc phục những bất cập và khiếm khuyết của thị trường tín dụng trong phân bổ nguồn lực cho ĐTPT (Eslava và Freixas, 2021).

Về bản chất, TDNN mang tính chính sách rõ nét và gắn chặt với các mục tiêu phát triển dài hạn của quốc gia. Các khoản tín dụng này thường được thiết kế với lãi suất ưu đãi, thời hạn vay dài và điều kiện trả nợ linh hoạt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể đầu tư. Cơ chế này cho phép Nhà nước chia sẻ rủi ro với người vay, từ đó khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không sẵn sàng tài trợ (Townsend và Yaron, 2001). Vì vậy, TDNN vừa mang tính hỗ trợ tài chính, vừa phản ánh vai trò điều tiết và định hướng phát triển của Nhà nước.

Hình thức và điều kiện tín dụng

Một nội dung cốt lõi khác của hoạt động TDNN là việc thiết kế các hình thức cấp tín dụng phù hợp với mục tiêu chính sách. Khác với tín dụng thương mại, TDNN chủ yếu cung cấp các khoản vay trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi. Điều này nhằm giảm chi phí vốn cho các dự án phát triển có tính chiến lược và khuyến khích đầu tư dài hạn. Theo Griffith-Jones và Ocampo (2018), ưu đãi về điều kiện tín dụng là đặc trưng quan trọng giúp ngân hàng phát triển thực hiện vai trò hỗ trợ tăng trưởng.

Điều kiện cấp tín dụng trong TDNN được xây dựng theo hướng vừa hỗ trợ vừa bảo đảm kỷ luật tài chính. Ngoài các tiêu chí tài chính truyền thống, điều kiện cho vay còn gắn với mức độ phù hợp của dự án với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Cách tiếp cận này giúp TDNN vượt ra ngoài logic lợi nhuận thuần túy và hướng tới hiệu quả tổng thể. Đồng thời, nó hạn chế nguy cơ lựa chọn dự án kém hiệu quả do động cơ chính trị hoặc lợi ích cục bộ (Ru, 2018).

Vai trò

TDNN giữ vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy ĐTPT và tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế dài hạn. Thông qua việc cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án có ý nghĩa chiến lược, TDNN giúp bảo đảm tính liên tục của các hoạt động đầu tư nền tảng mà thị trường tài chính thương mại khó có khả năng đáp ứng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các lĩnh vực như hạ tầng kinh tế - xã hội, công nghiệp nền tảng và phát triển vùng, nơi yêu cầu quy mô vốn lớn và thời gian thu hồi kéo dài (De Luna-Martínez và Vicente, 2012; World Bank, 2012). Nhờ đó, TDNN góp phần hình thành cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế. Đồng thời, nó tạo động lực lan tỏa, kích thích các hoạt động đầu tư bổ trợ từ khu vực tư nhân. Về dài hạn, vai trò này giúp nâng cao năng lực sản xuất và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế.

TDNN là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng dòng vốn theo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua việc lựa chọn lĩnh vực, ngành nghề và dự án ưu tiên, Nhà nước có thể điều tiết cơ cấu đầu tư phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia mà không cần sử dụng các biện pháp hành chính trực tiếp. Vai trò này phản ánh chức năng điều phối phát triển của Nhà nước thông qua các định chế tài chính phát triển, cả ở cấp quốc gia và khu vực (Griffith-Jones và Ocampo, 2018; Mertens và Thiemann, 2019). Việc định hướng dòng vốn giúp bảo đảm sự gắn kết giữa mục tiêu chính sách và hoạt động của hệ thống tài chính. Đồng thời, nó góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải. Qua đó, cơ cấu kinh tế được điều chỉnh theo hướng hiện đại và bền vững hơn.

TDNN giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và giảm bất bình đẳng xã hội. Thông qua việc hỗ trợ vốn cho các khu vực khó khăn, cộng đồng yếu thế và các dự án có lợi ích xã hội cao, công cụ này mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính chính thức cho nhiều chủ thể kinh tế. Các nghiên cứu về ngân hàng phát triển cho thấy tín dụng công có tác động tích cực đến việc thu hẹp chênh lệch phát triển vùng và nâng cao mức sống của các nhóm dễ bị tổn thương (Rauniyar và Kanbur, 2010; Parzen và Kieschnick, 1992). Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế không chỉ đạt được về quy mô mà còn được cải thiện về chất lượng. Vai trò này góp phần củng cố nền tảng xã hội cho phát triển bền vững. Đồng thời, nó hỗ trợ thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội gắn với ổn định chính trị – xã hội.

