Đánh giá mô hình hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ: Nghiên cứu tại Hợp tác xã An Lỗ, tỉnh Thừa Thiên Huế(*)

Nghiên cứu - Trao đổi 17:11 | 19/03/2026
Nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò trung gian của HTX An Lỗ, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong từng giai đoạn chuyển đổi sang canh tác lúa hữu cơ, đồng thời nhận diện những rào cản chính đang cản trở hiệu quả thực thi hợp đồng tại địa phương.

Trần Huỳnh Bảo Châu

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Tóm tắt

Nghiên cứu đánh giá mô hình hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ tại Hợp tác xã An Lỗ như một nghiên cứu điển hình cho việc nông hộ chuyển đổi toàn bộ diện tích lúa sang canh tác hữu cơ ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Dữ liệu được thu thập thông qua tham vấn chuyên gia và khảo sát ngẫu nhiên 85 nông hộ bằng thang đo Likert 5 mức độ nhằm phản ánh rủi ro cảm nhận của nông hộ trước và trong quá trình chuyển đổi cũng như sau khi có giấy chứng nhận hữu cơ. Kết quả cho thấy, các rào cản chính của mô hình gồm: chi phí phân bón hữu cơ cao, giá thu mua không đổi trong thời gian dài, năng suất thấp và khó khăn trong phát triển thị trường tiêu thụ. Tuy nhiên, mức độ hài lòng của nông hộ tăng rõ rệt sau khi có chứng nhận, đặc biệt ở khả năng tiếp cận đầu vào và hỗ trợ kỹ thuật. Nghiên cứu cung cấp thêm minh chứng về vai trò trung gian của hợp tác xã trong giảm chi phí giao dịch và rủi ro cảm nhận của nông hộ.

Từ khóa: Hợp đồng sản xuất, lúa hữu cơ, chi phí giao dịch, nông hộ, hợp tác xã nông nghiệp, Huế

Summary

This study evaluates the organic rice contract farming model at An Lo Cooperative as a representative case of farmers converting their entire rice cultivation area to organic production in Thua Thien Hue province. Data were collected through expert consultations and a random survey of 85 farming households using a five-point Likert scale to capture perceived risks before, during, and after the transition, including the post-certification stage. The findings reveal that the main barriers to the model include high costs of organic fertilizers, stagnant procurement prices over an extended period, lower yields, and challenges in developing output markets. However, farmers’ satisfaction increased significantly after obtaining organic certification, particularly in terms of access to inputs and technical support. The study also provides further evidence on the mediating role of agricultural cooperatives in reducing transaction costs and perceived risks among farming households.

Keywords: Contract farming, organic rice, transaction costs, farming households, agricultural cooperatives, Hue

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hợp đồng nông nghiệp được xem là công cụ quan trọng thúc đẩy phát triển hợp tác xã (HTX) nông nghiệp theo hướng gắn kết chuỗi giá trị, qua đó góp phần xây dựng thị trường nông sản Việt Nam hiệu quả và bền vững (Nguyễn Thu Trâm, 2023). Đối với sản xuất lúa hữu cơ, vai trò của hợp đồng càng trở nên quan trọng do đặc thù của quá trình chuyển đổi kéo dài, chi phí đầu vào cao, năng suất ban đầu thấp và yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Trong giai đoạn chuyển đổi, nông hộ thường đối mặt với những thay đổi về kỹ thuật và thị trường, nên hợp đồng không chỉ là công cụ tiêu thụ sản phẩm mà còn là cơ chế điều phối sản xuất và phân bổ rủi ro. Do đó, đánh giá mô hình hợp đồng trong lúa hữu cơ cần được tiếp cận không chỉ ở kết quả kinh tế cuối cùng, mà còn ở chất lượng thực thi hợp đồng như: mức độ hỗ trợ kỹ thuật, tính minh bạch kiểm soát, cơ chế giá và khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ.

Tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TP. Huế), HTX An Lỗ đã tạo nên một dấu ấn khác biệt khi trở thành đơn vị đầu tiên có nông hộ tham gia chuyển đổi toàn bộ diện tích canh tác sang hữu cơ với những kết quả bước đầu được ghi nhận mang lại lợi ích cho nông hộ (Trần Huỳnh Bảo Châu và cộng sự, 2024). Tuy nhiên, thực tế vẫn chưa có nghiên cứu nào tại địa phương phân tích cách thức hợp đồng được thực thi và cảm nhận của nông hộ theo các giai đoạn chuyển đổi.

Khoảng trống tri thức này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phân tích sự tác động của hợp đồng trong việc giảm chi phí giao dịch và rủi ro cảm nhận của nông hộ trong quá trình chuyển đổi sang canh tác lúa hữu cơ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu hiện tại tập trung làm rõ vai trò trung gian của HTX trong từng giai đoạn chuyển đổi, đồng thời nhận diện những rào cản chính đang cản trở hiệu quả thực thi hợp đồng tại địa phương. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò của HTX trong việc giảm chi phí giao dịch và rủi ro cảm nhận của nông hộ, qua đó làm rõ điều kiện để hợp đồng sản xuất phát huy hiệu quả trong bối cảnh địa phương.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Theo Lý thuyết chi phí giao dịch của Coase (1937) và Williamson (1985), các giao dịch thị trường thường phát sinh chi phí tìm kiếm thông tin, thương lượng, giám sát và thực thi hợp đồng. Trong nông nghiệp, các chi phí này thường cao do tính bất định của sản xuất, quy mô hộ phân tán và bất cân xứng thông tin giữa nông dân và doanh nghiệp. Hợp đồng liên kết vì vậy được xem là cơ chế giảm chi phí giao dịch khi thiết lập trước các điều khoản về giá, chất lượng, lịch thời vụ và trách nhiệm các bên; từ đó giúp nông dân giảm rủi ro đầu ra và hỗ trợ doanh nghiệp ổn định nguồn cung. Đặc biệt, đối với canh tác lúa hữu cơ, vai trò của hợp đồng càng trở nên thiết yếu do quá trình chuyển đổi kéo dài qua 3 giai đoạn (trước chuyển đổi, trong chuyển đổi và sau chứng nhận), với những thách thức riêng biệt về năng suất, chi phí đầu vào và yêu cầu tuân thủ kỹ thuật khắt khe.

Các bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam cho thấy, việc tham gia sản xuất theo hợp đồng có thể giúp nông hộ đảm bảo giá đầu ra và ổn định thu nhập (Mai Chiếm Tuyến và cộng sự, 2021; Tran Quoc Nhan và Yutaka Tomoyuki, 2018). Khi có sự liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp thông qua hỗ trợ đầu vào, kỹ thuật, hiệu quả tài chính của nông hộ có xu hướng cải thiện rõ rệt hơn so với canh tác lúa truyền thống (La Nguyễn Thùy Dung và Mai Văn Nam, 2015; Nguyễn Văn Thành và cộng sự, 2020). Ngoài ra, hiệu quả kinh tế cảm nhận, nhận thức và triển vọng thị trường là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng ý định duy trì và mở rộng quy mô sản xuất lúa hữu cơ (Nguyễn Công Định và cộng sự, 2023). Trên bình diện quốc tế, các nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng, thiết kế hợp đồng với cơ chế giá linh hoạt và sự hiện diện của các tổ chức trung gian là động lực chính thúc đẩy nông dân tham gia vào hệ thống chứng nhận hữu cơ.

Trong chuỗi cung ứng này, HTX đóng vai trò là đơn vị điều phối then chốt khi gánh chịu phần lớn chi phí giao dịch, giúp nông dân giảm bớt gánh nặng trong việc tìm kiếm thị trường và thương lượng giá cả (Eni và Nurul, 2026). Tuy nhiên, HTX không phải là giải pháp cho mọi hệ thống nông nghiệp, mà chỉ phát huy lợi thế trong những chuỗi giá trị ưu tiên chất lượng, niềm tin và quan hệ dài hạn, vốn là điều kiện đặc trưng của sản xuất lúa hữu cơ.

