Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Nghiên cứu - Trao đổi 17:59 | 09/09/2026
Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Nguyễn Trần Yên Hạ

Trường Đại học Công Thương; Email: hanty@huit.edu.vn

Phạm Thanh Vân

Trường Đại học Tài chính Marketing; Email: ptvan@ufm.edu.vn

Tóm tắt

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Kết quả cho thấy số doanh nghiệp hoạt động tăng 25,5% trong 5 năm, kéo theo lao động, vốn và doanh thu tăng trưởng hai con số; tuy nhiên quá trình này bộc lộ nghịch lý giữa quy mô nhỏ bé của khu vực ngoài nhà nước, hiện tượng “kinh tế kép” giữa FDI và doanh nghiệp trong nước, mất cân đối vùng miền và đà suy giảm chưa từng có của hộ kinh doanh cá thể. Từ đó, bài viết đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Từ khoá: Tổng điều tra kinh tế, doanh nghiệp, kinh tế tư nhân, FDI, tái cơ cấu kinh tế, Việt Nam

Abstract

Using preliminary data from the 2026 Economic Census released by the Statistics Office, this paper examines changes in the scale, ownership structure, sectoral composition, and regional distribution of Viet Nam's enterprise sector during 2020–2025, with comparisons to cooperatives and individual business establishments. The results show that the number of active enterprises increased by 25.5% over the five-year period, accompanied by double-digit growth in employment, capital, and revenue. However, this expansion also reveals several structural challenges, including the small scale of the domestic non-state sector, a widening “dual economy” between foreign-invested enterprises (FDI) and domestic firms, persistent regional imbalances, and an unprecedented decline in individual business establishments. Based on these findings, the paper proposes policy implications to promote the transformation of household businesses into formal enterprises, strengthen linkages between domestic firms and the FDI sector, rebalance spatial development, and improve capital-use efficiency.

Keywords: Economic census, enterprises, private sector, FDI, economic restructuring, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khu vực doanh nghiệp Việt Nam hai thập niên qua không ngừng lớn mạnh, song vẫn tồn tại khoảng cách giữa khát vọng “quốc gia khởi nghiệp” với năng lực cạnh tranh thực tế của phần lớn doanh nghiệp trong nước. Theo World Bank, hiện tượng “kinh tế kép” cần được cảnh báo khi khối FDI dẫn dắt xuất khẩu, năng suất, còn khu vực tư nhân trong nước vẫn phân mảnh, thiếu liên kết chuỗi giá trị (World Bank, 2026). Nhận diện nút thắt này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, xác định đây là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, đóng góp khoảng 58% GDP (Bộ Chính trị, 2025).

Trong bối cảnh đó, kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố tháng 6/2026 cung cấp bức tranh cập nhật, toàn diện về quy mô, cơ cấu và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp so với kỳ Tổng điều tra năm 2021, làm cơ sở đo lường mức độ hiện thực hóa mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo (Cục Thống kê, 2026).

Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ những dịch chuyển cấu trúc của khu vực doanh nghiệp giai đoạn 2020-2025, đặt trong tương quan với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể, từ đó nhận diện điểm nghẽn về quy mô, cơ cấu sở hữu, phân bố vùng, hiệu suất sử dụng nguồn lực, làm cơ sở đề xuất hàm ý chính sách theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tiếp cận sự phát triển của khu vực doanh nghiệp từ 3 hệ hình bổ trợ. Thứ nhất, mô hình tăng trưởng Solow (1956) xem tích lũy vốn và hiệu quả sử dụng nguồn lực là động lực của tăng trưởng; sự gia tăng số doanh nghiệp cùng vốn và lao động huy động phản ánh quá trình tích lũy tư bản ở cấp vi mô.

Thứ hai, lý thuyết “phá hủy sáng tạo” của Schumpeter (1934) coi doanh nghiệp mới là động lực đổi mới và thay thế các phương thức sản xuất lạc hậu; qua đó, sự thu hẹp của hộ kinh doanh cá thể đồng thời với mở rộng khu vực doanh nghiệp có thể được nhìn nhận như một quá trình chuyển dịch cơ cấu.

Thứ ba, kinh tế học thể chế của North (1990) nhấn mạnh vai trò của thể chế, pháp luật, chi phí giao dịch và môi trường kinh doanh trong việc chuyển hóa nguồn lực thành hoạt động kinh doanh chính thức, phù hợp với định hướng cải cách của Nghị quyết 68-NQ/TW, trong đó đặt mục tiêu cắt giảm tối thiểu 30% thời gian, chi phí và điều kiện kinh doanh (Bộ Chính trị, 2025).

Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả để hệ thống hóa và so sánh số lượng đơn vị, lao động, vốn và doanh thu của khu vực doanh nghiệp giai đoạn 2020–2025. Dữ liệu chính lấy từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 – Kết quả sơ bộ (Cục Thống kê, 2026), với 2 mốc so sánh 31/12/2020 và 31/12/2025.

Nghiên cứu đồng thời tham chiếu báo cáo kinh tế vĩ mô của World Bank (2026) và Nghị quyết số 68-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2025) để đặt các kết quả trong bối cảnh kinh tế và chính sách..

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020-2025

Quy mô và cơ cấu sở hữu

Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026, đến 31/12/2025 cả nước có gần 6,3 triệu cơ sở kinh tế đang hoạt động, gồm gần 876,2 nghìn doanh nghiệp, hợp tác xã; gần 5,3 triệu cơ sở kinh doanh cá thể; 52,2 nghìn cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; gần 8 nghìn tổ hợp tác và 82,5 nghìn cơ sở hành chính, sự nghiệp, hiệp hội (Cục Thống kê, 2026). Riêng khu vực doanh nghiệp, trong 1.220.678 doanh nghiệp được thu thập thông tin, có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh, tăng 2,4% so với năm 2024 và tăng 25,5% so với năm 2020 là minh chứng cho khả năng thích ứng của khu vực doanh nghiệp trước biến động của môi trường kinh doanh trong và ngoài nước.

Cơ cấu sở hữu tiếp tục chuyển dịch phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế tư nhân. Khu vực ngoài nhà nước giữ vai trò chủ đạo với 827,5 nghìn doanh nghiệp, chiếm hơn 96% tổng số, tăng 25,4% so với năm 2020. Khu vực FDI có tốc độ tăng cao nhất, đạt 29,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 33,9% so với năm 2020, phản ánh sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam trong xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngược lại, doanh nghiệp nhà nước tiếp tục thu hẹp, chỉ còn 1.770 đơn vị, giảm 9,8% so với năm 2020, phù hợp chủ trương sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (Cục Thống kê, 2026).

Cơ cấu ngành và phân bố vùng

Theo ngành, Dịch vụ chiếm ưu thế với 612,5 nghìn doanh nghiệp, tương đương 71,3% tổng số, tăng 31,3% so với năm 2020. Công nghiệp và Xây dựng có 240,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 13,8%, trong khi Nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ có 5.989 doanh nghiệp, giảm 7,2%, phản ánh những hạn chế về rủi ro và khả năng sinh lời của lĩnh vực này (Cục Thống kê, 2026).

Về không gian, doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại Đông Nam Bộ (349.672 doanh nghiệp, 40,7%) và Đồng bằng sông Hồng (267.240 doanh nghiệp, 31,1%). Trong khi đó, Trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 4,9% nhưng có tốc độ tăng cao nhất, 44,4% so với năm 2020. Điều này cho thấy hoạt động doanh nghiệp vẫn tập trung ở các trung tâm kinh tế lớn, song dư địa phát triển tại các vùng còn “trũng” đang dần được khai thác (Cục Thống kê, 2026).

Lao động và quy mô doanh nghiệp bình quân

Lao động khu vực doanh nghiệp tăng 19,7%, đạt gần 17,6 triệu người năm 2025, cho thấy quy mô sản xuất và năng lực tạo việc làm tiếp tục mở rộng. Khu vực ngoài nhà nước tạo gần 10,5 triệu việc làm, tăng 21,6%; khu vực FDI sử dụng trên 6,1 triệu lao động, tăng 20,8%; trong khi khu vực nhà nước giảm 2,5%, còn khoảng 980,1 nghìn lao động (Cục Thống kê, 2026). Theo ngành, lao động tập trung chủ yếu ở Công nghiệp - Xây dựng (10,4 triệu người) và Dịch vụ (7,0 triệu người), trong đó Dịch vụ tăng mạnh 35,3%. Về không gian, Đông Nam Bộ sử dụng nhiều lao động nhất, gần 6,4 triệu người, còn Đồng bằng sông Hồng ghi nhận tốc độ tăng cao, 26,6%.

