Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Nghiên cứu - Trao đổi 16:22 | 27/10/2026
Chủ trương phát triển các vùng động lực trong giai đoạn tới đã được khẳng định; đồng thời các vùng động lực được kỳ vọng sẽ có đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam cho các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045.

TS. Phạm Ngọc Trụ

Học viện Chính sách và Phát triển

Email: [email protected]

Tóm tắt

Phát triển các vùng động lực là phương thức phổ biến được các quốc gia sử dụng hướng tới mục tiêu thịnh vượng. Ở giai đoạn trước, Việt Nam đã triển khai thực hiện chủ trương phát triển các vùng kinh tế trọng điểm nhưng không phát huy được tác dụng như kỳ vọng. Hướng tới mục tiêu “đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao” đề ra tại Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, một số chủ trương, chính sách đã ban hành đều thống nhất nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển các vùng động lực. Tuy nhiên, các vấn đề như: vùng động lực được hiểu như thế nào, vai trò của vùng động lực đối với phát triển quốc gia và giải pháp phát triển vùng động lực ra sao… còn nhiều nhiều điểm chưa rõ. Trước bối cảnh như vậy, tác giả đã dành công sức nghiên cứu với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên để thực hiện thành công chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển các vùng động lực ở Việt Nam.

Từ khóa: Vùng động lực, vai trò của vùng động lực, nước phát triển có thu nhập cao.

Abstract

Developing dynamic growth regions is a widespread strategy employed by nations seeking economic prosperity. In previous periods, Vietnam implemented policies to develop key economic regions; however, these initiatives fell short of expected outcomes. Towards the goal set at the 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam, namely, “to become a developing country with modern industry and upper-middle income by 2030, and to realize the vision of becoming a developed, high-income country by 2045”, several recently enacted policies and directives consistently emphasize the imperative to develop dynamic growth regions. Nevertheless, several critical questions remain ambiguous, including how dynamic growth regions should be defined, through what mechanisms they should be developed, and what specific measures ought to be implemented. Against this backdrop, this study examines these issues to provide theoretical and empirical clarity, thereby contributing to the successful implementation of the Politburo's policy on developing dynamic growth regions in Vietnam.

Keywords: Dynamic growth region, role of dynamic growth region.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển các vùng động lực (VĐL) (hoặc các lãnh thổ có tên gọi khác nhưng bản chất, vai trò tương tự VĐL) là phương thức phổ biến được các quốc gia sử dụng hướng tới mục tiêu thịnh vượng. Thực tiễn phát triển tại các quốc gia như Pháp (vùng Thủ đô - Île-de-France), Nhật Bản (vùng Thủ đô Tokyo) hay Trung Quốc (vùng Quảng Đông-Hồng Kông-Ma Cao, vùng Đồng bằng sông Dương Tử, vùng Bắc Kinh-Thiên Tân-Hà Bắc…) cho thấy hiệu quả rõ rệt của các VĐL. Tại Việt Nam, trong giai đoạn từ 1997-2023 đã triển khai thực hiện chủ trương phát triển các vùng kinh tế trọng điểm (Phía Bắc, Phía Nam, Miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long) với phạm vi không gian được mở rộng (gồm 24/63 tỉnh, thành phố, chiếm 27,5% diện tích và 53,3% dân số cả nước – số liệu năm 2023). Tuy nhiên, hiệu quả phát triển của các vùng kinh tế trọng điểm chưa đạt như kỳ vọng.

Đại hội XIV của Đảng đã xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2026-2030 đạt từ 10%/năm trở lên. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trên, Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIV đã xác định nhiệm vụ “Có cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để phát triển các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm, quy mô lớn như: Kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các vùng động lực, cực tăng trưởng…”. Tiếp đó, tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 27) đã khẳng định mục tiêu “…Phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan tỏa của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng…”. Đồng thời, trong nội dung về xác định nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm đã xác định “…Tiếp tục đầu tư để hình thành các vùng động lực quốc gia với định hướng và cơ cấu kinh tế phù hợp để dẫn dắt phát triển vùng và các địa phương” và “…hoàn thiện đồng bộ thể chế nhằm xác lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó có các cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để phát triển các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các vùng động lực,…”.

Như vậy, chủ trương phát triển các VĐL trong giai đoạn tới đã được khẳng định; đồng thời các VĐL được kỳ vọng sẽ có đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam cho các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045. Tuy vậy, việc phát triển các VĐL trong điều kiện Việt Nam vẫn còn nhiều điểm cần làm sáng tỏ cả về lý luận (quan niệm, vai trò, các yếu tố hình thành và tác động tới sự phát triển, chỉ tiêu đánh giá,…) và thực tiễn (phạm vi không gian, vai trò, giải pháp phát triển VĐL ở Việt Nam,…). Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả làm rõ một số vấn đề lý luận về VĐL, đánh giá thực trạng vai trò ở 02 VĐL quan trọng hàng đầu tại Việt Nam (Vùng động lực phía Bắc và VĐL phía Nam) và đề xuất các giải pháp phát triển VĐL trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Sự hình thành VĐL dựa trên cơ sở của tổng hòa của một số lý thuyết gắn với tổ chức không gian kinh tế, trong đó nổi bật là Lý thuyết về cực tăng trưởng-cực phát triển của F. Perroux (1950), Lý thuyết vị trí trung tâm của W. Christaller và A. Losch, Lý thuyết luận vị công nghiệp của A. Webber… Qua tổng quan các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước cho thấy các công trình đã công bố tập trung nghiên cứu về các hình thức có vai trò khá tương đồng nhưng thường gắn với quy mô của 01 đô thị là “cực tăng trưởng (growth pole)” hoặc “trung tâm tăng trưởng (growth center)”. Các tác giả nước ngoài nổi bật nghiên cứu về chủ đề này như F. Perroux (1950), Darwent (1969), John B. Parr (1973), Benjamin Higgins và Donald J. Savoie (1998), Fujita M, P. Krugman và A. J. Venables (2000)… Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến lĩnh vực VĐL chủ yếu là các nghiên cứu ứng dụng về tổ chức lãnh thổ kinh tế của Việt Nam/vùng kinh tế của Việt Nam của các tác giả như Lê Bá Thảo (1994), Ngô Doãn Vịnh (2007), Ngô Thúy Quỳnh (2010), Trần Thị Thu Hương (2018) và một số nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũ).

Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở dữ liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu được tác giả khai thác từ Niên giám thống kê của cả nước và các tỉnh, thành phố năm 2025; Báo cáo tình hình thu hút FDI của Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE); Thông cáo báo chí của Cục Thống kê về kinh tế số; Số liệu của Cục Hải quan; Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2026…

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu bao gồm: (i) Tổng hợp các tài liệu liên quan; (ii) Phân tích thống kê; (iii) Dự báo kinh tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nhận diện vùng động lực

Quan niệm

Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, tác giả cho rằng “Vùng động lực là lãnh thổ ước lệ, hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi, phát triển dẫn đầu về công nghiệp, dịch vụ ở trình độ hiện đại hóa cao, giữ vai trò thúc đẩy và lan tỏa sự phát triển cho cả vùng lớn và cho cả nước”.

Đặc điểm vùng động lực

(i)- VĐL là phần lãnh thổ (trục phát triển) tập trung các nhân tố mang tính động lực phát triển cho quốc gia và vùng lớn (có công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao, có khả năng sáng tạo các tiến bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo và có sức thu hút đầu tư quy mô lớn,…) nhờ có lực lượng sản xuất hiện đại, có hình thức tổ chức phát triển tiên tiến, giữ vai trò quyết định trong thúc đẩy, lan tỏa và đảm bảo an toàn cho sự phát triển của vùng lớn cũng như của cả nước.

(ii)- VĐL giữ vai trò đầu tàu tham gia hội nhập quốc tế, giảm thiểu các bất lợi trong phát triển khi điều kiện bất định của thế giới thay đổi khó lường.

(iii)- Ranh giới VĐL không bất biến mà có sự thay đổi theo thời gian tương ứng xu hướng, cường độ lan tỏa phát triển;

(iv)- Để phát triển và phát huy tối đa vai trò của mình, các chính sách phát triển VĐL phải được pháp lý hóa và công khai rộng rãi để phần lãnh thổ còn lại có kế hoạch và hành động phối hợp cùng phát triển.