Trong cấu trúc hệ thống tài chính, TDNN đóng vai trò bổ trợ và ổn định thị trường tín dụng. Khi các TCTD thương mại có xu hướng hạn chế cho vay dài hạn hoặc né tránh rủi ro, TDNN giúp lấp đầy khoảng trống tài chính mang tính cấu trúc. Cơ chế này cho phép duy trì dòng vốn cho các dự án phát triển then chốt ngay cả trong bối cảnh thị trường tài chính biến động (Eslava và Freixas, 2021). Vai trò bổ trợ của TDNN góp phần làm sâu sắc thêm thị trường vốn và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính. Đồng thời, nó hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngắn hạn. Qua đó, tính ổn định và an toàn của hệ thống tài chính quốc gia được tăng cường.

TDNN cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chức năng chống chu kỳ. Trong các giai đoạn suy giảm kinh tế hoặc khủng hoảng tài chính, việc mở rộng tín dụng đầu tư công giúp duy trì mức đầu tư, việc làm và tổng cầu. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các ngân hàng phát triển và cơ chế TDNN dẫn dắt có khả năng giảm thiểu tác động tiêu cực của các cú sốc kinh tế nếu được quản trị hiệu quả (Ru, 2018; Townsend và Yaron, 2001). Vai trò này giúp bảo đảm tính liên tục của các chương trình phát triển dài hạn. Đồng thời, nó hỗ trợ sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Nhờ đó, nền kinh tế có điều kiện phục hồi nhanh và ổn định hơn sau khủng hoảng.

TDNN còn là công cụ quan trọng để triển khai và hiện thực hóa các chính sách phát triển trong thực tiễn. Thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi, các mục tiêu chiến lược của Nhà nước được chuyển hóa thành các dự án và hoạt động đầu tư cụ thể. Vai trò này phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa tín dụng phát triển, quản trị nhà nước và các chuẩn mực tài chính trong nước cũng như quốc tế (Bøås, 2013; Humphrey, 2017). Việc áp dụng cơ chế tín dụng hoàn trả vốn giúp nâng cao kỷ luật tài chính so với hình thức cấp phát ngân sách trực tiếp. Đồng thời, nó tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực công trong dài hạn.

Sự cần thiết

Sự tồn tại của TDNN là cần thiết, đây là hình thức quan trọng mà trong giai đoạn phát triển của các quốc gia đều phải sử dụng làm công cụ chính sách cho ĐTPT đất nước, một số lý do cơ bản như sau:

Một là, TDNN xuất phát từ yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu ĐTPT ngày càng lớn với sự giới hạn của NSNN. Việt Nam đang trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Do nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế trong khi nhu cầu chi ĐTPT lại rất lớn, NSNN không thể trang trải hết cho toàn bộ các dự án ĐTPT, nên Nhà nước buộc phải lựa chọn các dự án ĐTPT không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp để đầu tư (bằng cách cấp phát không hoàn lại). Còn đối với những dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, Nhà nước đầu tư thông qua kênh TDNN, trong đó doanh nghiệp được vay vốn của Nhà nước để đầu tư và phải sử dụng nguồn thu từ dự án để hoàn trả toàn bộ số nợ đã vay Nhà nước.

Hai là, TDNN nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước trong việc khắc phục các khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Việt Nam đang xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù là bước phát triển cao của nền kinh tế sản xuất hàng hoá với rất nhiều điểm ưu việt những kinh tế thị trường cũng có khá nhiều khiếm khuyết như nạn ô nhiễm môi trường, tình trạng phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội, phát triển không cân đối giữa các vùng miền. Để khắc phục những khiếm khuyết này, Nhà nước cần sử dụng nhiều công cụ (thuế, chi NSNN, TDNN...) trong việc điều tiết, phân bổ nguồn lực, đảm bảo cho các vùng, các ngành, hoặc thành phần kinh tế phát triển một cách đồng đều, trong đó TDNN là công cụ chủ yếu để tài trợ cho các dự án ĐTPT có khả năng thu hồi vốn trực tiếp nhằm hỗ trợ phát triển các ngành nghề hoặc địa bàn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng đang khó khăn về nguồn vốn đầu tư.

Ba là, TDNN nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Mặc dù chỉ đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là một nội dung chi rất lớn và quan trọng trong chi ĐTPT của NSNN, song hiệu quả đầu tư của nhiều dự án sử dụng vốn NSNN thường không cao do tâm lý ỷ lại vào sự bao cấp của NSNN. Để khắc phục tình trạng này, việc giảm chi thông qua cấp phát từ NSNN cho các dự án ĐTPT có khả năng thu hồi vốn trực tiếp để chuyển sang hình thức hỗ trợ thông qua kênh TDNN là cần thiết. Việc làm này vừa tháo gỡ khó khăn cho NSNN vừa nâng cao hiệu quả đầu tư của các dự án do khắc phục tâm lý trông chờ ỷ lại vào NSNN.

Bốn là, TDNN nhằm đáp ứng yêu cầu của hợp tác kinh tế quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại. Việc cung cấp ODA cho các nước chậm phát triển dưới hình thức cho vay với thời hạn cho vay dài, lãi suất cho vay ưu đãi nhằm thực hiện các dự án ĐTPT cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là một nội dung trong hoạt động TDNN. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ, việc cho vay ODA ra nước ngoài là việc làm cần thiết nhằm hỗ trợ các quốc gia thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đồng thời tạo điều kiện để mở rộng đầu tư trực tiếp và xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam vào thị trường của nước nhận ODA.

Kênh quản lý vốn

Để thực thi chính sách TDNN, tuỳ theo điều kiện thực tế của nền kinh tế trong từng thời kỳ. Nhà nước có thể giao cho một hoặc một số tổ chức khác nhau như Kho bạc Nhà nước, TCTD được Nhà nước lựa chọn... Trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, việc giao cho một Ngân hàng Chính sách là Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) có những ưu thế nổi bật, thể hiện trên các khía cạnh cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tập trung được nguồn vốn TDNN cho một đơn vị quản lý, tạo sự đồng bộ, thống nhất về cơ chế chính sách và cách thức tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.

Thứ hai, tận dụng được tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất, nhân lực và kinh nghiệm của một tổ chức đã từng nhiều năm triển khai hoạt động TDNN qua nhiều thời kỳ đã có sự điều chỉnh phù hợp với các nhiệm vụ chính sách được giao.

Thứ ba, đảm bảo tính minh bạch trong quản lý và sử dụng nguồn lực Nhà nước do tách bạch được hoạt động TDNN với hoạt động chính của các TCTD vốn dĩ được thành lập để thực hiện các nhiệm vụ khác.

Thứ tư, tránh được các xáo trộn đối với đội ngũ lao động hiện tại của VDB có mạng lưới trải dài ở toàn bộ các tỉnh thành trên cả nước, không đòi hỏi nhiều thời gian và kinh phí của xã hội để chuyển đổi công việc của người lao động cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc thay đổi tổ chức thực thi chính sách TDNN.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục giao VDB thực thi chính sách TDNN là yêu cầu có tính khách quan. Việc làm này không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân VDB mà còn có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo hiệu quả hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động ĐTPT của nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư nhằm đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021- 2030 đã đặt ra.

MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Sau 20 năm hoạt động, VDB đã từng bước phát huy vai trò của một Ngân hàng Chính sách của Chính phủ, góp phần quan trọng huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, kênh thực thi chính sách TDNN hiệu quả, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hỗ trợ ĐTPT kinh tế và xuất khẩu.

Thứ nhất, cung ứng một lượng vốn tín dụng tương đối lớn lớn đáp ứng nhu cầu ĐTPT của nền kinh tế. Thông qua huy động và tài trợ vốn cho các dự án ĐTPT, đặc biệt các dự án trọng điểm củaquốc gia, VDB đã có những đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đó là: giai đoạn 2006-2024, tổng số vốn tín dụng VDB giải ngân chiếm khoảng 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 2% tổng sản phẩm quốc nội; tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ vốn tín dụng bình quân giai đoạn đạt 7,8%/năm.

Thứ hai, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Thực hiện mục tiêu chiến lược chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH, vốn tín dụng của VDB đã có những bước chuyển biến căn bản và mạnh mẽ về cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực ngành nghề, theo hướng tăng nhanh tỷ trọng vốn dành cho ĐTPT các dự án công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn và công nghiệp nhẹ, trong đó có chú trọng đến công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản. Tỷ lệ vốn tín dụng của VDB luôn cao hơn tỷ lệ vốn ĐTPT của toàn xã hội, thu hút được nhiều nguồn vốn khác trên thị trường cùng cho vay các dự án các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, tác động tích cực đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng miền và cả nước, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Thứ ba, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất của nền kinh tế, phát triển nông nghiệp nông thôn, đảm bảo an sinh xã hội. Thông qua việc đẩy mạnh cho vay vốn ĐTPT, hoạt động TDNN của VDB đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế thông qua hoạt động cho vay đối với nhiều chương trình/dự án trọng điểm quốc gia. Việc cho vay lượng vốn lớn đối với các dự án trọng điểm góp phần không chỉ tạo động lực phát triển cho các ngành/lĩnh vực trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa phát triển vùng/miền và các ngành thương mại, sản xuất vật liệu và hỗ trợ. Cũng nhờ đó, đã góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, an sinh xã hội như các dự án trường học, bệnh viện, xử lý rác thải, cấp nước sạch, nhà ở xã hội…

Thứ năm, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính. Trái phiếu do VDB phát hành đã góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường vốn, thị trường trái phiếu nói riêng thông qua việc bổ sung thêm các sản phẩm tài chính, tăng quy mô thị trường. VDB là tổ chức phát hành trái phiếu lớn thứ hai nền kinh tế sau Kho bạc Nhà nước Việt Nam và là tổ chức phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh lớn nhất trên thị trường trái phiếu. Bên cạnh đó, thông qua việc cùng hợp vốn với các TCTD để cho thực hiện chính sách TDNN đã góp phần quan trọng thu hút các nguồn vốn dài hạn khác trong và ngoài nước để tài trợ cho các dự án ĐTPT, góp phần tích cực vào mức tăng trưởng tín dụng hàng năm của nền kinh tế, tăng tỷ lệ tiền tệ hóa toàn nền kinh tế.

MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

Trong bối cảnh hiện nay, VDB với tư cách là một định chế tài chính được giao thực thi chính sách TDNN ở Việt Nam, cần nỗ lực đổi mới mô hình hoạt động và nâng cao năng lực của mình, đặc biệt là khả năng tạo lập nguồn vốn và quản trị rủi ro, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn ĐTPT của nền kinh tế. Một số gợi ý chính sách đối với hoạt động của VDB như sau:

Định hướng

Một là, tiếp tục giữ vững, củng cố và phát huy chức năng công cụ chính sách của VDB, từng bước nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động, đóng góp tích cực vào nhiệm vụ nâng cao vai trò hướng dẫn, kiến tạo của Chính phủ trong nền kinh tế, triển khai thành công nhiệm vụ hỗ trợ phát triển kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước: Tập trung vào hoạt động chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận; Giải quyết căn cơ, triệt để nợ xấu, nợ tồn, duy trì các nghiệp vụ để nâng cao thu nhập, cải tiến chất lượng quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản; Cải thiện quy mô và năng lực tài chính thông qua nâng cao dần mức vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu khác; Nghiên cứu mở thêm các loại dịch vụ mới, bao gồm cả việc tăng cường hình thức ủy thác cho vay, hợp vốn cho vay với các TCTD để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn TDNN.