Mặc dù lao động tăng nhanh, quy mô bình quân doanh nghiệp lại giảm từ 21,5 người năm 2020 xuống 20,5 người năm 2025, cho thấy khu vực doanh nghiệp vẫn chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa. Chênh lệch giữa các khu vực sở hữu rất lớn: doanh nghiệp nhà nước đạt 553,7 lao động/doanh nghiệp, FDI đạt 206,4, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ đạt 12,6 người/doanh nghiệp (Cục Thống kê, 2026).

Nguồn vốn và doanh thu

Nguồn lực tài chính của khu vực doanh nghiệp tăng mạnh, tạo dư địa cho đầu tư và mở rộng sản xuất. Tổng nguồn vốn năm 2025 đạt 82,8 triệu tỷ đồng, tăng 69,9% so với năm 2020. Khu vực ngoài nhà nước nắm giữ 49,0 triệu tỷ đồng; FDI đạt 17,1 triệu tỷ đồng, tăng cao nhất, 83,1%; khu vực nhà nước đạt 16,7 triệu tỷ đồng, tăng 59,6% dù số doanh nghiệp giảm, cho thấy xu hướng tập trung vốn vào các doanh nghiệp quy mô lớn (Cục Thống kê, 2026). Theo vùng, Đồng bằng sông Hồng dẫn đầu với 27,1 triệu tỷ đồng, tăng 81,0%, trong khi Đồng bằng sông Cửu Long tăng mạnh 174,5%, dù quy mô còn khiêm tốn.

Doanh thu thuần năm 2025 đạt 45,3 triệu tỷ đồng, tăng 65,6%; FDI tăng mạnh nhất (78,1%), tiếp đến là ngoài nhà nước (63,9%) và nhà nước (43,9%). Bình quân mỗi lao động đạt 4,7 tỷ đồng vốn và 2,6 tỷ đồng doanh thu. Doanh nghiệp nhà nước dẫn đầu về cả hai chỉ tiêu, lần lượt 17,0 và 5,0 tỷ đồng/lao động; FDI thấp nhất, ở mức 2,8 và 2,4 tỷ đồng, phản ánh đặc điểm thâm dụng lao động của một bộ phận khu vực FDI tại Việt Nam (Cục Thống kê, 2026).

Đối chiếu với hợp tác xã và kinh tế cá thể

Trong khi doanh nghiệp bứt phá, 2 chủ thể còn lại cho thấy gam màu trái ngược. Đến 31/12/2025, cả nước có 17.145 hợp tác xã hoạt động, giảm nhẹ so với năm 2024 nhưng vẫn tăng 12,0% so với năm 2020; khu vực Dịch vụ trong khối này là điểm sáng hiếm hoi (tăng 22,9%), trong khi Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất (46,8%) chỉ tăng khiêm tốn 3,1%. Lao động hợp tác xã giảm 6,1% so với năm 2020, kéo quy mô bình quân từ 10,9 xuống còn 9,1 người/hợp tác xã, phản ánh xu hướng tinh gọn để duy trì hiệu quả (Cục Thống kê, 2026).

Đáng chú ý hơn là khu vực cơ sở kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản quy mô lớn nhất về số lượng (gần 5,3 triệu cơ sở) nhưng đang chững lại rõ rệt. Số cơ sở chỉ tăng 1,1% so với năm 2020, mức thấp nhất qua các kỳ Tổng điều tra (giai đoạn 2016-2020 tăng 7,5%, giai đoạn 2011-2016 tăng 15,9%); tốc độ tăng bình quân 2020-2025 chỉ 0,2%/năm. Đặc biệt, lao động khu vực này giảm 1,1% so với năm 2020, lần đầu tiên qua các kỳ Tổng điều tra ghi nhận xu hướng giảm (Cục Thống kê, 2026). Đây vừa là dư chấn của đại dịch Covid-19 đối với khu vực kinh doanh nhỏ lẻ, dễ tổn thương, vừa cho thấy quá trình chính thức hóa chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp đang từng bước diễn ra theo định hướng của Nghị quyết số 68-NQ/TW.

MỘT SỐ TỒN TẠI, HẠN CHẾ

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp ngoài nhà nước còn nhỏ bé. Dù chiếm hơn 96% tổng số doanh nghiệp, khu vực này chỉ đạt bình quân 12,6 lao động/doanh nghiệp, thấp hơn nhiều so với khu vực nhà nước (553,7 người) và FDI (206,4 người). Điều này cho thấy phần lớn doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn ở quy mô nhỏ, hạn chế khả năng tích tụ vốn, công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ hai, nguy cơ hình thành “nền kinh tế kép” giữa FDI và doanh nghiệp trong nước ngày càng rõ. FDI tiếp tục dẫn dắt xuất khẩu, sản xuất và năng suất, trong khi khu vực tư nhân trong nước còn phân mảnh và thiếu liên kết chuỗi cung ứng. FDI chỉ chiếm dưới 3,5% số doanh nghiệp nhưng có tốc độ tăng vốn (83,1%) và doanh thu (78,1%) cao nhất, vượt xa khu vực ngoài nhà nước.