Mặc dù lý thuyết nền tảng về chi phí giao dịch có giá trị giải thích mạnh mẽ, nhưng vẫn thiếu vắng các nghiên cứu làm rõ cách thức hợp đồng được thực thi và rủi ro cảm nhận của nông hộ theo từng giai đoạn chuyển đổi trong bối cảnh địa phương vẫn là một khoảng trống lớn. Nghiên cứu này hướng tới việc lấp đầy khoảng trống đó bằng cách làm rõ cách thức hợp đồng được thực thi và tác động thực tế của nó đến tâm lý cũng như hiệu quả kinh tế của nông dân trong bối cảnh thực hiện tại Thừa Thiên Huế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp giữa tính và định lượng, lấy Lý thuyết chi phí giao dịch làm nền tảng để phân tích vai trò của hợp đồng sản xuất và HXT trong việc giảm rủi ro, chi phí thông tin, chi phí điều phối và giám sát trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa hữu cơ. Thay vì đo lường trực tiếp hiệu quả kinh tế tài chính, nghiên cứu tập trung đánh giá chất lượng thực thi hợp đồng và các rào cản kinh tế thông qua cảm nhận của nông hộ và ý kiến chuyên gia trong các giai đoạn chuyển đổi khác nhau. Mẫu khảo sát bao gồm 85 hộ tại HTX An Lỗ (chiếm khoảng 81,7% tổng số hộ), được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên không lặp để đảm bảo tính đại diện cao.

Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp diễn giải định tính kết hợp thống kê mô tả. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia thông qua công cụ phân tích SWOT; thu thập đánh giá của nông hộ về giai đoạn trước chuyển đổi, trong quá trình chuyển đổi và sau khi có chứng nhận bằng thang đo Likert 5 mức độ đối với các yếu tố: Tiếp cận đầu vào và hỗ trợ kỹ thuật, Cơ chế kiểm soát và thực thi, Giá cả, thị trường đầu ra sản phẩm. Các giá trị trung bình của thang đo Likert được sử dụng như bằng chứng hỗ trợ xu hướng thay đổi trong cảm nhận của nông hộ giữa các giai đoạn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đánh giá từ kết quả tham vấn chuyên gia về hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ

Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, HTX An Lỗ được ghi nhận là một trong những HTX thực hiện hiệu quả vai trò trung gian trong mô hình sản xuất lúa hữu cơ theo hợp đồng liên kết, thể hiện qua việc tổ chức chuyển giao khoa học - kỹ thuật, cung ứng các yếu tố đầu vào và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất. Nghiên cứu tiến hành tham vấn ý kiến đánh giá của các chuyên gia gồm cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Thừa Thiên Huế, UBND xã Phong Hiền và Giám đốc HTX An Lỗ về những cơ hội, thách thức đối với mô hình này. Kết quả thu được được thể hiện ở Bảng 1.

Bảng 1: Phân tích SWOT về hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ ở HTX An Lỗ

Điểm mạnh (Strength)

Điểm yếu (Weak)

- Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, thuận lợi cho việc chuyển đổi sang lúa hữu cơ.

- Gạo hữu cơ được HTX An Lỗ sản xuất vẫn chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế.

- HTX An Lỗ làm tốt vai trò trung gian hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, cung ứng các yếu tố đầu vào và kiểm soát các bất thường xảy ra trong sản xuất.

- Việc tìm kiếm đầu ra cho lúa, gạo hữu cơ gặp nhiều thách thức do thương hiệu còn chưa được nhiều người tiêu dùng biết đến.

- Kỹ thuật sản xuất lúa hữu cơ được HTX nắm rõ và sẵn sàng chuyển giao cho các HTX khác và các nông hộ có nhu cầu.

Cơ hội (Opportunity)

Thách thức (Threat)

- Nhu cầu của người tiêu dùng về các sản phẩm hữu cơ ngày càng gia tăng.

- Người tiêu dùng còn lạ lẫm với thương hiệu gạo hữu cơ của HTX An Lỗ

- Các tiến bộ, khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ ngày càng phát triển.

- Thời tiết bất thường; sâu bệnh, dịch hại.

- Cạnh tranh trên thị trường cung cấp thực phẩm hữu cơ ngày càng lớn.

Nguồn: Kết quả tham vấn chuyên gia, 2023-2024

Đánh giá của nông hộ về quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa hữu cơ theo hợp đồng

Nhằm cung cấp thông tin toàn diện về toàn bộ quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa hữu cơ theo hợp đồng liên kết, nghiên cứu tiến hành đánh giá ý kiến của nông hộ trong 3 giai đoạn: trước chuyển đổi, trong chuyển đổi và sau khi có chứng nhận hữu cơ (Bảng 2).

Bảng 2: Đánh giá của nông hộ về quá trình tham gia hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ

Đánh giá của nông hộ

Trước khi

chuyển đổi

Trong khi

chuyển đổi

Sau khi có giấy chứng nhận

Tiếp cận yếu tố đầu vào (giống, phân bón, nước tưới, dịch vụ sản xuất, kỹ thuật trồng lúa hữu cơ) dễ dàng.

3,55

4,40

4,46

Quy trình canh tác lúa hữu cơ được HTX tổ chức tập huấn, ghi chép cụ thể.

3,62

3,93

4,04

Việc tìm đầu ra cho lúa hữu cơ gặp nhiều khó khăn.

3,81

4,13

4,20

Trung bình chung

3,66

4,15

4,23

Nguồn: Số liệu điều tra, 2023-2024

Về tiếp cận đầu vào và hỗ trợ kỹ thuật trong hợp đồng sản xuất

Qua điều tra, nhận thức của nông hộ sau khi có giấy chứng nhận sản xuất lúa hữu cơ có sự thay đổi so với trước khi chuyển đổi. Sự thay đổi này xuất phát từ thực tế trước đó, khi một số nông hộ không hài lòng về cách thức bốc thăm lựa chọn nông hộ tham gia mô hình. Bên cạnh đó, thời gian chuyển đổi sang canh tác lúa hữu cơ khá dài (từ năm 2016-2020) để đạt tiêu chuẩn TCVN 11041:2:2017, đã khiến một số nông hộ nản lòng, dẫn đến quyết định không tham gia hoặc rút khỏi mô hình. Để duy trì vùng sản xuất, Ban Giám đốc HTX đã thuê lại diện tích của các hộ này và trả tiền thuê đất bằng 70 kg lúa hữu cơ/ sào/vụ. Tuy nhiên, một số hộ chỉ tham gia theo tính chất phong trào và giao phó hoàn toàn cho HTX đảm nhận mọi công việc liên quan đến hoạt động sản xuất, dẫn đến mức đánh giá trước khi chuyển đổi chỉ dừng ở mức trung lập.

Trong giai đoạn chuyển đổi, vai trò hỗ trợ của HTX trở nên rõ nét hơn trong việc tiếp cận các yếu tố đầu vào và hỗ trợ kỹ thuật sản xuất. Thông qua các kênh trao đổi tập trung, nông dân được cung cấp thông tin về lịch thời vụ, giống lúa, dịch vụ đầu vào và các yêu cầu kỹ thuật liên quan đến sản xuất lúa hữu cơ. Vai trò điều phối của HTX giúp nông hộ tiếp cận thông tin và quy trình canh tác hữu cơ một cách tập trung, qua đó giảm chi phí tìm kiếm thông tin và chi phí học hỏi ban đầu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các hộ mới tham gia, khi kiến thức và kinh nghiệm về canh tác hữu cơ còn hạn chế. Ngoài ra, HTX còn hỗ trợ kịp thời về biện pháp phòng trừ sâu bệnh và điều chỉnh kỹ thuật, giúp nông hộ không phải tự tìm kiếm hỗ trợ từ bên ngoài. Thực tế cho thấy HTX đã góp phần quan trọng trong việc cắt giảm chi phí thương lượng và giám sát kỹ thuật, đồng thời tạo điều kiện để nông hộ phân bổ lao động linh hoạt hơn.

