Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên mới ra trường tại TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Văn Tân
Trường Đại học Lạc Hồng
Lê Kim Liên (Tác giả liên hệ)
Email:[email protected]
Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên mới ra trường tại TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở tích hợp Lý thuyết hành vi có kế hoạch và Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Sự tự tin về tính khả thi là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến Ý định khởi nghiệp, tiếp theo là Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. Giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực đến Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Thái độ đối với khởi nghiệp; đồng thời, Đặc điểm tính cách và Nguồn vốn góp phần nâng cao Sự tự tin về tính khả thi. Kết quả cũng xác nhận vai trò trung gian của Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Sự tự tin về tính khả thi trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về ý định khởi nghiệp trong bối cảnh Việt Nam, đồng thời cung cấp hàm ý quản trị cho các cơ sở giáo dục đại học và nhà hoạch định chính sách trong việc thiết kế các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp dành cho sinh viên sau tốt nghiệp.
Từ khóa: Ý định khởi nghiệp, sinh viên mới ra trường, giáo dục khởi nghiệp, sự tự tin về tính khả thi, TP. Hồ Chí Minh
Abstract
This study analyzes the factors influencing the entrepreneurial intentions of recent university graduates in Ho Chi Minh City, integrating the Theory of Planned Behavior and the Entrepreneurial Event Theory. The results show that perceived feasibility is the strongest determinant of entrepreneurial intention, followed by subjective norms and perceived behavioral control. Entrepreneurship education positively affects subjective norms, perceived behavioral control, and attitudes toward entrepreneurship, while personality traits and access to capital contribute to higher perceived feasibility. The results also confirm the mediating roles of subjective norms, perceived behavioral control, and perceived feasibility in the proposed research model. The study contributes empirical evidence on entrepreneurial intention in the Vietnamese context and provides managerial implications for higher education institutions and policymakers in designing entrepreneurship support programs for university graduates.
Keywords: Entrepreneurial intention, recent university graduates, entrepreneurship education, perceived feasibility, Ho Chi Minh City
GIỚI THIỆU
TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đồng thời là địa phương có hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển mạnh với sự tập trung của các trường đại học, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, vườn ươm và trung tâm đổi mới sáng tạo. Đây cũng là nơi hằng năm cung cấp số lượng lớn sinh viên tốt nghiệp cho thị trường lao động. Tuy nhiên, không phải tất cả sinh viên mới ra trường đều sẵn sàng lựa chọn khởi nghiệp như một định hướng nghề nghiệp. Sự khác biệt về năng lực cá nhân, nhận thức, môi trường giáo dục, sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội, cũng như khả năng tiếp cận các nguồn lực khởi nghiệp có thể tạo ra những khác biệt đáng kể trong ý định khởi nghiệp của nhóm đối tượng này. Vì vậy, việc xác định các yếu tố quyết định ý định khởi nghiệp của sinh viên mới ra trường tại TP. Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp
Theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), thái độ đối với hành vi phản ánh mức độ đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân đối với việc thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Trong bối cảnh khởi nghiệp, thái độ thể hiện nhận thức của cá nhân về những lợi ích, cơ hội và giá trị mà việc thành lập doanh nghiệp có thể mang lại. Khi cá nhân tin rằng khởi nghiệp giúp họ đạt được sự độc lập, phát triển nghề nghiệp, gia tăng thu nhập và hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo, họ có xu hướng hình thành ý định khởi nghiệp mạnh mẽ hơn (Liñán và Chen, 2009).
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã xác nhận thái độ đối với khởi nghiệp là một trong những yếu tố dự báo quan trọng nhất của ý định khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Entrialgo và cộng sự (2016), Lingappa và cộng sự (2020), Heydari và cộng sự (2020), Shah và cộng sự (2020) và Terán-Pérez và cộng sự (2021) đều cho thấy thái độ tích cực làm gia tăng đáng kể ý định khởi nghiệp của sinh viên. Trong bối cảnh Việt Nam, Nguyen (2021), Phong và cộng sự (2020), Định và Sen (2022) đều ghi nhận rằng sinh viên có nhận thức tích cực về hoạt động khởi nghiệp thường thể hiện mức độ sẵn sàng khởi nghiệp cao hơn.
Đối với sinh viên mới tốt nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, thái độ tích cực đối với khởi nghiệp có thể được hình thành thông qua việc nhận thức về cơ hội nghề nghiệp, khả năng phát triển bản thân cũng như môi trường đổi mới sáng tạo đang ngày càng phát triển. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H1: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp.
Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ mà cá nhân tin tưởng rằng họ có đủ năng lực, nguồn lực và khả năng kiểm soát để thực hiện thành công một hành vi nhất định (Ajzen, 1991, 2002). Trong nghiên cứu về khởi nghiệp, khái niệm này được hiểu là sự tự tin của cá nhân vào kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, nguồn vốn và khả năng vượt qua những khó khăn trong quá trình thành lập doanh nghiệp.
Các nghiên cứu trước đây nhìn chung đều cho thấy nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp (Autio và cộng sự, 2001; Kolvereid, 1996; Krueger và cộng sự, 2000; Souitaris và cộng sự, 2007). Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng ghi nhận kết quả tương tự (Nguyen, 2015; Thùy và Trúc, 2020; Định và Sen, 2022). Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chưa tìm thấy tác động có ý nghĩa thống kê của biến này đối với ý định khởi nghiệp (Phong và cộng sự, 2020). Sự khác biệt này có thể xuất phát từ đặc điểm mẫu nghiên cứu, điều kiện kinh tế - xã hội hoặc mức độ phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp ở từng địa phương.
Đối với nhóm sinh viên mới tốt nghiệp, cảm nhận về năng lực bản thân và khả năng kiểm soát các nguồn lực đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quyết định lựa chọn khởi nghiệp thay vì làm việc hưởng lương. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H2: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp.
Chuẩn chủ quan
Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của cá nhân về sự kỳ vọng hoặc ủng hộ của những người có ảnh hưởng quan trọng, chẳng hạn như gia đình, bạn bè, giảng viên hoặc đồng nghiệp, đối với việc thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991). Trong lĩnh vực khởi nghiệp, sự khuyến khích từ các nhóm tham chiếu có thể giúp cá nhân gia tăng niềm tin, giảm bớt sự e ngại và củng cố quyết định khởi nghiệp.
Nhiều nghiên cứu đã xác nhận chuẩn chủ quan có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp (Entrialgo và cộng sự, 2016; Shah và cộng sự, 2020; Heydari và cộng sự, 2020). Bên cạnh đó, Phong và cộng sự (2020) cũng cho thấy sự ủng hộ của môi trường xã hội góp phần thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chuẩn mực chủ quan và ý định khởi nghiệp (Định và Sen, 2022). Điều này cho thấy vai trò của yếu tố xã hội có thể thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa và bối cảnh nghiên cứu.
Trong bối cảnh Việt Nam, quyết định nghề nghiệp của sinh viên mới tốt nghiệp thường chịu ảnh hưởng đáng kể từ gia đình và các mối quan hệ xã hội. Do đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H3: Chuẩn mực chủ quan có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp.
Giáo dục khởi nghiệp
Giáo dục khởi nghiệp được xem là một trong những công cụ quan trọng giúp hình thành kiến thức, kỹ năng, tư duy đổi mới sáng tạo và năng lực khởi nghiệp cho người học. Các chương trình đào tạo không chỉ cung cấp kiến thức về quản trị doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao sự tự tin, khả năng nhận diện cơ hội kinh doanh và năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường khởi nghiệp (Kolvereid, 1996; Bae và cộng sự, 2014).
Các nghiên cứu gần đây cho thấy tác động của giáo dục khởi nghiệp đến ý định khởi nghiệp không hoàn toàn mang tính trực tiếp mà chủ yếu thông qua việc thay đổi nhận thức và thái độ của người học (Mwasalwiba, 2010; Hattab, 2014). Maheshwari và Kha (2021) cũng chỉ ra rằng trong bối cảnh Việt Nam, giáo dục khởi nghiệp ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp thông qua 3 thành phần cốt lõi của TPB, bao gồm thái độ đối với khởi nghiệp, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Đối với sinh viên mới tốt nghiệp, việc tham gia các chương trình đào tạo, cuộc thi khởi nghiệp hoặc hoạt động trải nghiệm thực tiễn có thể góp phần hình thành thái độ tích cực, nâng cao nhận thức về năng lực bản thân và gia tăng sự ủng hộ từ môi trường học tập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H4a: Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp.
H4b: Nhận thức kiểm soát hành vi đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp.
H4c: Chuẩn mực chủ quan đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp.
Đặc điểm tính cách
Trong bối cảnh khởi nghiệp, đặc điểm tính cách còn được thể hiện thông qua mong muốn khẳng định bản thân, nhu cầu đạt được thành tựu, khả năng tự chủ trong công việc và tinh thần đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, xu hướng chấp nhận rủi ro được xem là một thuộc tính nổi bật của doanh nhân, bởi quá trình khởi nghiệp luôn đi kèm với những bất định về thị trường, tài chính và khả năng thành công. Theo Bui và cộng sự (2020), mức độ sẵn sàng chấp nhận rủi ro phản ánh khả năng chấp nhận những tổn thất có thể phát sinh trong quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp. Những cá nhân có khả năng chấp nhận rủi ro cao thường tự tin hơn khi đưa ra quyết định kinh doanh và sẵn sàng theo đuổi các cơ hội mới.
Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy đặc điểm tính cách có mối liên hệ chặt chẽ với nhận thức về năng lực khởi nghiệp. Scott (1991) cho rằng, các đặc điểm như nhu cầu thành đạt, sự tự tin và khả năng chấp nhận rủi ro góp phần nâng cao niềm tin của cá nhân vào khả năng khởi nghiệp thành công. Trong bối cảnh Việt Nam, Ngo và Cao (2016), Phan và Tran (2017) đều khẳng định rằng đặc điểm tính cách là yếu tố quan trọng thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên thông qua việc gia tăng sự tự tin và động lực theo đuổi hoạt động kinh doanh.
Đối với sinh viên mới ra trường tại TP. Hồ Chí Minh, những cá nhân có tính cách năng động, độc lập, chủ động và sẵn sàng đối mặt với rủi ro được kỳ vọng sẽ có mức độ tự tin cao hơn về khả năng hiện thực hóa các dự án khởi nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H5: Đặc điểm tính cách có tác động tích cực đến Sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp.
Nguồn vốn
Nguồn vốn được xem là một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các ý tưởng khởi nghiệp và duy trì hoạt động của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu. Khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính giúp cá nhân giảm bớt rào cản khi thành lập doanh nghiệp, đồng thời nâng cao niềm tin vào khả năng triển khai và phát triển hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp do thanh niên sáng lập, việc tiếp cận nguồn vốn vẫn là một trong những thách thức lớn (Dong Nghi và Thien Minh, 2018).
Trong thực tế, phần lớn sinh viên mới tốt nghiệp chưa tích lũy được nguồn lực tài chính đủ lớn để tự đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Vì vậy, họ thường phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như gia đình, bạn bè, các tổ chức tín dụng hoặc các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp. Theo Le (2007), nguồn tài chính từ gia đình và người thân là kênh hỗ trợ phổ biến nhất trong giai đoạn đầu của quá trình khởi nghiệp. Việc có khả năng tiếp cận nguồn vốn phù hợp không chỉ giúp giảm áp lực tài chính mà còn góp phần nâng cao sự tự tin của cá nhân khi đưa ra quyết định khởi nghiệp.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã xác nhận vai trò tích cực của nguồn vốn đối với ý định khởi nghiệp và nhận thức về tính khả thi của hoạt động kinh doanh (Le và Nguyen, 2019; Truong và Nguyen, 2019). Khi cá nhân tin rằng họ có thể tiếp cận các nguồn lực tài chính cần thiết, họ sẽ có xu hướng đánh giá việc khởi nghiệp là khả thi hơn và sẵn sàng theo đuổi các cơ hội kinh doanh. Từ những lập luận trên, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H6: Nguồn vốn có tác động tích cực đến Sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp.
Sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp
Sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp phản ánh mức độ mà cá nhân tin tưởng rằng mình có đủ năng lực, kiến thức, kỹ năng và nguồn lực để thành lập cũng như điều hành doanh nghiệp thành công. Theo Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (Shapero và Sokol, 1982), nhận thức về tính khả thi là một trong những tiền đề quan trọng quyết định sự hình thành ý định khởi nghiệp. Khi cá nhân đánh giá việc khởi nghiệp là khả thi và phù hợp với năng lực của bản thân, họ sẽ có xu hướng chuyển từ mong muốn sang ý định thực hiện hành vi khởi nghiệp.
Krueger và Brazeal (1994) cho rằng, sự tự tin vào khả năng thành công giúp cá nhân mạnh dạn nắm bắt cơ hội kinh doanh và kiên trì theo đuổi mục tiêu khởi nghiệp. Quan điểm này cũng phù hợp với Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991), trong đó nhận thức về khả năng kiểm soát hành vi là yếu tố quan trọng thúc đẩy ý định thực hiện hành vi. Đối với hoạt động khởi nghiệp, sự tự tin không chỉ phản ánh năng lực chuyên môn mà còn thể hiện khả năng ra quyết định, giải quyết vấn đề và kiểm soát những rủi ro phát sinh trong quá trình kinh doanh.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng sự tự tin về tính khả thi có ảnh hưởng tích cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên và những người có mong muốn thành lập doanh nghiệp (Nguyen & Nguyen, 2016). Những cá nhân tin tưởng vào năng lực của bản thân thường sẵn sàng đầu tư thời gian, công sức và nguồn lực để hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh hơn so với những người thiếu tự tin.
Đối với sinh viên mới ra trường tại TP. Hồ Chí Minh, sự tự tin về khả năng khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ là yếu tố thúc đẩy quyết định lựa chọn con đường khởi nghiệp trong giai đoạn chuyển tiếp từ môi trường học tập sang thị trường lao động. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:
H7: Sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp.
Mô hình nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình 1.
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng nhằm xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên mới ra trường tại TP. Hồ Chí Minh.
Ở giai đoạn nghiên cứu định tính, nhóm tác giả tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ý định khởi nghiệp để xây dựng mô hình nghiên cứu và hệ thống thang đo ban đầu. Tiếp theo, phương pháp phỏng vấn 3 chuyên gia kết hợp với thảo luận nhóm được sử dụng nhằm đánh giá tính phù hợp của các khái niệm và các biến quan sát trong bối cảnh nghiên cứu. Nhóm chuyên gia gồm các giảng viên có chuyên môn về khởi nghiệp, quản trị kinh doanh và các doanh nhân có kinh nghiệm khởi nghiệp. Đồng thời, nhóm nghiên cứu tổ chức thảo luận với 7 sinh viên vừa mới tốt nghiệp có định hướng khởi nghiệp nhằm đánh giá mức độ rõ ràng của bảng câu hỏi và hiệu chỉnh nội dung các biến quan sát trước khi triển khai khảo sát chính thức.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi có cấu trúc. Đối tượng khảo sát là sinh viên đã tốt nghiệp không quá 12 tháng tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Quá trình thu thập dữ liệu được thực hiện từ ngày 2-28/5/2026. Tổng cộng 358 bảng câu hỏi được phát ra, trong đó 339 bảng câu hỏi hợp lệ được sử dụng cho phân tích. Các biến nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức, từ 1- Hoàn toàn không đồng ý, đến 5- Hoàn toàn đồng ý. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm IBM SPSS Statistics 26 và SmartPLS 4.1.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định mô hình đo lường
Kết quả tại Bảng 1 cho thấy, tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải ngoài lớn hơn ngưỡng khuyến nghị 0,70. Cụ thể, thang đo Chuẩn chủ quan (CCQ) có hệ số tải dao động từ 0,843 đến 0,873; Giáo dục khởi nghiệp (GDKN) từ 0,769 đến 0,808; Nhận thức kiểm soát hành vi (NTKSHV) từ 0,835 đến 0,863; Nguồn vốn (NV) từ 0,833 đến 0,853; Sự tự tin về tính khả thi (STT) từ 0,825 đến 0,852; Đặc điểm tính cách (TC) từ 0,831 đến 0,846; Thái độ đối với khởi nghiệp (TD) từ 0,834 đến 0,846 và Ý định khởi nghiệp (YDKN) từ 0,745 đến 0,777. Tất cả các biến quan sát đều đạt yêu cầu về độ tin cậy chỉ báo theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2022), do đó không có biến quan sát nào bị loại khỏi mô hình.
Bảng 1: Hệ số tải ngoài
| CCQ | GDKN | NTKSHV | NV | STT | TC | TD | YDKN | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| CCQ1 | 0,873 | |||||||
| CCQ2 | 0,843 | |||||||
| CCQ3 | 0,850 | |||||||
| CCQ4 | 0,851 | |||||||
| GDKN1 | 0,800 | |||||||
| GDKN2 | 0,796 | |||||||
| GDKN3 | 0,769 | |||||||
| GDKN4 | 0,808 | |||||||
| GDKN5 | 0,786 | |||||||
| NTKSHV1 | 0,835 | |||||||
| NTKSHV2 | 0,863 | |||||||
| NTKSHV3 | 0,853 | |||||||
| NTKSHV4 | 0,836 | |||||||
| NV1 | 0,850 | |||||||
| NV2 | 0,846 | |||||||
| NV3 | 0,833 | |||||||
| NV4 | 0,853 | |||||||
| STT1 | 0,852 | |||||||
| STT2 | 0,840 | |||||||
| STT3 | 0,826 | |||||||
| STT4 | 0,825 | |||||||
| TC1 | 0,843 | |||||||
| TC2 | 0,846 | |||||||
| TC3 | 0,831 | |||||||
| TC4 | 0,845 | |||||||
| TC5 | 0,833 | |||||||
| TD1 | 0,834 | |||||||
| TD2 | 0,834 | |||||||
| TD3 | 0,844 | |||||||
| TD4 | 0,836 | |||||||
| TD5 | 0,846 | |||||||
| YDKN1 | 0,745 | |||||||
| YDKN2 | 0,748 | |||||||
| YDKN3 | 0,776 | |||||||
| YDKN4 | 0,777 | |||||||
| YDKN5 | 0,762 | |||||||
| YDKN6 | 0,750 |
Nguồn: Nhóm tác giả thu thập và xử lý
Bảng 2 cho thấy, hệ số Cronbach's Alpha của các biến tiềm ẩn dao động từ 0,852-0,895, trong khi hệ số Composite Reliability (CR) nằm trong khoảng 0,891-0,923. Tất cả các giá trị này đều vượt ngưỡng 0,70, chứng minh các thang đo có mức độ nhất quán nội tại cao. Đồng thời, giá trị Average Variance Extracted (AVE) của các khái niệm nghiên cứu dao động từ 0,577-0,730, đều lớn hơn 0,50, qua đó khẳng định mô hình đạt giá trị hội tụ theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2022).
Bảng 2: Đánh giá độ tin cậy thang đo
| Cronbach's Alpha | Composite reliability (rho_a) | Composite reliability (rho_c) | Average Variance Extracted (AVE) | |
|---|---|---|---|---|
| CCQ | 0,877 | 0,879 | 0,915 | 0,730 |
| GDKN | 0,852 | 0,855 | 0,894 | 0,627 |
| NTKSHV | 0,869 | 0,870 | 0,910 | 0,717 |
| NV | 0,867 | 0,868 | 0,909 | 0,715 |
| STT | 0,856 | 0,857 | 0,903 | 0,699 |
| TC | 0,895 | 0,896 | 0,923 | 0,705 |
| TD | 0,895 | 0,895 | 0,922 | 0,704 |
| YDKN | 0,854 | 0,855 | 0,891 | 0,577 |
Nguồn: Nhóm tác giả thu thập và xử lý
Giá trị phân biệt của mô hình tiếp tục được đánh giá bằng tiêu chí Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT) và Fornell-Larcker. Kết quả cho thấy tất cả các hệ số HTMT đều nhỏ hơn ngưỡng khuyến nghị 0,85, đồng thời căn bậc hai của AVE của mỗi biến tiềm ẩn đều lớn hơn hệ số tương quan với các biến còn lại. Điều này chứng tỏ các khái niệm nghiên cứu có sự phân biệt rõ ràng và phản ánh những nội dung lý thuyết khác nhau.
Ngoài ra, hiện tượng đa cộng tuyến được kiểm tra thông qua hệ số Variance Inflation Factor (VIF). Kết quả nghiên cứu cho thấy, toàn bộ giá trị VIF đều nhỏ hơn ngưỡng khuyến nghị, chứng tỏ mô hình không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến quan sát. Đồng thời, kết quả này cũng cho thấy sai lệch phương pháp chung không ảnh hưởng đáng kể đến dữ liệu nghiên cứu.
Tổng hợp các kết quả trên cho thấy mô hình đo lường đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Do đó, các thang đo được xem là phù hợp để tiếp tục đánh giá mô hình cấu trúc và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Kiểm định mô hình cấu trúc
Hình 2: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả thu thập và xử lý
Bảng 3: Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc
| Original sample (O) | Sample mean (M) | Standard deviation (STDEV) | T statistics (|O/STDEV|) | P values | |
|---|---|---|---|---|---|
| CCQ → YDKN | 0,167 | 0,168 | 0,058 | 2,881 | 0,004 |
| GDKN → CCQ | 0,555 | 0,555 | 0,033 | 16,737 | 0,000 |
| GDKN → NTKSHV | 0,604 | 0,605 | 0,031 | 19,429 | 0,000 |
| GDKN → TD | 0,542 | 0,543 | 0,036 | 15,152 | 0,000 |
| NTKSHV → YDKN | 0,137 | 0,137 | 0,064 | 2,151 | 0,031 |
| NV → STT | 0,228 | 0,228 | 0,064 | 3,563 | 0,000 |
| STT → YDKN | 0,458 | 0,455 | 0,052 | 8,887 | 0,000 |
| TC → STT | 0,427 | 0,428 | 0,062 | 6,836 | 0,000 |
| TD → YDKN | 0,064 | 0,067 | 0,063 | 1,016 | 0,310 |
Nguồn: Nhóm tác giả thu thập và xử lý
Kết quả tại Bảng 3 và Hình 2 cho thấy, 6/7 giả thuyết được chấp nhận ở mức ý nghĩa 5%.
Cụ thể, Chuẩn chủ quan (CCQ) tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp (YDKN) (β = 0,167; t = 2,881; p = 0,004). Giáo dục khởi nghiệp (GDKN) có ảnh hưởng tích cực đến Chuẩn chủ quan (β = 0,555; p < 0,001), Nhận thức kiểm soát hành vi (NTKSHV) (β = 0,604; p < 0,001) và Thái độ đối với khởi nghiệp (TD) (β = 0,542; p < 0,001). Đồng thời, NTKSHV cũng tác động tích cực đến YDKN (β = 0,137; t = 2,151; p = 0,031).
Kết quả cũng cho thấy Sự tự tin về tính khả thi (STT) có ảnh hưởng mạnh nhất đến Ý định khởi nghiệp (β = 0,458; t = 8,887; p < 0,001). Bên cạnh đó, Đặc điểm tính cách (TC) và Nguồn vốn (NV) đều tác động tích cực đến STT, với hệ số đường dẫn lần lượt là β = 0,427 (p < 0,001) và β = 0,228 (p < 0,001).
Ngược lại, mối quan hệ giữa Thái độ đối với khởi nghiệp (TD) và Ý định khởi nghiệp không có ý nghĩa thống kê (β = 0,064; t = 1,016; p = 0,310), do đó giả thuyết tương ứng không được chấp nhận.
Nhìn chung, kết quả kiểm định khẳng định vai trò của Giáo dục khởi nghiệp, Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Đặc điểm tính cách, Nguồn vốn và đặc biệt là Sự tự tin về tính khả thi trong việc thúc đẩy Ý định khởi nghiệp của sinh viên mới ra trường tại TP. Hồ Chí Minh.
Bảng 4: Giá trị R, R2, Q2
| R-square | R-square adjusted | Q² (=1-SSE/SSO) | |
|---|---|---|---|
| CCQ | 0,308 | 0,307 | 0,222 |
| NTKSHV | 0,364 | 0,364 | 0,258 |
| STT | 0,354 | 0,352 | 0,244 |
| TD | 0,293 | 0,292 | 0,204 |
| YDKN | 0,534 | 0,532 | 0,299 |
Nguồn: Nhóm tác giả thu thập và xử lý
Chất lượng mô hình cấu trúc được đánh giá thông qua các chỉ số R², Adjusted R² và Q² theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2022). Kết quả ở Bảng 4 cho thấy, biến Ý định khởi nghiệp (YDKN) có R² = 0,534 và Adjusted R² = 0,532, cho thấy các biến độc lập trong mô hình giải thích được 53,4% sự biến thiên của Ý định khởi nghiệp, phản ánh khả năng giải thích khá tốt của mô hình. Đối với các biến nội sinh còn lại, giá trị R² lần lượt đạt 0,364 đối với Nhận thức kiểm soát hành vi (NTKSHV), 0,354 đối với Sự tự tin về tính khả thi (STT), 0,308 đối với Chuẩn chủ quan (CCQ) và 0,293 đối với Thái độ đối với khởi nghiệp (TD). Chênh lệch không đáng kể giữa R² và Adjusted R² cho thấy mô hình có tính ổn định và không xảy ra hiện tượng ước lượng quá mức.
Bên cạnh đó, các giá trị Q² của CCQ (0,222), NTKSHV (0,258), STT (0,244), TD (0,204) và YDKN (0,299) đều lớn hơn 0, chứng tỏ mô hình có khả năng dự báo tốt đối với các biến nội sinh. Nhìn chung, các chỉ số R², Adjusted R² và Q² đều đáp ứng ngưỡng khuyến nghị, khẳng định mô hình cấu trúc đạt chất lượng tốt và phù hợp để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Bảng 5: Kết quả tác động trung gian
| Original sample (O) | Sample mean (M) | Standard deviation (STDEV) | T statistics (|O/STDEV|) | P values | |
|---|---|---|---|---|---|
| GDKN → TD → YDKN | 0,035 | 0,036 | 0,035 | 0,997 | 0,319 |
| GDKN → NTKSHV → YDKN | 0,083 | 0,083 | 0,039 | 2,110 | 0,035 |
| NV → STT → YDKN | 0,104 | 0,103 | 0,030 | 3,431 | 0,001 |
| GDKN → CCQ → YDKN | 0,093 | 0,093 | 0,033 | 2,782 | 0,005 |
| TC → STT → YDKN | 0,195 | 0,195 | 0,038 | 5,126 | 0,000 |
Nguồn: Nhóm tác giả thu thập và xử lý
Kết quả kiểm định hiệu ứng trung gian bằng phương pháp Bootstrapping được trình bày tại Bảng 5 cho thấy có 4/5 mối quan hệ trung gian có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, Nhận thức kiểm soát hành vi (NTKSHV) đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp (GDKN) và Ý định khởi nghiệp (YDKN) (β = 0,083; t = 2,110; p = 0,035). Tương tự, Chuẩn chủ quan (CCQ) cũng thể hiện vai trò trung gian có ý nghĩa trong mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp (β = 0,093; t = 2,782; p = 0,005). Bên cạnh đó, Sự tự tin về tính khả thi (STT) đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Nguồn vốn (NV) và Ý định khởi nghiệp (β = 0,104; t = 3,431; p = 0,001), cũng như giữa Đặc điểm tính cách (TC) và Ý định khởi nghiệp (β = 0,195; t = 5,126; p < 0,001). Trong số các hiệu ứng trung gian được kiểm định, mối quan hệ TC → STT → YDKN có cường độ tác động gián tiếp lớn nhất.
Ngược lại, Thái độ đối với khởi nghiệp (TD) không đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa Giáo dục khởi nghiệp và Ý định khởi nghiệp (β = 0,035; t = 0,997; p = 0,319), do giá trị p lớn hơn 0,05. Như vậy, kết quả nghiên cứu xác nhận 4 hiệu ứng trung gian được hỗ trợ, trong khi hiệu ứng trung gian của thái độ đối với khởi nghiệp không được chứng minh.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Kết luận
Kết quả kiểm định cho thấy 6/7 giả thuyết được chấp nhận. Trong đó, Sự tự tin về tính khả thi là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến Ý định khởi nghiệp, tiếp theo là Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. Ngoài ra, Giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực đến Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Thái độ đối với khởi nghiệp; đồng thời Đặc điểm tính cách và Nguồn vốn góp phần nâng cao Sự tự tin về tính khả thi, qua đó thúc đẩy Ý định khởi nghiệp. Kết quả kiểm định cũng xác nhận vai trò trung gian của Chuẩn chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Sự tự tin về tính khả thi trong mô hình nghiên cứu.
Hàm ý quản trị
Kết quả nghiên cứu cho thấy Sự tự tin về tính khả thi là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến Ý định khởi nghiệp. Do đó, các trường đại học cần ưu tiên xây dựng những chương trình đào tạo theo hướng trải nghiệm, như phát triển dự án khởi nghiệp, cuộc thi ý tưởng kinh doanh, chương trình cố vấn, hoạt động thực tập tại doanh nghiệp khởi nghiệp và vườn ươm doanh nghiệp. Những hoạt động này giúp sinh viên tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực giải quyết vấn đề và gia tăng niềm tin vào khả năng khởi nghiệp của bản thân.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy Giáo dục khởi nghiệp không tác động trực tiếp mà ảnh hưởng gián tiếp đến Ý định khởi nghiệp thông qua Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi. Vì vậy, các cơ sở giáo dục đại học cần đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường thực hành, học tập dựa trên dự án, kết nối doanh nghiệp và khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động đổi mới sáng tạo. Đồng thời, việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp trong trường đại học với sự tham gia của doanh nghiệp, quỹ đầu tư và cựu sinh viên khởi nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của giáo dục khởi nghiệp.
Bên cạnh đó, Chuẩn chủ quan được xác định là một trong những yếu tố thúc đẩy Ý định khởi nghiệp. Điều này hàm ý rằng các trường đại học và cơ quan quản lý cần tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, doanh nhân, cựu sinh viên và gia đình trong các hoạt động định hướng nghề nghiệp và khởi nghiệp nhằm tạo môi trường xã hội tích cực, khuyến khích sinh viên mạnh dạn lựa chọn con đường khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp.
Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng Đặc điểm tính cách và Nguồn vốn đều góp phần nâng cao Sự tự tin về tính khả thi. Do đó, bên cạnh việc phát triển các kỹ năng mềm như tư duy sáng tạo, năng lực lãnh đạo, khả năng thích ứng và chấp nhận rủi ro, các cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục cần mở rộng các chương trình hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn, kết nối với quỹ đầu tư, ngân hàng và các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp dành cho thanh niên. Việc kết hợp giữa phát triển năng lực cá nhân và hỗ trợ nguồn lực tài chính sẽ góp phần nâng cao khả năng hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của sinh viên mới ra trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational behavior and human decision processes, 50(2), 179-211.
2. Ajzen, I. (2002). Perceived Behavioral Control, Self‐Efficacy, Locus of Control, and the Theory of Planned Behavior. Journal of Applied Social Psychology, 32(4), 665-683.
3. Autio, E., H. Keeley, R., Klofsten, M., GC Parker, G., và Hay, M. (2001). Entrepreneurial intent among students in Scandinavia and in the USA. Enterprise and Innovation Management Studies, 2(2), 145-160,
4. Bae, T. J., Qian, S., Miao, C., và Fiet, J. O. (2014). The relationship between entrepreneurship education and entrepreneurial intentions: A meta-analytic review. Entrepreneurship theory and practice, 38(2), 217-254.
5. Bui, T. H. V., Nguyen, T. L. T., Tran, M. D., và Nguyen, T. A. T. (2020). Determinants influencing entrepreneurial intention among undergraduates in universities of Vietnam. The Journal of Asian Finance, Economics, and Business, 7(7), 369-378.
6. Định, N.V, và Sen, C.T. (2022). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ. Tạp chí khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh-Kinh tế và Quản trị kinh doanh, 17(2), 165-181.
7. Dong Nghi & Thien Minh (2018). Doanh nghiệp khởi nghiệp: Vẫn còn rào cản!, https://petrotimes.vn/doanh-nghiep-khoi-nghiepvan-con-rao-can-502524.html
8. Entrialgo, M., và Iglesias, V. (2016). The moderating role of entrepreneurship education on the antecedents of entrepreneurial intention. International entrepreneurship and management journal, 12(4), 1209-1232.
9. Hair, J. F., Hult, G. T. M., Ringle, C. M., & Sarstedt, M. (2022). A primer on partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM) (3rd ed.). Sage Publications.
10. Hattab, H. W. (2014). Impact of entrepreneurship education on entrepreneurial intentions of university students in Egypt. The Journal of Entrepreneurship, 23(1), 1-18.
11. Heydari, M., Xiaohu, Z., Keung, L. K., và Shang, Y. (2020). Entrepreneurial Intentions and Behaviour as the Creation of Business: Based on the Theory of Planned Behaviour Extension Evidence from Polish Universities and Entrepreneurs. Propósitos y Representaciones, 8(SPE2), 674.
12. Kolvereid, L. (1996). Organizational employment versus self-employment: Reasons for career choice intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 20(3), 23-31.
13. Krueger, N. F., Jr., & Brazeal, D. V. (1994). Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs. Entrepreneurship Theory and Practice, 18(3), 91-104.
14. Krueger Jr, N. F., Reilly, M. D., và Carsrud, A. L. (2000). Competing models of entrepreneurial intentions. Journal of business venturing, 15(5-6), 411-432.
15. Le, Q. (2007). Nghiên cứu quá trình quyết định khởi nghiệp của doanh nhân trẻ Việt Nam- thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Phát triển kinh tế, 7.
16. Le, T. N. D., & Nguyen, L. M. (2019). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khoa Quản trị kinh doanh. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cửu Long, 16&17, 24-35.
17. Liñán, F., và Chen, Y. W. (2009). Development and cross-cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship theory and practice, 33(3), 593-617.
18. Lingappa, A. K., Shah, A., và Mathew, A. O. (2020). Academic, family, and peer influence on entrepreneurial intention of engineering students. Sage Open, 10(3).
19. Maheshwari, G., và Kha, K. L. (2021). Investigating the relationship between educational support and entrepreneurial intention in Vietnam: The mediating role of entrepreneurial self-efficacy in the theory of planned behavior. The International Journal of Management Education, 100553.
20. Mwasalwiba, E. S. (2010). Entrepreneurship education: a review of its objectives, teaching methods, and impact indicators. Education+ training.
21. Nguyen C. (2018). A qualitative study of factors that influences entrepreneurial intentions among business students and small business owners. Journal of Asia Entrepreneurship and Sustainability, 14(1), 3-27.
22. Ngo, T. T. T., & Cao, V. Q. (2016). Tổng quan lý thuyết về ý định khởi nghiệp của sinh viên. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở, Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 50(5), 56-65.
23. Nguyen, C. (2021). A review of literature in entrepreneurial intention Research: Global perspectives and Vietnamese perspectives. Journal of Asia Entrepreneurship and Sustainability, 17(1), 48-84.
24. Nguyen, H. T., & Nguyen, P. T. K. (2016). Những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh. Tạp chí khoa học Trường Đại học Trà Vinh, 23, 1-9.
25. Phan, T. A., & Tran, H. Q. (2017). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 48, 96-103.
26. Phong, N. D., Thao, N. T. P., và Nguyen, N. P. (2020). Entrepreneurial intent of business students: Empirical evidence from a transitional economy. Cogent Business và Management, 7(1), 1747962.
27. Shah, I. A., Amjed, S., và Jaboob, S. (2020). The moderating role of entrepreneurship education in shaping entrepreneurial intentions. Journal of Economic Structures, 9(1), 1-15.
28. Shapero, A., và Sokol, L. (1982). The Social Dimensions of Entrepreneurship. Encyclopedia of Entrepreneurship. Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, 72-90,
29. Souitaris, V., Zerbinati, S., và Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes raise entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of learning, inspiration and resources. Journal of Business venturing, 22(4), 566-591.
30. Scott, J. W. (1991). The evidence of experience. Critical Inquiry, 17(4), 773-797.
31. Terán-Pérez, B. M., Valdez-Lafarga, C., Miranda-Félix, A., và Flores-Leal, P. (2021). Academic Entrepreneurial Intention: a study through the Theory of Planned Behavior. Nova scientia, 13(2), 1-27.
32. Thùy, C.T.N và Trúc, H.L.T. (2020). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học An Giang. Tạp chí Công Thương, 17.
33. Truong, T. D., & Nguyen, L. T. T. (2019). Một số nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, Tạp chí Công Thương, 3, 99-104.
| Ngày nhận bài: 28/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/8/2026; Ngày duyệt đăng: 10/8/2026 |
Các tin khác
Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao
Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành
Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh
Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên
Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê
Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam
Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí
Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

