Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh
Nguyễn Thanh Toàn
Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Bạch Đằng (Tác giả liên hệ)
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Quốc tế miền Đông
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An - tỉnh Tây Ninh, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm tăng khả năng lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái đối với các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh và được sắp theo mức độ giảm dần như sau: Yêu cầu lắp đặt; Quan điểm bảo vệ môi trường; Tính rủi ro; Lợi ích kinh tế; Chính sách của chính phủ; Xu hướng tiêu dùng.
Từ khóa: Điện mặt trời áp mái, hộ lắp điện mặt trời, yếu tố ảnh hưởng, tỉnh Tây Ninh.
Abstract
The research aims to analyze the factors influencing the decision to install rooftop solar power systems in Long An area - Tay Ninh province, and to propose policy implications to increase the likelihood of installing rooftop solar power systems for households in the study area. The research results show that there are six factors influencing the decision to install rooftop solar power systems in Long An area, Tay Ninh province listed in descending order of importance as follows: Installation requirements; Environmental protection perspective; Risk; Economic benefits; Government policy; and Consumer trends.
Keywords: Rooftop solar power, households installing solar power, influencing factors, Tay Ninh province.
GIỚI THIỆU
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu. Ngoài ra, sử dụng điện mặt trời còn làm tăng thêm khả năng cạnh tranh hàng hoá khi áp dụng chứng chỉ xanh (Ngô Lan Anh, 2018).
Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050, việc ưu tiên và có chính sách đột phá để thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà của người dân và mái công trình xây dựng, nhất là các khu vực có nguy cơ thiếu điện như miền Bắc và điện mặt trời tự sản, tự tiêu được Nhà nước quan tâm. Bên cạnh đó, theo quyết định này đến năm 2030, công suất các nguồn điện loại hình này ước tính tăng thêm 2.600 MW. Loại hình nguồn điện này được ưu tiên phát triển không giới hạn công suất, với điều kiện giá thành hợp lý và tận dụng lưới điện sẵn có, không phải nâng cấp. Đến năm 2030 có 50% các tòa nhà công sở và 50% nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu (phục vụ tiêu thụ tại chỗ, không bán điện vào hệ thống điện quốc gia).
Khu vực Long An, thuộc tỉnh Tây Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Với việc tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông, nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 - 27,7°C, số giờ nắng vào khoảng 2.350 - 2.500 giờ/năm, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển năng lượng điện mặt trời. Việc lắp đặt và sử dụng hệ thống điện mặt trời áp mái hộ gia đình ngày càng phổ biến trong bối cảnh giá điện leo thang, ngày càng tăng.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hộ gia đình chưa quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, do đó cần nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời, từ đó có hàm ý chính sách nhằm tăng khả năng lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái đối với các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu (Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn, 2020; Đinh Thị Trang và CS, 2021). Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực long an, tỉnh Tây Ninh.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Khái niệm điện mặt trời mái nhà
Năng lượng mặt trời là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ Mặt trời cộng với một phần nhỏ năng lượng từ các hạt nguyên từ khác phóng ra từ Mặt trời (Twidell, 2021). Nguồn năng lượng này gần như là vô tận và rất quan trọng đối với sự tồn tại của trái đất với tư cách là một hành tinh trong hệ mặt trời (Phạm Thị Thanh Mai, 2017).
Năng lượng mặt trời là một nguồn năng lượng tái tạo miễn phí và cung cấp không giới hạn mà không gây ô nhiễm hoặc hủy hoại môi trường, và nhiều công nghệ có thể được áp dụng trực tiếp để sử dụng trong gia đình, DN, trường học và bệnh viện (Lorenzo, 1994). Một trong những nguồn năng lượng để sản xuất ra điện năng là năng lượng mặt trời hay còn gọi là điện mặt trời. Có nhiều khái niệm liên quan đến điện mặt trời.
Theo Markvart (2000), Điện mặt trời là thu năng lượng ánh sáng mặt trời và chuyển đổi nó thành điện năng. Lorenzo (1994) mô tả Điện mặt trời là quá trình chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng thông qua hiệu ứng quang điện. Theo cách tiếp cận kỹ thuật cụ thể hơn, Điện mặt trời là việc ứng dụng kỹ thuật biến đổi ánh sáng thành điện dựa trên động cơ nhiệt và pin quang điện (Nguyễn Thị Thuý Hà, 2017). Như vậy, các khái niệm về điện mặt trời khá thống nhất, mô tả về quá trình hình thành điện từ nguồn năng lượng mặt trời.