Vai trò của 02 vùng động lực (phía Bắc và phía Nam) giai đoạn 2021-2025 đối với sự phát triển của Việt Nam

Phạm vi không gian và quy mô dân số của 02 vùng động lực

Theo ranh giới xác định tại Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 và Nghị quyết số 27 của Bộ Chính trị: (i) VĐL phía Bắc bao gồm Thủ đô Hà Nội và 7 tỉnh, thành phố (Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Ninh) với Thành phố Hà Nội là cực tăng trưởng. Theo phạm vi ranh giới đó, VĐL phía Bắc có diện tích 41.794,5 km2 và dân số 30,48 triệu người (năm 2025), tương đương với 12,58% diện tích và 29,78% dân số cả nước. (ii) VĐL phía Nam bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh với Thành phố Hồ Chí Minh là cực tăng trưởng; vùng có diện tích 28.058,5 km2 và dân số 21,28 triệu người (năm 2025), tương đương với 8,45% diện tích và 20,79% dân số cả nước. Như vậy, 2 VĐL có tổng diện tích tự nhiên 69.853,0 km2 (chiếm 21,03% cả nước) và dân số 51,76 triệu người (chiếm 50,58% cả nước).

Trên thực tế, ranh giới của các VĐL mang tính ước lệ, thường bám sát với các đô thị hạt nhân (hay cực tăng trưởng) và các vệ tinh chứ không hoàn toàn bao trùm theo giới hạn địa giới hành chính cấp Tỉnh. Tuy nhiên, để thuận lợi trong phân tích, đối sánh dữ liệu, nghiên cứu này sử dụng các thống kê theo đơn vị hành chính cấp Tỉnh.

Hai vùng kinh tế động lực có đóng góp chủ yếu vào quy mô và tốc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2021-2025

Phát huy các lợi thế so sánh về nguồn lực phát triển so với các địa phương khác trong cả nước, hai VĐL tăng trưởng là địa bàn tập trung những trung tâm kinh tế lớn nhất, chiếm khoảng 2/3 quy mô GDP của cả nước ở giai đoạn 2020-2025, trong đó riêng tỷ trọng của VĐL phía Bắc có xu hướng tăng (từ 34,1% lên 34,9%) trong khi tỷ trọng của VĐL phía Nam có dấu hiệu giảm nhẹ (từ 33,6% xuống 31,1%).

Bảng 1: Tỷ trọng 02 VĐL trong quy mô GDP Việt Nam

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Nguồn: Xử lý từ Niên giám thống kê các tỉnh, thành phố và cả nước năm 2025

Với quy mô chiếm ưu thế cùng với 9/11 địa phương đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với mức tăng trưởng bình quân của cả nước (6,20%) nên 02 VĐL tăng trưởng giữ vai trò quyết định nhất đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025 khi đóng góp tới 74,4% tăng trưởng (tương đương với 4,61/6,20 điểm phần trăm tăng trưởng của cả nước). Trong đó, VĐL phía Bắc đóng vai trò quan trọng hơn hẳn VĐL phía Nam (46,9% so với 27,5%) nhờ vào khả năng phục hồi tăng trưởng nhanh sau đại dịch Covid-19 trong khi cực tăng trưởng Tp. Hồ Chí Minh ở VĐL phía Nam lại có tốc độ tăng trưởng khá thấp (chỉ 4,25%/năm).

Bảng 2: Đóng góp của 02 VĐL trong gia tăng quy mô GDP Việt Nam

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao
Nguồn: Xử lý từ Niên giám thống kê các tỉnh, thành phố và cả nước năm 2025

Hai vùng kinh tế động lực đóng góp quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, gia tăng tỷ trọng kinh tế số

Trong cơ cấu kinh tế của 02 VĐL giai đoạn 2020-2025, khu vực phi nông nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối, khu vực nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ và có xu hướng giảm (từ 6,45% xuống 5,29%). Với quy mô kinh tế chiếm tỷ trọng lớn, xu hướng chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp ở 2 VĐL có đóng góp quan trọng vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, đặc biệt là xu hướng giảm tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp (từ 12,66% xuống 11,65%).