Thứ ba, phân bố doanh nghiệp theo vùng còn mất cân đối. Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng chiếm 71,8% số doanh nghiệp cả nước, trong khi Trung du và miền núi phía Bắc chỉ chiếm 4,9% dù có tốc độ tăng cao nhất. Sự tập trung này tạo áp lực lên hạ tầng và cho thấy dư địa phát triển tại các địa phương khác chưa được khai thác đầy đủ.

Thứ tư, suy giảm của hộ kinh doanh cá thể đặt ra thách thức về việc làm và an sinh. Lao động khu vực này lần đầu giảm 1,1%, cho thấy nhu cầu chuyển đổi sinh kế của lao động phi chính thức. Nếu chuyển đổi lên doanh nghiệp thiếu hỗ trợ về thủ tục, tín dụng và quản trị, nguy cơ tái phi chính thức hóa việc làm có thể gia tăng.

Thứ năm, hiệu quả sử dụng vốn chưa đồng đều. Doanh nghiệp nhà nước có vốn bình quân trên lao động cao nhất nhưng chỉ còn 1.770 đơn vị, đòi hỏi nâng cao hiệu quả đầu tư. FDI tuy thu hút lượng vốn lớn nhưng doanh thu bình quân trên lao động thấp nhất, phản ánh một bộ phận dự án vẫn tập trung vào gia công, với giá trị gia tăng nội địa hạn chế.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Để khắc phục những tồn tại hạn chế, hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, đóng góp khoảng 58% GDP theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, đẩy nhanh chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp - dư địa lớn nhất khi gần 5,3 triệu cơ sở đang chững lại. Cần cắt giảm thủ tục, chi phí, điều kiện kinh doanh theo đúng chỉ tiêu tối thiểu 30% của Nghị quyết số 68-NQ/TW, kèm gói hỗ trợ tín dụng, kế toán phù hợp hộ kinh doanh nhỏ.

Hai là, tăng liên kết doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI để thu hẹp “kinh tế kép”. Cần khuyến khích tập đoàn FDI dùng nhà cung cấp nội địa, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp vệ tinh, nâng tỷ lệ nội địa hóa giá trị gia tăng thay vì chỉ chạy theo quy mô vốn đăng ký.

Ba là, tái cân bằng không gian phát triển doanh nghiệp giữa các vùng, ưu đãi đất đai, tín dụng, logistics để nhân rộng đà tăng trưởng đột phá tại Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long, tránh quá tải nguồn lực tại Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng.

Bốn là, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thay vì chỉ chạy theo quy mô. Cần khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt khu vực ngoài nhà nước, đầu tư công nghệ, chuyển đổi số để cải thiện doanh thu trên vốn và trên lao động, đồng thời giám sát chặt hiệu quả đầu tư tại các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn còn lại.

Năm là, hoàn thiện thể chế hỗ trợ doanh nghiệp trên nền tảng số, tiếp nối việc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 lần đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xác định mã ngành, theo dõi tiến độ trên bản đồ số. Cần liên thông dữ liệu đăng ký kinh doanh, thuế, bảo hiểm xã hội để giảm gánh nặng tuân thủ, phục vụ hoạch định chính sách phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 2026-2030.

Tài liệu tham khảo:

Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-119250505101309949.htm.

Cục Thống kê (Bộ Tài chính). (2026). Tổng điều tra kinh tế năm 2026: Kết quả sơ bộ. Hà Nội.

North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.

Schumpeter, J. A. (1934). The theory of economic development. Harvard University Press.

Solow, R. M. (1956). A contribution to the theory of economic growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94. https://doi.org/10.2307/1884513

World Bank. (2026). Viet Nam's economy remains resilient, but sustained reforms are key to navigating heightened uncertainty. https://www.worldbank.org/en/news/press-release/2026/05/15/viet-nam-s-economy-remains-resilient-but-sustained-reforms-are-key-to-navigating-heightened-uncertainty-wb.

Ngày nhận bài: 20/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 26/8/2026; Ngày duyệt đăng: 9/9/2026

Các tin khác

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"
Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Việc duy trì một kênh quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là rất cần thiết nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại