Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Nghiên cứu - Trao đổi 16:56 | 09/09/2026
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu.

Nguyễn Thanh Toàn

Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Nguyễn Bạch Đằng (Tác giả liên hệ)

Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Quốc tế miền Đông

Tóm tắt

Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An - tỉnh Tây Ninh, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm tăng khả năng lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái đối với các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh và được sắp theo mức độ giảm dần như sau: Yêu cầu lắp đặt; Quan điểm bảo vệ môi trường; Tính rủi ro; Lợi ích kinh tế; Chính sách của chính phủ; Xu hướng tiêu dùng.

Từ khóa: Điện mặt trời áp mái, hộ lắp điện mặt trời, yếu tố ảnh hưởng, tỉnh Tây Ninh.

Abstract

The research aims to analyze the factors influencing the decision to install rooftop solar power systems in Long An area - Tay Ninh province, and to propose policy implications to increase the likelihood of installing rooftop solar power systems for households in the study area. The research results show that there are six factors influencing the decision to install rooftop solar power systems in Long An area, Tay Ninh province listed in descending order of importance as follows: Installation requirements; Environmental protection perspective; Risk; Economic benefits; Government policy; and Consumer trends.

Keywords: Rooftop solar power, households installing solar power, influencing factors, Tay Ninh province.

GIỚI THIỆU

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, không cạn kiệt. Nguồn điện từ điện mặt trời mái nhà giúp tiết kiệm chi phí tiền điện do không sử dụng điện lưới, hoặc giảm chi phí tiền điện theo giá điện sinh hoạt bậc thang; chi phí vận hành và bảo trì thấp; suất đầu tư đối với điện mặt trời giảm bình quân trên 10%/năm trong những năm gần đây; làm giảm lượng khí thải carbon gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu. Ngoài ra, sử dụng điện mặt trời còn làm tăng thêm khả năng cạnh tranh hàng hoá khi áp dụng chứng chỉ xanh (Ngô Lan Anh, 2018).

Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050, việc ưu tiên và có chính sách đột phá để thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà của người dân và mái công trình xây dựng, nhất là các khu vực có nguy cơ thiếu điện như miền Bắc và điện mặt trời tự sản, tự tiêu được Nhà nước quan tâm. Bên cạnh đó, theo quyết định này đến năm 2030, công suất các nguồn điện loại hình này ước tính tăng thêm 2.600 MW. Loại hình nguồn điện này được ưu tiên phát triển không giới hạn công suất, với điều kiện giá thành hợp lý và tận dụng lưới điện sẵn có, không phải nâng cấp. Đến năm 2030 có 50% các tòa nhà công sở và 50% nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu (phục vụ tiêu thụ tại chỗ, không bán điện vào hệ thống điện quốc gia).

Khu vực Long An, thuộc tỉnh Tây Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Với việc tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông, nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 - 27,7°C, số giờ nắng vào khoảng 2.350 - 2.500 giờ/năm, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển năng lượng điện mặt trời. Việc lắp đặt và sử dụng hệ thống điện mặt trời áp mái hộ gia đình ngày càng phổ biến trong bối cảnh giá điện leo thang, ngày càng tăng.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hộ gia đình chưa quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái, do đó cần nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời, từ đó có hàm ý chính sách nhằm tăng khả năng lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái đối với các hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu (Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn, 2020; Đinh Thị Trang và CS, 2021). Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực long an, tỉnh Tây Ninh.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Khái niệm điện mặt trời mái nhà

Năng lượng mặt trời là năng lượng của dòng bức xạ điện từ xuất phát từ Mặt trời cộng với một phần nhỏ năng lượng từ các hạt nguyên từ khác phóng ra từ Mặt trời (Twidell, 2021). Nguồn năng lượng này gần như là vô tận và rất quan trọng đối với sự tồn tại của trái đất với tư cách là một hành tinh trong hệ mặt trời (Phạm Thị Thanh Mai, 2017).

Năng lượng mặt trời là một nguồn năng lượng tái tạo miễn phí và cung cấp không giới hạn mà không gây ô nhiễm hoặc hủy hoại môi trường, và nhiều công nghệ có thể được áp dụng trực tiếp để sử dụng trong gia đình, DN, trường học và bệnh viện (Lorenzo, 1994). Một trong những nguồn năng lượng để sản xuất ra điện năng là năng lượng mặt trời hay còn gọi là điện mặt trời. Có nhiều khái niệm liên quan đến điện mặt trời.

Theo Markvart (2000), Điện mặt trời là thu năng lượng ánh sáng mặt trời và chuyển đổi nó thành điện năng. Lorenzo (1994) mô tả Điện mặt trời là quá trình chuyển đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng thông qua hiệu ứng quang điện. Theo cách tiếp cận kỹ thuật cụ thể hơn, Điện mặt trời là việc ứng dụng kỹ thuật biến đổi ánh sáng thành điện dựa trên động cơ nhiệt và pin quang điện (Nguyễn Thị Thuý Hà, 2017). Như vậy, các khái niệm về điện mặt trời khá thống nhất, mô tả về quá trình hình thành điện từ nguồn năng lượng mặt trời.

Thực tế, điện mặt trời áp mái là tận dụng mặt bằng trên mái nhà, sân thượng để lắp đặt hệ thống các tấm pin năng lượng mặt trời nhằm chuyển đổi năng lượng từ bức xạ của ánh sáng mặt trời thành điện năng (Chakraborty và Basu, 2015).

Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model)

TAM, được gọi là mô hình chấp nhận công nghệ, được Fred Davis giới thiệu năm 1989, trong đó Ông trình bày về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng khi họ tiếp cận một công nghệ mới, trong lĩnh vực công nghệ thông tin, thương mại điện tử…

Có hai yếu tố quan trọng trong mô hình đó là: Hữu dụng cảm nhận (perceived usefulness) và dễ sử dụng cảm nhận (perceived ease-of-ues). Hữu dụng cảm nhận (nhận thức hữu ích) được Fred Davis định nghĩa đó là “Mức độ mà một người tin rằng bằng cách sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của mình”. Dễ sử dụng cảm nhận là “Mức độ mà một người tin rằng sử dụng công nghệ sẽ dễ dàng và không phức tạp” (Hình 1).

Hình 1: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Nguồn: Davis, 1989

Mô hình nghiên cứu

Trên cơ sở tham khảo các nghiên cứu trước đây, kế thừa các mô hình lý thuyết nền và phương pháp chuyên gia, từ đó, đề tài xác định mô hình các yếu tố tác động tới quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM như Hình 2.

Hình 2: Mô hình các yếu tố tác động đến quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

Mô hình các yếu tố tác động tới quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM được xây dựng với 6 biến độc lập bao gồm: tính rủi ro, quan điểm bảo vệ môi trường, xu hướng tiêu dùng xã hội, chính sách của chính phủ, yêu cầu lắp đặt và lợi kinh tế tác động tới một biến phụ thuộc là quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM. Ngoài ra, các biến nhân khẩu học như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập cũng được xem xét như các biến điều chỉnh của mô hình. Những biến này được đưa vào mô hình với mục đích xem xét sự khác biệt về quyết định lắp đặt hệ thống ĐMTAM giữa các nhóm HGĐ. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc phân khúc thị trường và xây dựng thị trường mục tiêu của các DN sản xuất và cung cấp hệ thống ĐMTAM cũng như cơ chế hoà lưới điện quốc gia của các HGĐ lắp đặt.

Bảng 1: Căn cứ xác định biến và mã hóa các biến

STT

Tên biến thang đo

Mã hóa

Các tác giả đã thực hiện

1

Tính rủi ro

RR

Malik và Ayop (2020); Poier (2021); Đinh Thị Trang và cộng sự (2021); Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020)

2

Quan điểm bảo vệ môi trường

MT

Jacksohn và cộng sự (2019); Best và cộng sự (2019); Poier (2021); Đinh Thị Trang và cộng sự (2021); Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn (2020)

3

Xu hướng tiêu dùng

XH

Poier (2021)

4

Chính sách chính phủ

CS

Guta (2018); Tạ Văn Đa (2016)

5

Yêu cầu lắp đặt

LD

Best và cộng sự (2019); Malik và Ayop (2020); Đinh Thị Trang và cộng sự (2021); Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020)

6

Lợi ích kinh tế

KT

Jacksohn và cộng sự (2019); Best và cộng sự (2019); Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020); Lê Trần Thanh Liêm và Phạm Ngọc Nhàn (2020)

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu. Nghiên cứu này sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 125 hộ đã lắp đặt và sử dụng điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh. Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên và thuận tiện. Nội dung khảo sát nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp phân tích dữ liệu. Nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA) để kiểm định giá trị của thang đo và xác định các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh. Phương pháp trích Principal Component Analysis (PCA) kết hợp phép quay Varimax được áp dụng. Điều kiện chấp nhận gồm KMO ≥ 0,50, Bartlett’s Test có Sig. < 0,05, Eigenvalue > 1, Factor Loading ≥ 0,50 và tổng phương sai trích ≥ 50%. Các biến không đạt yêu cầu sẽ được loại bỏ trước khi tiến hành phân tích hồi quy.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Độ tin cậy của các thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach’s Alpha. Kết quả cho thấy tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha dao động từ 0,631 đến 0,885, vượt ngưỡng chấp nhận 0,6. Đồng thời, các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến-tổng lớn hơn 0,3 nên được giữ lại cho các phân tích tiếp theo. Kết quả cuối cùng xác định 22 biến quan sát thuộc 6 biến độc lập và 3 biến quan sát của biến phụ thuộc đạt yêu cầu về độ tin cậy.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích EFA được thực hiện đối với 22 biến quan sát của các biến độc lập. Kết quả cho thấy hệ số KMO = 0,671 (> 0,5) và kiểm định Bartlett’s Test có Sig. = 0,000 (< 0,05), khẳng định dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố. Sáu nhân tố được trích với Eigenvalue > 1, giải thích 70,212% tổng phương sai của dữ liệu. Các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 và không xuất hiện hiện tượng tải chéo đáng kể. Do đó, toàn bộ 22 biến quan sát được giữ lại và nhóm thành 6 nhân tố độc lập, bao gồm: Tính rủi ro (RR), Quan điểm bảo vệ môi trường (MT), Xu hướng tiêu dùng (XH), Chính sách của Chính phủ (CS), Yêu cầu lắp đặt (LD) và Lợi ích kinh tế (KT).

Kết quả phân tích hồi quy

Kết quả hồi quy tuyến tính đa biến từ Bảng 2 cho thấy, mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu khảo sát (Sig. F = 0,000). Hệ số xác định hiệu chỉnh (Adjusted R² = 0,467) cho thấy các biến độc lập giải thích được 46,7% sự biến thiên của quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho thấy các biến đều có VIF < 10, chứng tỏ không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Đồng thời, các kiểm định về phương sai sai số thay đổi và phân phối chuẩn của phần dư đều được thỏa mãn.

Bảng 2: Kết quả phân tích hồi quy đa biến của mô hình

Mô hình

Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

Giá trị kiểm định

Sig,

Hệ số phóng đại phương sai (VIF)

B

Độ lệch chuẩn

Hằng số

1,007

0,278

3,624

0,031

RR

0,094

0,022

0,294

4,338

0,024

1,069

MT

0,122

0,027

0,299

4,515

0,016

1,021

XH

0,090

0,030

0,203

2,962

0,004

1,088

CS

0,088

0,029

0,210

3,022

0,003

1,126

LD

0,182

0,035

0,345

5,226

0,039

1,013

KT

0,175

0,044

0,273

3,979

0,010

1,095

R

0,702

Durbin Watson

1,868

R2

0,493

Sig. F

0,000

R2 hiệu chỉnh

0,467

Nguồn: Kết quả khảo sát

Kết quả hồi quy cho thấy cả sáu yếu tố đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái (Sig. < 0,05). Mức độ ảnh hưởng giảm dần như sau: Yêu cầu lắp đặt (β = 0,345), Quan điểm bảo vệ môi trường (β = 0,299), Tính rủi ro (β = 0,294), Lợi ích kinh tế (β = 0,273), Chính sách của Chính phủ (β = 0,210) và Xu hướng tiêu dùng (β = 0,203). Trong đó, yếu tố Yêu cầu lắp đặt có tác động mạnh nhất đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái của hộ gia đình (Bảng 2).

Qua kết quả phân tích hồi quy, ta có được phương trình mô tả sự ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại địa bàn nghiên cứu như sau:

QD = 0,354.LD + 0,299.MT + 0,294.RR + 0,273.KT + 0,210.CS + 0,203.XH

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại khu vực Long An, tỉnh Tây Ninh và được sắp theo mức độ giảm dần như sau: Yếu tố Yêu cầu lắp đặt (LD) có mức tác động lớn nhất với hệ số β = 0,354; Yếu tố Quan điểm bảo vệ môi trường (MT) có mức tác động lớn thứ hai với hệ số β = 0,299; Yếu tố Tính rủi ro (RR) có mức tác động lớn thứ ba với hệ số β = 0,294; Yếu tố Lợi ích kinh tế (KT) có mức tác động lớn thứ tư với hệ số β = 0,273; Yếu tố Chính sách của chính phủ (CS) có mức tác động lớn thứ năm với hệ số β = 0,210; Yếu tố Xu hướng tiêu dùng (XH) có mức tác động yếu nhất với hệ số β = 0,203.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị như sau:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng thiết bị sử dụng trong điện mặt trời áp mái, tiêu chuẩn thiết kế và xây dựng các công trình điện mặt trời áp mái nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn. Giám sát và cấp chứng chỉ chất lượng cho các thiết bị này nhằm giảm thiểu nhập khẩu các thiết bị chất lượng thấp và nâng cao chất lựợng dịch vụ điện mặt trời.

Đối với ngành điện lực: Nghiên cứu phát triển thêm các dịch vụ sau bán hàng, thực hiện ưu đãi đối với khách hàng đã mua sản phẩm lắp đặt điện mặt trời. Đặc biệt, dịch vụ bảo hành, bảo trì đối với các sản phẩm đã mua chính là một trong những yếu tố tạo ảnh hưởng quan trọng tới việc truyền tin về sản phẩm.

Đối với công ty điện lực tỉnh: Thực hiện tư vấn cho khách hàng về các dự án đầu tư cho điện mặt trời áp mái phải được thiết kế với công nghệ hiện đại, bố trí thiết bị hợp lý để tối ưu hóa diện tích sử dụng cho dự án. Pin mặt trời phải là loại được sản xuất với công nghệ hiện đại, được giám sát chặt chẽ trong quá trình chế tạo theo tiêu chuẩn quốc tế, có giấy chứng nhận thử nghiệm của các phòng thí nghiệm tiêu chuẩn.

Tài liệu tham khảo:

1. Best R., Burke P. J. and Nishitateno S. (2019). Understanding the determinants of rooftop solar installation: evidence from household surveys in Australia, Australian Journal of Agricultural and Resource Economics, 63, pp. 922– 939.

2. Davis, F. (1989). Perceived Usefulness, Perceived Ease of Use, and User Acceptance of Information Technology. MIS Quarterly, 13, 319-340.

3. Đinh Thị Trang, Nguyễn Lâm Mỹ Anh và Bùi Hiểu Ly (2021). Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng sản phẩm năng lượng mặt trời, Preprint DOI: https://osf.io/82e7j/

4. Guta D. D. (2018). Determinants of household adoption of solar energy technology in rural Ethiopia. Journal of Cleaner Production, 204, 193- 204.

5. Jacksohn A., Grösche P., Rehdanz K., Schröder C. (2019). Drivers of renewable technology adoption in the household sector, Energy Economics, 81 (2019) 216–226.

6. Lê Trần Thanh Liêm & Phạm Ngọc Nhàn (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng mô hình điện năng lượng mặt trời trên mái nhà của HGĐ tại Cà Mau. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 56(2), 161-167.

7. Lorenzo E. (1994). Solar Electricity: engineering of photovoltaic systems, Institute of Solar Energy Polechnic University of Mandrid, Spanish.

8. Markvart T. (2000). Solar electricity. Second Edition, John wiley & sons, Ltd Publisher, UK.

9. Malik Syed A. & Ayop A. R., 2020. Solar energy technology: Knowledge, awareness, and acceptance of B40 households in one district of Malaysia towards government initiatives, Technology in Society, 63 (2020) 101416.

10. Ngô Lan Anh (2018). Triển vọng việc làm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Tạp chí Năng lượng sạch Việt Nam, số 16/2018.

11. Nguyễn Thị Thuý Hà (2017). Thực hiện chính sách phát triển điện mặt trời tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Học viện Hành chính Quốc gia.

12. Phạm Thị Thanh Mai (2017). Nghiên cứu phát triển nguồn điện từ NLTT trong quy hoạch nguồn điện Việt Nam đến năm 2030. Luận án tiến sĩ trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

13. Phạm Hồng Mạnh và Dương Văn Sơn (2020). Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng công nghệ năng lượng điện mặt trời của HGĐ tại Thành phố Phan Rang Tháp Chàm. Tạp chí Công thương, số 4, 166-175.

14. Poier S. (2021). Towards a psychology of solar energy: Analyzing the effects of the Big Five personality traits on household solar energy adoption in Germany, Energy Research & Social Science, 77, 102087.

15. Tạ Văn Đa, Hoàng Xuân Cơ, Đinh Mạnh Cường, Đặng Thị Hải Linh, Đặng Thanh An và Lê Hữu Hải (2016). Khả năng khai thác năng lượng mặt trời phục vụ các hoạt động đời sống ở miền Trung Việt Nam. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Các Khoa học Trái đất và Môi trường, 32(1S) (2016) 83-89

16. Twidell J. (2021). Renewable Energy Resources. Routledge Publisher, London.

Ngày nhận bài: 21/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/8/2026; Ngày duyệt đăng: 9/9/2026

Các tin khác

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Cấu trúc và động lực phát triển của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025: Góc nhìn từ Tổng điều tra kinh tế năm 2026

Sử dụng dữ liệu sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Cục Thống kê công bố, bài viết phân tích sự chuyển dịch về quy mô, cơ cấu sở hữu, ngành và vùng của khu vực doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2020-2025, đối chiếu với hợp tác xã và cơ sở kinh doanh cá thể. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh, tăng liên kết với khu vực FDI, tái cân bằng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Tín dụng thương mại và hiệu quả doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của nợ vay ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết nhằm đánh giá tác động của tín dụng thương mại đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua vai trò điều tiết của nợ vay, từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị giúp các nhà quản lý phối hợp linh hoạt các công cụ điều tiết.
Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên thông qua sự gắn kết tại BIDV - Chi nhánh Đồng Nai

Các nghiên cứu xem xét đồng thời vai trò trung gian của sự gắn kết trong mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh ngân hàng thương mại tại Việt Nam, vẫn còn hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích vai trò của sự gắn kết, đánh giá mối quan hệ giữa sự hài lòng công việc đến hiệu suất làm việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại có ý nghĩa thiết thực.
Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp tại Việt Nam

Khởi nghiệp là quá trình cá nhân nhận diện, đánh giá và khai thác cơ hội để tạo ra giá trị mới thông qua việc hình thành hoặc phát triển hoạt động kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000). Quyết định khởi nghiệp là điểm chuyển từ mong muốn sang lựa chọn có tính thực thi, thể hiện ở sự sẵn sàng cam kết nguồn lực, chấp nhận chi phí cơ hội và tổ chức hành động. Vì vậy, nghiên cứu quyết định khởi nghiệp giúp lý giải trực tiếp hơn bước chuyển sang hành vi, thay vì chỉ dừng ở ý định.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức tại Sở Xây dựng Đồng Nai

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, việc nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các cơ quan hành chính nhà nước.
Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Tác động FOMO trên nền tảng TikTok shop đến hành vi mua bốc đồng của thế hệ trẻ TP. Hồ Chí Minh

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của thương mại xã hội đã thúc đẩy sự ra đời và mở rộng của nhiều nền tảng mua sắm trực tuyến tích hợp yếu tố giải trí, trong đó TikTok Shop nổi bật với mô hình mua sắm kết hợp giải trí.
Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Phát triển thị trường học liệu số trong giáo dục đại học: Đề xuất mô hình nền tảng thư viện số liên thông ViLIB dựa trên Blockchain

Trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi số giáo dục đại học, học liệu số không chỉ là phương tiện hỗ trợ đào tạo mà còn là một dạng tài sản tri thức có khả năng tham gia thị trường thông qua cơ chế cấp phép, truy cập, đo lường sử dụng và phân phối lợi ích. Tuy nhiên, thị trường học liệu số tại Việt Nam hiện còn phân mảnh, chịu rào cản lớn về chi phí giao dịch, bất cân xứng thông tin, thiếu định danh liên thông, thiếu cơ chế kiểm soát bản quyền và thiếu hệ thống đối soát minh bạch giữa các chủ thể.
Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo trên mạng xã hội và quyết định mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng: Phân tích từ góc độ pháp luật về kinh tế và marketing

Quảng cáo mạng xã hội có thể thúc đẩy quyết định mua hàng nhờ giá trị thông tin, tính hấp dẫn, tương tác và độ tin cậy, nhưng cũng tạo nguy cơ gây nhầm lẫn, che giấu mục đích thương mại, thao túng bằng chứng xã hội và sử dụng dữ liệu thiếu minh bạch.
Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Phát triển lực lượng sản xuất mới trong nền kinh tế số tại Nhật Bản và hàm ý cho Việt Nam

Việc phát triển lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên kinh tế số không đơn thuần là một cuộc cải cách kỹ thuật, mà là một cuộc chạy đua chiến lược đòi hỏi thay đổi toàn diện từ hạ tầng, con người đến thể chế. Qua lăng kính của Nhật Bản, có thể thấy rằng quốc gia này đã lựa chọn một lối đi riêng biệt mang tính nhân văn sâu sắc: "Số hóa vì con người"
Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Đổi mới kênh quản lý vốn tín dụng nhà nước cho đầu tư phát triển quốc gia

Việc duy trì một kênh quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước là rất cần thiết nhằm đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế mà không tạo ra áp lực quá lớn cho các kênh huy động vốn còn lại