Sau khi thu hoạch và hoàn tất nghĩa vụ hợp đồng, HTX tiếp tục đóng vai trò hỗ trợ đầu ra trong phạm vi nhất định. Ngoài sản lượng đã ký hợp đồng từ đầu vụ, nông hộ vẫn có quyền chủ động sử dụng hoặc bán phần sản lượng dư thừa, trong khi HTX sẵn sàng thu mua nếu có nhu cầu. Điều này góp phần giảm rủi ro đầu ra và tăng tính linh hoạt cho nông hộ.

Về cơ chế kiểm soát và thực thi hợp đồng

Trong quá trình chuyển đổi, hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ đi kèm với các yêu cầu kiểm soát chặt chẽ về quy trình kỹ thuật. Tuy nhiên, kết quả tham vấn và khảo sát cho thấy, cơ chế kiểm soát tại HTX An Lỗ được nông hộ nhìn nhận theo hướng hỗ trợ nhiều hơn là áp đặt. Việc HTX trực tiếp ghi chép, kiểm tra và phối hợp với các cơ quan chuyên môn giúp giảm chi phí giám sát cá nhân cho từng hộ. Điều này cho thấy chi phí giao dịch liên quan đến quyền thương lượng và chia sẻ rủi ro vẫn chưa được giải quyết đầy đủ trong thiết kế hợp đồng hiện tại.

Về giá cả và thị trường đầu ra sản phẩm

Qua điều tra, các rào cản chính mà cả chuyên gia và nông hộ đều nhấn mạnh gồm: chi phí đầu vào cao, đặc biệt là phân hữu cơ, giá thu mua ít thay đổi trong thời gian dài và năng suất hữu cơ thấp hơn lúa thường (lúa hữu cơ đạt 2,5-2,8 tạ/sào trong khi lúa thường dao động từ 3,5-4,0 tạ/sào). Những yếu tố này làm suy giảm động lực mở rộng diện tích và có thể tạo ra điểm gãy cam kết hợp đồng khi giá lúa thường tăng cao, trong khi giá hữu cơ đã được cố định từ đầu vụ. Từ góc độ chi phí giao dịch, đây là dấu hiệu cho thấy hợp đồng đã hỗ trợ giảm rủi ro ở khâu tổ chức sản xuất, nhưng chưa thiết kế đủ cơ chế chia sẻ rủi ro thị trường, dẫn đến cảm nhận chênh lệch hiệu quả kinh tế chưa rõ rệt và sự thiếu mặn mà của một bộ phận nông hộ.

Theo đánh giá của nông hộ, khó khăn thị trường đầu ra luôn duy trì ở mức cao và tăng dần, với mức đánh giá tăng từ 3,81 lên 4,20. Kết quả này hàm ý rằng, dù năng lực tổ chức sản xuất được cải thiện sau chứng nhận, song nút thắt thị trường vẫn chưa được giải quyết tương xứng. Kết quả này phù hợp với nhận định từ quá trình tham vấn chuyên gia về hạn chế thương hiệu và sự lạ lẫm của người tiêu dùng đối với sản phẩm gạo hữu cơ của HTX An Lỗ. Nguyên nhân chính được nông hộ và chuyên gia chỉ ra gồm: giá thu mua lúa hữu cơ ít thay đổi trong thời gian dài, năng suất hữu cơ thấp hơn lúa thường, chi phí đầu vào cao và thương hiệu gạo hữu cơ của HTX chưa được nhận diện rộng rãi. Khi giá lúa thường trên thị trường tăng, sự so sánh bất lợi này làm suy giảm động lực kinh tế của nông hộ trong việc mở rộng hoặc duy trì diện tích sản xuất hữu cơ.

Thảo luận về vai trò trung gian của HTX An Lỗ trong mô hình hợp đồng sản xuất

Thực tế cho thấy, việc từng nông hộ tự chuyển đổi sang trồng lúa hữu cơ là rất khó khăn do yêu cầu sản xuất khắt khe, chi phí đầu tư tư liệu sản xuất lớn và đòi hỏi ứng dụng công nghệ hiện đại. Để giải quyết bài toán này, HTX An Lỗ đã thành lập tổ sản xuất gồm 15 người chuyên đảm nhận các khâu trong quá trình sản xuất lúa hữu cơ nhằm đảm bảo sự đồng nhất về kỹ thuật trên diện tích sản xuất, giúp nông hộ giảm bớt gánh nặng chi phí đầu tư thiết bị, máy móc. Trong quá trình sản xuất lúa hữu cơ theo hình thức hợp đồng sản xuất, ngoài những yếu tố mang tính chất định lượng ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các hộ nông dân, vấn đề thời tiết thường xuyên thay đổi cũng gây ảnh hưởng nhiều đến sản xuất lúa nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung. Đặc biệt, trăn trở mà hộ dân trồng lúa hữu cơ gặp phải trong tiếp cận các yếu tố đầu vào là giá phân bón hữu cơ Quế Lâm quá cao, lên tới 6.000 đồng/kg, trong khi giá thu mua lúa hữu cơ không thay đổi với mức 8.000 đồng/kg từ năm 2018 đến nay.

Về công tác quản lý và hỗ trợ kỹ thuật, HTX đã thực hiện rất bài bản việc ghi chép nhật ký canh tác và phối hợp với các sở, ban, ngành để tổ chức tập huấn, hỗ trợ kịp thời cho nông hộ khi có bất thường xảy ra. Cùng với đó, Trung tâm Khuyến nông cùng các tổ chức trong và ngoài nước đã tiến hành các buổi tập huấn kỹ thuật tự ủ phân hữu cơ từ rơm nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, trở ngại nhất hiện nay đối với gạo hữu cơ vẫn nằm ở khâu quảng bá và phát triển thị trường tiêu thụ. Tại Thừa Thiên Huế, dù nhu cầu thực phẩm sạch tăng cao, song gạo hữu cơ An Lỗ vẫn chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ các thương hiệu lớn. Trong khi giá các loại gạo nhập từ nơi khác tăng đáng kể thì gạo sản xuất tại địa phương lại ít biến động và chưa được người tiêu dùng nhận diện rộng rãi.

Nhìn chung, kết quả đánh giá của nông hộ phản ánh rõ tính 2 mặt của mô hình hợp đồng trong quá trình chuyển đổi. Điểm trung bình đánh giá của nông hộ tăng từ 3,66 ở giai đoạn trước chuyển đổi lên 4,23 sau khi có giấy chứng nhận. Điều này cho thấy mức độ hài lòng tăng dần theo thời gian, đặc biệt ở khả năng tiếp cận đầu vào, hỗ trợ kỹ thuật với mức đánh giá tăng từ 3,55 lên 4,46; tổ chức tập huấn, ghi chép quy trình tăng từ 3,62 lên 4,04. Kết quả này củng cố nhận định rằng, HTX đã thực hiện tốt vai trò giảm chi phí thông tin và điều phối thông qua tổ chức kỹ thuật đồng bộ và hỗ trợ kịp thời khi phát sinh bất thường trong sản xuất.

Ở góc nhìn chuyên gia, mô hình tại HTX An Lỗ có lợi thế về quỹ đất thuận lợi cho chuyển đổi và năng lực trung gian của HTX trong chuyển giao kỹ thuật, cung ứng đầu vào và kiểm soát bất thường trong sản xuất. Tuy nhiên, điểm nghẽn nổi bật nằm ở thị trường đầu ra do thương hiệu gạo hữu cơ Phong Điền của HTX An Lỗ chưa có chỗ đứng vững, khó mở rộng đầu ra khi cạnh tranh với các thương hiệu gạo hữu cơ lớn, rủi ro thời tiết, sâu bệnh ngày càng tăng trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ tại HTX An Lỗ chưa tạo ra động lực kinh tế đủ mạnh để khuyến khích nông hộ mở rộng quy mô sản xuất, chủ yếu do chi phí đầu vào cao, giá thu mua không đổi trong thời gian dài, năng suất thấp và khó khăn về thị trường tiêu thụ. Đánh giá của nông hộ cho thấy mức độ hài lòng tăng dần sau chứng nhận, trong đó tiếp cận đầu vào và hỗ trợ kỹ thuật cải thiện mạnh, nhưng khó khăn thị trường vẫn ở mức cao. HTX có thể nâng chất lượng thực thi hợp đồng thông qua hỗ trợ yếu tố đầu vào, kỹ thuật canh tác và tuân thủ quy trình, nhưng hiệu quả bền vững của mô hình phụ thuộc lớn vào đổi mới cơ chế giá, phát triển thị trường và giảm chi phí đầu vào, đặc biệt trong bối cảnh sản xuất hữu cơ có thời gian chuyển đổi dài và rủi ro tự nhiên cao. Trong tương lai, các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng đa mô hình, kết hợp dữ liệu về chi phí, doanh thu, lợi nhuận; đồng thời phân tích sâu yếu tố thị trường như thương hiệu và kênh tiêu thụ.

(*) Nghiên cứu được thực hiện trước thời điểm Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập TP. Huế trực thuộc Trung ương, ngày 30/11/2024.

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này là một phần kết quả của đề tài “Tác động của hình thức hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ đến hiệu quả kinh tế của nông hộ trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” - Mã số: DHH2023-06-128 được thực hiện từ nguồn kinh phí Khoa học công nghệ Đại học Huế.

Tài liệu tham khảo:

1. Coase, R. H. (1937). The nature of the firm. Economica, 4(16), 386-405.

2. Eni Istiyanti & Nurul Isnaeni (2026). The supply chain efficiency of organic rice in Kulon Progo Regency, Special Region of Yogyakarta, Indonesia, BIO Web of Conferences, 208, 05001.

3. Hàn Đăng (2023). Thị trường lúa, gạo Huế vẫn trong tầm kiểm soát. https://baothuathienhue.vn/kinh-te/thong-tin-thi-truong/thi-truong-lua-gao-hue-van-trong-tam-kiem-soat-131041.html

4. La Nguyễn Thùy Dung, Mai Văn Nam (2015). Phân tích hiệu quả tài chính của hộ sản xuất lúa theo mô hình liên kết với doanh nghiệp ở tỉnh An Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Phần D: Khoa học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật, 92-100.

5. Mai Chiem Tuyen, Prapinwadee Sirisupluxana, Isriya Bunyasiri, Pham Xuan Hung (2021). Rice Contract Farming in Vietnam: Insights from a Qualitative Study. Eng. Proc, 9(1), 6.

6. Nguyen Cong Dinh, Takeshi Mizunoya, Vo Hoang Ha, Pham Xuan Hung, Nguyen Quang Tan, Le Thanh An (2023). Factors influencing farmer intentions to scale up organic rice farming: preliminary findings from the context of agricultural production in Central Vietnam. Asia-Pacific Journal of Regional Science, 7(3), 749-774.

7. Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Viết Tuân, Cao Thị Thuyết, Nguyễn Thiện Tâm, Nguyễn Xuân Cảnh, Lê Văn Nam, Lê Việt Linh (2020). Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa hữu cơ theo hợp đồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế: Trường hợp nghiên cứu tại xã Phú Lương. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 18(8): 553-561.

8. Nguyễn Thu Trâm (2023). Hợp đồng nông nghiệp ở các HTX: Giải pháp ổn định thị trường nông sản, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 16, tháng 6/2023.

9. Trần Huỳnh Bảo Châu, Nguyễn Hoàng Diễm My, Bùi Dũng Thể, Trần Huỳnh Quang Minh, Hoàng Bảo Đức (2024). Hiệu quả kinh tế của nông hộ tham gia hợp đồng sản xuất lúa hữu cơ: Nghiên cứu trường hợp xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển, 133(5A), 201-220.