Hai là, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách: VDB được hoàn toàn chủ động trong việc quyết định tài trợ và tự chịu rủi ro về quyết định tài trợ của mình dựa trên nguyên tắc thị trường, những vẫn phati tuân thủ các quy định của Pháp luật. Đối với các trường hợp chính sách chỉ định, theo cơ chế riêng do Chính phủ và cơ quan chỉ định cho vay để đảm bảo khả năng thanh toán cho VDB khi các dự án này không trả được nợ; Ngoài ra, VDB được chủ động phát triển các sản phẩm dịch vụ tài chính để hỗ trợ tốt hơn cho các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

Ba là, xác định rõ cơ chế tài chính, cơ chế xử lý rủi ro và các nguyên tắc hoạt động phù hợp: cơ chế tài chính, cơ chế lương khắc phục được các tồn tại hiện hữu theo hướng tự chủ hơn về tài chính khi áp dụng cơ chế tín dụng chủ động. Hoạt động vẫn chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng; Quy định về phân loại nợ dần đưa cơ chế quản lý chất lượng tín dụng tiến tới thông lệ chung của các TCTD, đồng thời phù hợp với yêu cầu báo cáo số liệu và huy động vốn của VDB; Đổi mới cơ chế xử lý rủi ro theo hướng mở rộng hơn nữa thẩm quyền của VDB trong việc sử dụng các biện pháp phù hợp với mức độ rủi ro phát sinh và nguồn lực tài.

Mục tiêu

Một là, là công cụ của Chính phủ trong hỗ trợ phát triển kinh tế, hoạt động chuyên nghiệp và hiện đại; phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng theo tiêu chuẩn thị trường để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tín dụng của Nhà nước. Hội nhập với thị trường trong nước và quốc tế, đảm bảo tự chủ tài chính, tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động, có tích luỹ và dự phòng vững chắc, đủ sức đảm nhiệm những nhiệm vụ mới do Chính phủ giao.

Hai là, xử lý được nợ xấu tồn đọng; Nâng cao chất lượng hoạt động; Xây dựng được hệ thống quản lý rủi ro; Cải thiện được thu chi và tình hình tài chính; Triển khai được các hoạt động thị trường.

Ba là, mục tiêu cụ thể đề xuất cho VDB như sau:

(1) Mô hình tổ chức bộ máy của VDB cần điều chỉnh phù hợp với các hoạt động của mình (Hình).

Hình: Tổ chức bộ máy VDB đến năm 2035

Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

(2) Điều kiện thực hiện:

VDB cần phát triển theo hướng tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động để thực hiện có hiệu quả vai trò hỗ trợ phát triển nền kinh tế, hạn chế sự can thiệp của Chính phủ; Chính phủ và các cơ quan Bộ, ngành giữ vai trò định hướng, giám sát hoạt động theo quy định của pháp luật. Theo đó:

Thứ nhất, các chính sách tín dụng được điều chỉnh theo hướng chủ động tính đủ các chi phí (bao gồm cả chi phí huy động vốn, chi phí DPRR và các chi phí quản lý khác); tăng thẩm quyền tự chủ hơn trong hoạt động huy động vốn, quyết định cho vay và xử lý rủi ro.

Thứ hai, hoạt động được mở rộng đầy đủ các hình thức cho vay (cho vay vốn lưu động ổn định sản xuất ban đầu, cho vay các doanh nghiệp mới khởi nghiệp...), thực hiện một số hoạt động kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng.

Thứ ba, là một tổ chức được chỉ định cung ứng vốn tín dụng chính sách cho các dự án phát triển đảm bảo cả mục tiêu kinh tế-xã hội, có nhu cầu vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, đóng góp cho sự phát triển bền vững về kinh tế-xã hội.

Tài liệu tham khảo:

1. De Luna-Martínez & Vicente (2012). Global survey of development banks. World Bank Policy Research Working Paper, (5969).

2. Eslava & Freixas (2021). Public development banks and credit market imperfections. Journal of Money, Credit and Banking, 53(5), 1121-1149.

3. Griffith-Jones và Ocampo (2018). The future of national development banks. Oxford University Press.

4. Mertens & Thiemann (2019). Building a hidden investment state? The European Investment Bank, national development banks and European economic governance. Journal of European public policy, 26(1), 23-43.

5. Ngân hàng Phát triển Việt Nam (2006-2025). Báo cáo tình hình hoạt động của VDB giai đoạn 2006-2025.

6. Townsend & Yaron (2001). The credit risk-contingency system of an Asian development bank. Economic Perspectives-Federal Reserve Bank of Chicago, 25(3), 31-48.

7. World Bank (2012). Global financial development report 2013: Rethinking the role of the state in finance.

Ngày nhận bài: 21/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/8/2026; Ngày duyệt đăng: 9/9/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"