Thực tế, điện mặt trời áp mái là tận dụng mặt bằng trên mái nhà, sân thượng để lắp đặt hệ thống các tấm pin năng lượng mặt trời nhằm chuyển đổi năng lượng từ bức xạ của ánh sáng mặt trời thành điện năng (Chakraborty và Basu, 2015).
Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model)
TAM, được gọi là mô hình chấp nhận công nghệ, được Fred Davis giới thiệu năm 1989, trong đó Ông trình bày về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng khi họ tiếp cận một công nghệ mới, trong lĩnh vực công nghệ thông tin, thương mại điện tử…
Có hai yếu tố quan trọng trong mô hình đó là: Hữu dụng cảm nhận (perceived usefulness) và dễ sử dụng cảm nhận (perceived ease-of-ues). Hữu dụng cảm nhận (nhận thức hữu ích) được Fred Davis định nghĩa đó là “Mức độ mà một người tin rằng bằng cách sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của mình”. Dễ sử dụng cảm nhận là “Mức độ mà một người tin rằng sử dụng công nghệ sẽ dễ dàng và không phức tạp” (Hình 1).
Hình 1: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM
![]() |
Nguồn: Davis, 1989
Mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu trước đây, kế thừa các mô hình lý thuyết nền và phương pháp chuyên gia, từ đó, đề tài xác định mô hình các yếu tố tác động tới quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM như Hình 2.
Hình 2: Mô hình các yếu tố tác động đến quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM
![]() |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Mô hình các yếu tố tác động tới quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM được xây dựng với 6 biến độc lập bao gồm: tính rủi ro, quan điểm bảo vệ môi trường, xu hướng tiêu dùng xã hội, chính sách của chính phủ, yêu cầu lắp đặt và lợi kinh tế tác động tới một biến phụ thuộc là quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM. Ngoài ra, các biến nhân khẩu học như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập cũng được xem xét như các biến điều chỉnh của mô hình. Những biến này được đưa vào mô hình với mục đích xem xét sự khác biệt về quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM giữa các nhóm HGĐ. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc phân khúc thị trường và xây dựng thị trường mục tiêu của các DN sản xuất và cung cấp hệ thống ĐMTAM cũng như cơ chế hoà lưới điện quốc gia của các HGĐ lắp đặt.
Bảng 1: Căn cứ xác định biến và mã hóa các biến
| STT | Tên biến thang đo | Mã hóa | Các tác giả đã thực hiện |
| 1 | Tính rủi ro | RR | Malik và Ayop (2020); Poier (2021); Đinh Thị Trang và cộng sự (2021); Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020) |
| 2 | Quan điểm bảo vệ môi trường | MT | Jacksohn và cộng sự (2019); Best và cộng sự (2019); Poier (2021); Đinh Thị Trang và cộng sự (2021); Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn (2020) |
| 3 | Xu hướng tiêu dùng | XH | Poier (2021) |
| 4 | Chính sách chính phủ | CS | Guta (2018); Tạ Văn Đa (2016) |
| 5 | Yêu cầu lắp đặt | LD | Best và cộng sự (2019); Malik và Ayop (2020); Đinh Thị Trang và cộng sự (2021); Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020) |
| 6 | Lợi ích kinh tế | KT | Jacksohn và cộng sự (2019); Best và cộng sự (2019); Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020); Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn (2020) |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu. Nghiên cứu này sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 125 hộ đã lắp đặt và sử dụng điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh. Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên và thuận tiện. Nội dung khảo sát nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp phân tích dữ liệu. Nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định giá trị của thang đo và xác định các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh. Phương pháp trích Principal Component Analysis (PCA) kết hợp phép quay Varimax được áp dụng. Điều kiện chấp nhận gồm KMO ≥ 0,50, Bartlett’s Test có Sig. < 0,05, Eigenvalue > 1, Factor Loading ≥ 0,50 và tổng phương sai trích ≥ 50%. Các biến không đạt yêu cầu sẽ được loại bỏ trước khi tiến hành phân tích hồi quy.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kiểm định độ tin cậy thang đo
Độ tin cậy của các thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0,631 đến 0,885, vượt ngưỡng chấp nhận 0,6. Đồng thời, các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến-tổng lớn hơn 0,3 nên được giữ lại cho các phân tích tiếp theo. Kết quả cuối cùng xác định 22 biến quan sát thuộc 6 biến độc lập và 3 biến quan sát của biến phụ thuộc đạt yêu cầu về độ tin cậy.
Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích EFA được thực hiện đối với 22 biến quan sát của các biến độc lập. Kết quả cho thấy hệ số KMO = 0,671 (> 0,5) và kiểm định Bartlett’s Test có Sig. = 0,000 (< 0,05), khẳng định dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Sáu nhân tố được trích với Eigenvalue > 1, giải thích 70,212% tổng phương sai của dữ liệu. Các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 và không xuất hiện hiện tượng tải chéo đáng kể. Do đó, toàn bộ 22 biến quan sát được giữ lại và nhóm thành 6 nhân tố độc lập, bao gồm: Tính rủi ro (RR), Quan điểm bảo vệ môi trường (MT), Xu hướng tiêu dùng (XH), Chính sách của Chính phủ (CS), Yêu cầu lắp đặt (LD) và Lợi ích kinh tế (KT).
Kết quả phân tích hồi quy
Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến từ Bảng 2 cho thấy, mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu khảo sát (Sig. F = 0,000). Hệ số xác định hiệu chỉnh (Adjusted R² = 0,467) cho thấy các biến độc lập giải thích được 46,7% sự biến thiên của quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho thấy các biến đều có VIF < 10, chứng tỏ không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Đồng thời, các kiểm định về phương sai sai số thay đổi và phân phối chuẩn của phần dư đều được thỏa mãn.
Bảng 2: Kết quả phân tích hồi quy đa biến của mô hình
| Mô hình | Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa | Hệ số hồi quy chuẩn hóa | Giá trị kiểm định | Sig, | Hệ số phóng đại phương sai (VIF) | |||
| B | Độ lệch chuẩn |
| ||||||
| Hằng số | 1,007 | 0,278 |
| 3,624 | 0,031 |
| ||
| RR | 0,094 | 0,022 | 0,294 | 4,338 | 0,024 | 1,069 | ||
| MT | 0,122 | 0,027 | 0,299 | 4,515 | 0,016 | 1,021 | ||
| XH | 0,090 | 0,030 | 0,203 | 2,962 | 0,004 | 1,088 | ||
| CS | 0,088 | 0,029 | 0,210 | 3,022 | 0,003 | 1,126 | ||
| LD | 0,182 | 0,035 | 0,345 | 5,226 | 0,039 | 1,013 | ||
| KT | 0,175 | 0,044 | 0,273 | 3,979 | 0,010 | 1,095 | ||
| R | 0,702 | Durbin Watson | 1,868 | |||||
| R2 | 0,493 | Sig. F | 0,000 | |||||
| R2 hiệu chỉnh | 0,467 |
|
| |||||
Kết quả hồi quy cho thấy cả sáu yếu tố đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái (Sig. < 0,05). Mức độ ảnh hưởng giảm dần như sau: Yêu cầu lắp đặt (β = 0,345), Quan điểm bảo vệ môi trường (β = 0,299), Tính rủi ro (β = 0,294), Lợi ích kinh tế (β = 0,273), Chính sách của Chính phủ (β = 0,210) và Xu hướng tiêu dùng (β = 0,203). Trong đó, yếu tố Yêu cầu lắp đặt có tác động mạnh nhất đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái của hộ gia đình (Bảng 2).
Qua kết quả phân tích hồi quy, ta có được phương trình mô tả sự ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại địa bàn nghiên cứu như sau:
QD = 0,354.LD + 0,299.MT + 0,294.RR + 0,273.KT + 0,210.CS + 0,203.XH
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh và được sắp theo mức độ giảm dần như sau: Yếu tố Yêu cầu lắp đặt (LD) có mức tác động lớn nhất với hệ số β = 0,354; Yếu tố Quan điểm bảo vệ môi trường (MT) có mức tác động lớn thứ hai với hệ số β = 0,299; Yếu tố Tính rủi ro (RR) có mức tác động lớn thứ ba với hệ số β = 0,294; Yếu tố Lợi ích kinh tế (KT) có mức tác động lớn thứ tư với hệ số β = 0,273; Yếu tố Chính sách của chính phủ (CS) có mức tác động lớn thứ năm với hệ số β = 0,210; Yếu tố Xu hướng tiêu dùng (XH) có mức tác động yếu nhất với hệ số β = 0,203.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị như sau:
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng thiết bị sử dụng trong điện mặt trời áp mái, tiêu chuẩn thiết kế và xây dựng các công trình điện mặt trời áp mái nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn. Giám sát và cấp chứng chỉ chất lượng cho các thiết bị này nhằm giảm thiểu nhập khẩu các thiết bị chất lượng thấp và nâng cao chất lựợng dịch vụ điện mặt trời.