10. Tran Quoc Nhan, Yutaka Tomoyuki (2018), Analysis of Contract Farming between Paddy Farmers and an Agribusiness Firm in the Mekong Delta of Vietnam. The Agricultural Marketing Journal of Japan, 27 (1), 60-67

11. Williamson, O. E. (1985). The Economic Institutions of Capitalism: Firms, Markets, Relational Contracting. New York: Free Press.

Ngày nhận bài: 26/1/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/3/2026; Ngày duyệt đăng: 18/3/2026

Các tin khác

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty PNJP

Sự hài lòng trong công việc phản ánh cách người lao động đánh giá và trải nghiệm công việc đang đảm nhận. Trong doanh nghiệp sản xuất, việc nhận diện những phương diện gắn với sự hài lòng có thể giúp nhà quản trị xác định nội dung cần rà soát trong tổ chức công việc và chính sách nhân sự. Tuy nhiên, các yếu tố được đề cập trong lý thuyết không nhất thiết có mức đóng góp giống nhau ở mọi doanh nghiệp. Muốn áp dụng kết quả từ bối cảnh khác cho một đơn vị cụ thể thì cần có dữ liệu tại chính đơn vị đó.
Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Khả năng sinh lời của ngân hàng phụ thuộc vào chất lượng khoản vay và năng lực đáp ứng nghĩa vụ thanh toán. Nợ không được thu hồi đúng hạn có thể làm giảm thu nhập và gây thiếu hụt dòng tiền. Nguồn lực thanh khoản giúp hạn chế nhu cầu huy động khẩn cấp nhưng cũng phát sinh chi phí cơ hội. Vì vậy, đánh giá lợi nhuận tách rời hai loại rủi ro có thể dẫn đến nhận định thiếu đầy đủ (Arif và Anees, 2012; Imbierowicz và Rauch, 2014).
Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Thái độ đối với ẩm thực đường phố và ý định quay lại: Vai trò trung gian của thói quen, hành động và giao kết hành vi

Ẩm thực đường phố là một trong những thành phần trải nghiệm du lịch hấp dẫn và đặc trưng nhất tại nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Việt Nam.
Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Phân mảnh kênh phân phối bán lẻ dược phẩm và rủi ro thuốc giả tại Việt Nam: Tác động của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược và hàm ý chính sách

Thuốc thuộc nhóm hàng hoá mà người mua gần như không thể tự thẩm định chất lượng, ngay cả sau khi đã sử dụng. Đặc tính này khiến cấu trúc kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định mức rủi ro thuốc giả, bên cạnh năng lực kiểm nghiệm.
Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vai trò của khung pháp lý trong thúc đẩy ESG tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tại Việt Nam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường, xã hội và quản trị ngân hàng nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện môi trường, xã hội và quản trị. Các quy định này góp phần thúc đẩy tín dụng xanh, nâng cao tính minh bạch, cải thiện quản trị và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh trong phát triển kinh tế điểm đến

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, sự phát triển kinh tế du lịch thực chất không chỉ đo lường bằng lượng khách hay doanh thu tổng thể, mà được quyết định bởi khả năng chuyển hóa các dòng chi tiêu thành thu nhập, việc làm và nâng cao năng lực kinh doanh tại chỗ.
Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Nâng cao chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại Công ty MEDIA

Qua phân tích chất lượng quản trị nguồn nhân lực tại công ty MEDIA, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty trong thời gian tới.
Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch xanh là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Tác động của AI Marketing đến giá trị vòng đời khách hàng trong thương mại điện tử Việt Nam: Thực trạng và hàm ý quản trị

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chiến lược quản trị quan hệ khách hàng là lòng trung thành thương hiệu và giá trị vòng đời khách hàng.
Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Đảm bảo an ninh năng lượng thông qua dự trữ xăng dầu quốc gia tại Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới biến động

Dự trữ năng lượng, đặc biệt là dự trữ xăng dầu và dầu thô, đóng vai trò như một tấm đệm giúp quốc gia ứng phó với các cú sốc nguồn cung, biến động giá cả và rủi ro địa chính trị trên thị trường quốc tế.