Hai VĐL tăng trưởng cũng đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy hiện đại hóa tại Việt Nam thông qua tăng cường thực hiện 02 nội dung chính của hiện đại hóa: (i) Hiện đại hóa trong các hoạt động phát triển (hiện đại hóa các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng), và (ii) Hiện đại hóa trong quản lý các hoạt động phát triển (về chính sách phát triển, tổ chức phát triển kinh tế - xã hội, giám sát, kiểm soát các hoạt động phát triển và công khai thông tin quản lý). Trình độ và tốc độ hiện đại hóa của 2 VĐL có tác dụng lan tỏa mạnh mẽ hiện đại hóa, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025. Đóng góp vào hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ của 02 VĐL được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, khía cạnh, trong đó có đóng góp vào thúc đẩy kinh tế số của cả nước.

Năm 2025, giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của Việt Nam đạt 14,02% (riêng kinh tế số lõi đạt 8,13%), tương đương với quy mô đạt 1.801,2 nghìn tỷ đồng (riêng kinh tế số lõi đạt 1.081,8 nghìn tỷ đồng). 02 vùng kinh tế trọng điểm là địa bàn tập trung phần lớn các ngành kinh tế số của cả nước, chiếm 77,74% giá trị tăng thêm kinh tế số (và 88,31% kinh tế số lõi).

Bảng 3: Đóng góp của 02 VĐL trong giá trị tăng thêm kinh tế số của Việt Nam

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Nguồn: xử lý từ Niên giám thống kê các tỉnh năm 2025 và Thông cáo báo chí “Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025” của Cục Thống kê ngày 05/01/2026.

Thu hút dòng FDI có chất lượng, góp phần nâng cao độ mở nền kinh tế

Với lợi thế cạnh tranh với các địa phương còn lại về vị trí địa lý và môi trường đầu tư (hạ tầng kết nối, nguồn nhân lực, thị trường…), 02 vùng động lực tăng trưởng là địa bàn thu hút chủ yếu đối với dòng FDI vào Việt Nam: tính lũy kế đến hết ngày 31/12/2025 vốn FDI đăng ký đạt 423,7 tỷ USD (VĐL phía Bắc đạt 210,9 tỷ USD và VĐL phía Nam đạt 212,8 tỷ USD), chiếm 80,00% tổng vốn FDI các dự án còn hiệu lực tại Việt Nam. Điều đáng chú ý là bên cạnh các dự án FDI thâm dụng lao động, hai cực tăng trưởng Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh là địa bàn thu hút phần lớn dự án FDI có chất lượng (hàm lượng khoa học công nghệ cao) của cả nước. Tại Thủ đô Hà Nội, tính riêng trong 9 tháng đầu năm 2026, trong tổng số 4,067 tỷ USD thì có đến 2,243 tỷ USD đầu tư vào các hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ (chiếm 55,2% tổng vốn FDI). Điều này cho thấy tiềm lực về khoa học công nghệ (đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ sở vật chất, hạ tầng hiện đại) cùng những chuyển biến về cơ chế, chính sách của các địa phương ở 02 VĐL đã phát huy hiệu quả.

Khu vực FDI có vai trò đặc biệt quan trọng trong đóng góp vào độ mở của nền kinh tế cả nước. Vì vậy, với việc thu hút tới 80% tổng vốn FDI vào Việt Nam, 02 VĐL đồng thời là địa bàn vai trò quyết định trong độ mở của nền kinh tế. Tính riêng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của 02 VĐL đạt 414,8 tỷ USD (chiếm 87,44% cả nước) và tổng kim ngạch đạt 824,1 tỷ USD (chiếm 88,68% cả nước). Với tỷ trọng ưu thế tuyệt đối như trên, 2 VĐL là địa bàn đóng góp chủ yếu vào độ mở đạt 92,3% (tính theo kim ngạch xuất khẩu/GDP) hoặc 180,8% (tính theo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP) của cả nước.

Đóng góp vào thúc đẩy đô thị hóa, giải quyết việc làm và nâng cao năng suất lao động

Trong giai đoạn 2021-2025 quy mô dân số thành thị của cả nước tăng được 3,645 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa tăng từ 36,80 lên 38,64%. Với việc tập trung các đô thị lớn của cả nước và tăng trưởng kinh tế nhanh, 02 VĐL có đóng góp quyết định vào tốc độ đô thị hóa của cả nước ở giai đoạn 2021-2025: tỷ trọng dân thành thị chiếm 64,45% dân thành thị và đóng góp 86,3% quy mô dân thành thị gia tăng (riêng VĐL phía Bắc đóng góp 67,7%) của cả nước.

Về việc làm, năm 2025, tổng số lao động đang làm việc tại 02 VĐL là 26,545 triệu người (chiếm 50,6% cả nước); trong giai đoạn 2021-2025 02 VĐL đã tạo thêm 823,675 nghìn việc làm mới trong khi tính phạm vi toàn nền kinh tế Việt Nam thì số lượng lao động đang làm việc giảm 53,1 nghìn lao động. Xét về năng suất lao động, bình quân năng suất lao động của 02 VĐL cao và có xu hướng tăng nhanh, từ 211,7 triệu đồng/người (năm 2020, giá hiện hành) lên 319,3 triệu đồng/người (năm 2025), góp phần nâng năng suất lao động bình quân cả nước tăng tương ứng từ 150,1 triệu đồng/người lên 244,8 triệu đồng/người.

Bảng 4: So sánh năng suất lao động (giá hiện hành) của 02 vùng động lực

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Nguồn: Xử lý từ Niên giám thống kê các tỉnh, thành phố và cả nước năm 2025

BỐI CẢNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP HIỆN THỰC HÓA TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN VÙNG ĐỘNG LỰC

Bối cảnh

Cơ hội

(i) Xu hướng tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thương mại toàn cầu, đặc biệt là xu hướng tăng tỷ trọng của các ngành hiện đại (kinh tế số) và tăng trưởng ở nhóm hàng công nghệ cao như chất bán dẫn, thiết bị điện tử và máy chủ phục vụ trí tuệ nhân tạo,… là cơ hội để các VĐL phát huy lợi thế là cửa ngõ kết nối Việt Nam với thế giới (bằng đường biển, đường bộ và đường hàng không), thu hút đầu tư (nhất là FDI), nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ sở vật chất và hạ tầng logistics hiện đại,… để khẳng định vai trò động lực trong thúc đẩy hiện đại hóa nền kinh tế nói riêng và sự phát triển của Việt Nam nói chung.

(ii) Mặc dù hiện nay gần như chưa có chính sách riêng đối với phát triển VĐL, song các chủ trương của Đảng, chính sách phát triển trọng tâm của Nhà nước trong giai đoạn tới đã đặt vai trò của các VĐL vào vị trí trung tâm nhờ vào nguồn lực hiện có và triển vọng đáp ứng của các vùng này trong phát triển và lan tỏa phát triển, đặc biệt là VĐL phía Bắc và VĐL phía Nam: phát triển kinh tế tư nhân, phát triển kết cấu hạ tầng, khoa học, công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao, tăng trưởng xanh, khai thác nguồn lực đất đai hiệu quả hơn…

Thách thức

(i) Sức ép cạnh tranh với các địa phương khác trong cả nước (đặc biệt là ở một số địa phương ở duyên hải miền Trung) và với khu vực, thế giới do kinh tế ở 02 VĐL có độ mở lớn, mức độ hội nhập sâu rộng, quốc tế hóa mạnh. Chính vì vậy, các tác động tiêu cực từ bối cảnh quốc tế (xung đột địa chính trị, khủng hoảng năng lượng, rủi ro hàng hải, xu hướng phân mảnh thương mại, gia tăng thuế quan;

(ii) Sức ép do quá tải: các vấn đề về hạ tầng giao thông, nhà ở, ngập lụt… ở các đô thị- các cực tăng trưởng, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là những thách thức nội tại cản trở sự phát triển của 02 VĐL. Trong giai đoạn 2025-2026 tuy đã có những chuyển biến mang tính đột phá cả về chủ trương, định hướng, quy hoạch và triển khai cụ thể hóa thông qua việc khánh thành và khởi công hàng loạt dự án nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn trên song nhiều dự án trong đó chỉ có thể phát huy vai trò vào cuối giai đoạn 2026-2030 vì vậy các đóng góp lan tỏa còn khá hạn chế (ngoại trừ việc đóng góp vào tăng trưởng thông qua nhân tố tăng vốn đầu tư).

Giải pháp

Để phát triển các VĐL trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cần ưu tiên thực thi đồng bộ 02 giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế theo hướng mở, ưu tiên phát triển 02 vùng động lực gắn với trách nhiệm đóng góp trong chiến lược phát triển “phi cân đối”

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về VĐL nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng đối với việc phát triển các lãnh thổ này. Tháng 7-8/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định thành lập Hội đồng điều phối vùng, Quy chế hoạt động của Hội đồng điều phối vùng ở 06 vùng kinh tế - xã hội. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng điều phối vùng đã được quy định khá cụ thể, tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động (giai đoạn 2023-2025) còn nhiều điểm vướng mắc, chưa phát huy đầy đủ các nội dung này. Vì vậy, để thực sự phát huy vai trò đầu tàu, thúc đẩy và dẫn dắt tăng trưởng của Việt Nam của các VĐL cần xem xét xây dựng Luật về phát triển VĐL. Nội dung của Luật tập trung làm rõ về các chính sách phát triển (đặc biệt là các chính sách liên quan tới phân cấp, các chính sách ưu tiên, khuyến khích phát triển,…), bộ máy điều phối phát triển, vai trò của VĐL trong thúc đẩy tăng trưởng và lan tỏa phát triển, trách nhiệm đóng góp của VĐL trong chiến lược “phát triển phi cân đối” khi được tập trung, ưu tiên nguồn lực (so với các lãnh thổ khác). Cùng với đó, Chính phủ xem xét giao Bộ Tài chính là đầu mối xây dựng Đề án phát triển đối với từng VĐL trình Thủ tướng phê duyệt nhằm hoàn thiện hơn hành lang pháp lý cho phát triển VĐL. Đề án cần tập trung vào làm rõ các vấn đề lớn có liên quan tới phát triển VĐL: phạm vi vùng “lõi” gắn với các cực tăng trưởng; mô hình tăng trưởng gắn với các nguồn lực, động lực tăng trưởng có chất lượng; chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; chính sách khuyến khích thu hút đầu tư gắn với chương trình hành động xúc tiến đầu tư,…

Thứ hai, đồng bộ và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, thúc đẩy liên kết vùng, tăng cường hiệu ứng lan tỏa phát triển của các vùng động lực

Thúc đẩy mở rộng, hiện đại hóa và khả năng kết nối mạng lưới kết cấu hạ tầng, đặc biệt là giao thông vận tải, năng lượng, thông tin… có ý nghĩa nền tảng, đặc biệt quan trọng đảm bảo tốc độ tăng trưởng cả trong ngắn hạn và tác động lan tỏa dài hạn của 02 VĐL. Ngoài các dự án về đường cao tốc, đường sắt, cảng hàng không được đề cập tới tại Nghị quyết số 27 đối với vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, việc ưu tiên phát triển hệ thống cảng biển tại Hải Phòng, Tp. Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với 02 VĐL trong vai trò là cửa ngõ giao thương hàng hóa, đóng góp quyết định vào độ mở nền kinh tế của cả nước. Trong liên kết kinh tế, mạng lưới hạ tầng đồng bộ, hiện đại và kết nối thuận tiện có ý nghĩa quan trọng trong việc lan tỏa phát triển thông qua thúc đẩy chuyên môn hóa, phân công hợp tác giữa 02 VĐL với các địa phương còn lại, tránh phát triển cục bộ địa phương theo một cơ cấu khép kín cũng như giảm thiểu tình trạng đầu tư trùng lặp, manh mún về hạ tầng (cảng biển, trung tâm logistics,…).

KẾT LUẬN

Kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia cũng như thực tiễn phát triển của 02 lãnh thổ được xác định là VĐL của Việt Nam (xét ở giai đoạn 2021-2025) cho thấy trong quá trình phát triển, các VĐL giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của quốc gia. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh hiện thực hóa chủ trương phát triển VĐL của Bộ Chính trị trong giai đoạn tới nhằm giúp Việt Nam thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước lần lượt vào năm 2030 và 2045. Để phát triển nhanh và bền vững đồng thời phát huy tối đa vai trò của các VĐL cần ưu tiên nhanh chóng hoàn thiện thể chế phát triển (nhằm làm sáng tỏ phương án và lộ trình phát triển, chính sách đặc thù đối với phát triển VĐL) cũng như đầu tư đồng bộ và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng trong VĐL cũng như liên kết với các lãnh thổ xung quanh, khu vực và quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

2. Chính phủ (2025). Nghị quyết số 306/NQ-CP ngày 05/10/2025 của Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050.

3. Cục Hải quan (2026). Số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu theo địa phương.

4. Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí “Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025” ngày 05/01/2026.

5. Cục Thống kê (2026). Niên giám Thống kê Việt Nam 2025. Nxb Kinh tế-Tài chính, Hà Nội.

6. Cục Thống kê (2026). Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2026. Nxb Kinh tế-Tài chính, Hà Nội

7. Thống kê 11 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Phú Thọ, Tp. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai) (2026). Niên giám thống kê năm 2025. Nxb Kinh tế-Tài chính, Hà Nội.

8. Trần Thị Thu Hương (2019). Đề tài “Chính sách phát triển vùng kinh tế động lực trong điều kiện mới ở Việt Nam” (Đề tài cấp Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Ngày nhận bài: 10/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 26/10/2026

Các tin khác

Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Doanh nghiệp spin-off là hướng đi tiềm năng để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, song việc triển khai tại Việt Nam còn vướng mắc về pháp lý, tài chính và năng lực vận hành. Trên cơ sở phân tích thực tiễn và tham vấn chuyên gia, bài viết đề xuất quy trình phát triển doanh nghiệp spin-off và các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng tại trường đại học đa ngành.
Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng công nghệ viễn thám, bài viết phân tích biến động nhiệt độ bề mặt tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2024 và mối quan hệ giữa nhiệt độ bề mặt, độ che phủ thực vật với một số chỉ tiêu phát triển kinh tế đô thị. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp hài hòa tăng trưởng kinh tế với kiểm soát hiệu ứng đảo nhiệt và phát triển đô thị bền vững.
Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Hồ sơ kế toán số được hình thành từ hóa đơn điện tử, phần mềm, dữ liệu ngân hàng và hệ thống quản trị tích hợp. Vì vậy, chất lượng bàn giao ảnh hưởng đến khả năng truy vết, tính liên tục của công việc và độ tin cậy của thông tin kế toán.
Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Quản lý tài nguyên rừng toàn cầu đang đứng trước một ngã rẽ mang tính quyết định, khi những áp lực về bảo vệ hệ sinh thái, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế cho các cộng đồng phụ thuộc vào rừng đang đan xen phức tạp.
Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Trong giáo dục đại học, tài sản thương hiệu ngày càng được quan tâm khi các trường đại học phải cạnh tranh trong thu hút người học và khẳng định vị thế. Việc lựa chọn trường không chỉ dựa trên chương trình đào tạo và học phí mà còn liên quan đến danh tiếng, môi trường học tập, triển vọng nghề nghiệp và những giá trị mà người học nhận được.
Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Bài viết kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa Bộ chỉ số DTI và Chỉ số PCI của các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2020-2024, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số tại các địa phương.
Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Trong bối cảnh tự chủ đại học tại Việt Nam, sinh viên không chỉ quan tâm đến khả năng chi trả mà còn quan tâm đến chất lượng nhận được và tính hợp lý của mức phí. Vì vậy, vấn đề trọng tâm không chỉ là sinh viên có thể trả bao nhiêu, mà là điều gì khiến họ sẵn lòng duy trì hoặc gia tăng cam kết tài chính với cơ sở đào tạo.
Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Sự phát triển của xe điện đang được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy giao thông bền vững và giảm các tác động môi trường của hoạt động vận tải. Tuy nhiên, sự mở rộng của thị trường xe điện không chỉ phụ thuộc vào đặc tính công nghệ hay giá cả sản phẩm mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ các yếu tố tâm lý – xã hội và môi trường chính sách
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Giáo dục đại học Việt Nam đa dạng về trường, chương trình và ngành học đào tạo, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh. Người học có thể đánh giá và điều chỉnh lựa chọn ngành học.
Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin carbon: Vai trò trung gian của năng lực phân tích dữ liệu kế toán

Các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin carbon: Vai trò trung gian của năng lực phân tích dữ liệu kế toán

Dựa trên Lý thuyết Dựa trên Nguồn lực và Lý thuyết Năng lực động, nghiên cứu xem xét tác động của Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp, Lãnh đạo xanh và Thực hành kế toán carbon đến Chất lượng thông tin carbon, với năng lực Phân tích dữ liệu kế toán là biến trung gian.