Đối với ngành điện lực: Nghiên cứu phát triển thêm các dịch vụ sau bán hàng, thực hiện ưu đãi đối với khách hàng đã mua sản phẩm lắp đặt điện mặt trời. Đặc biệt, dịch vụ bảo hành, bảo trì đối với các sản phẩm đã mua chính là một trong những yếu tố tạo ảnh hưởng quan trọng tới việc truyền tin về sản phẩm.
Đối với công ty điện lực tỉnh: Thực hiện tư vấn cho khách hàng về các dự án đầu tư cho điện mặt trời áp mái phải được thiết kế với công nghệ hiện đại, bố trí thiết bị hợp lý để tối ưu hóa diện tích sử dụng cho dự án. Pin mặt trời phải là loại được sản xuất với công nghệ hiện đại, được giám sát chặt chẽ trong quá trình chế tạo theo tiêu chuẩn quốc tế, có giấy chứng nhận thử nghiệm của các phòng thí nghiệm tiêu chuẩn.
Tài liệu tham khảo:
1. Best R., Burke P. J. and Nishitateno S. (2019). Understanding the determinants of rooftop solar installation: evidence from household surveys in Australia, Australian Journal of Agricultural and Resource Economics, 63, pp. 922– 939.
2. Davis, F. (1989). Perceived Usefulness, Perceived Ease of Use, and User Acceptance of Information Technology. MIS Quarterly, 13, 319-340.
3. Đinh Thị Trang, Nguyễn Lâm Mỹ Anh và Bùi Hiểu Ly (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng sản phẩm năng lượng mặt trời, Preprint DOI: https://osf.io/82e7j/
4. Guta D. D. (2018). Determinants of household adoption of solar energy technology in rural Ethiopia. Journal of Cleaner Production, 204, 193- 204.
5. Jacksohn A., Grösche P., Rehdanz K., Schröder C. (2019). Drivers of renewable technology adoption in the household sector, Energy Economics, 81 (2019) 216–226.
6. Lê Trần Thanh Liêm & Phạm Ngọc Nhàn (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng mô hình điện năng lượng mặt trời trên mái nhà của HGĐ tại Cà Mau. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 56(2), 161-167.
7. Lorenzo E. (1994). Solar Electricity: engineering of photovoltaic systems, Institute of Solar Energy Polechnic University of Mandrid, Spanish.
8. Markvart T. (2000). Solar electricity. Second Edition, John wiley & sons, Ltd Publisher, UK.
9. Malik Syed A. & Ayop A. R., 2020. Solar energy technology: Knowledge, awareness, and acceptance of B40 households in one district of Malaysia towards government initiatives, Technology in Society, 63 (2020) 101416.
10. Ngô Lan Anh (2018). Triển vọng việc làm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam, số 16/2018.
11. Nguyễn Thị Thuý Hà (2017). Thực hiện chính sách phát triển điện mặt trời tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Học viện Hành chính Quốc gia.
12. Phạm Thị Thanh Mai (2017). Nghiên cứu phát triển nguồn điện từ NLTT trong quy hoạch nguồn điện Việt Nam đến năm 2030. Luận án tiến sĩ trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
13. Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020). Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng công nghệ năng lượng điện mặt trời của HGĐ tại Thành phố Phan Rang Tháp Chàm. Tạp chí Công thương, số 4, 166-175.
14. Poier S. (2021). Towards a psychology of solar energy: Analyzing the effects of the Big Five personality traits on household solar energy adoption in Germany, Energy Research & Social Science, 77, 102087.
15. Tạ Văn Đa, Hoàng Xuân Cơ, Đinh Mạnh Cường, Đặng Thị Hải Linh, Đặng Thanh An và Lê Hữu Hải (2016). Khả năng khai thác năng lượng mặt trời phục vụ các hoạt động đời sống ở miền Trung Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, 32(1S) (2016) 83-89
16. Twidell J. (2021). Renewable Energy Resources. Routledge Publisher, London.
| Ngày nhận bài: 21/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/8/2026; Ngày duyệt đăng: 9/9/2026 |
Các tin khác
Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam



