Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành
Phan Văn Đàn
Trường Đại học Bạc Liêu; Email: [email protected]
Huỳnh Văn Bỉnh
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]
Phan Anh Tú
Email: [email protected]
Châu Thị Lệ Duyên (Tác giả liên hệ)
Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ; Email: [email protected]
Huỳnh Bảo Trang
Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích và đề xuất giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành. Đây là mô hình doanh nghiệp được hình thành nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ từ trường đại học. Trên cơ sở tổng hợp tài liệu và tham vấn 12 chuyên gia, nghiên cứu đề xuất quy trình phát triển doanh nghiệp spin-off gồm 9 giai đoạn, từ hỗ trợ nghiên cứu, hình thành ý tưởng kinh doanh đến đánh giá hiệu quả hoạt động và tái đầu tư. Đồng thời, nghiên cứu xác định 4 lĩnh vực có tiềm năng phát triển doanh nghiệp spin-off, gồm: khoa học kỹ thuật, công nghệ thực phẩm, nuôi trồng thủy sản và xử lý môi trường. Các đề xuất nhấn mạnh sự kết hợp giữa năng lực nghiên cứu, nhu cầu thị trường, bảo hộ tài sản trí tuệ, nguồn lực tài chính và cơ chế quản trị phù hợp.
Từ khóa: spin-off, đổi mới sáng tạo, đại học đa ngành
Abstract
This study analyzes and proposes solutions for the development of spin-off enterprises as part of innovation-driven entrepreneurship at multidisciplinary universities. These enterprises are established to commercialize research outcomes and transfer technologies developed by universities. Based on a literature review and consultations with 12 experts, the study proposes a nine-stage process for spin-off enterprise development, ranging from research support and business idea generation to performance evaluation and reinvestment. The study also identifies four areas with potential for spin-off development: engineering and technology, food technology, aquaculture, and environmental treatment. The proposals emphasize integrating research capabilities, market demand, intellectual property protection, financial resources, and appropriate governance mechanisms.
Keywords: Spin-off enterprises, innovation, multidisciplinary universities
GIỚI THIỆU
Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các cơ sở giáo dục được thúc đẩy thông qua các chính sách như Quyết định số 844/QĐ-TTg về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (Thủ tướng Chính phủ, 2016), Quyết định số 1665/QĐ-TTg về hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp (Thủ tướng Chính phủ, 2017) và Nghị định số 94/2020/NĐ-CP về cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (Chính phủ, 2020). Trong bối cảnh đó, các trường đại học đa ngành cần xây dựng chiến lược hỗ trợ khởi nghiệp gắn với thế mạnh đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên, hoạt động khởi nghiệp trong trường đại học còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức thị trường, năng lực quản trị, tài chính và khả năng huy động vốn; ý tưởng, kế hoạch kinh doanh chưa phù hợp và môi trường hỗ trợ chưa đáp ứng nhu cầu (Phương và Phong, 2019). Điều này đặt ra yêu cầu phát triển hệ sinh thái có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp từ hình thành ý tưởng đến tổ chức kinh doanh.
Doanh nghiệp spin-off được thành lập trên cơ sở khai thác công nghệ và kết quả nghiên cứu từ trường đại học là một hướng đi tiềm năng (Wright và cộng sự, 2004). Mô hình này góp phần thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tạo nguồn thu cho nhà trường và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp của người học, giảng viên, nhà khoa học (Carayannis và cộng sự, 2018). Kinh nghiệm tại một số quốc gia cho thấy triển vọng phát triển của doanh nghiệp spin-off (Vân, 2024). Tại Việt Nam, việc triển khai còn gặp trở ngại về khung pháp lý (Hằng, 2019), cơ chế tài chính, năng lực vận hành và sự hài hòa lợi ích giữa nhà trường, nhà khoa học và nhà đầu tư.
Trên cơ sở phân tích điều kiện thực tiễn và tham vấn chuyên gia, nghiên cứu đề xuất quy trình phát triển doanh nghiệp spin-off và các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng tại trường đại học đa ngành. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo cho các trường trong xây dựng chiến lược thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Doanh nghiệp spin-off
Tại Việt Nam, thuật ngữ spin-off đã xuất hiện từ những năm 1990 tại Viện Khoa học Việt Nam (Quat và cộng sự, 2021). Doanh nghiệp spin-off khởi nguồn từ trường đại học, tổ chức sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học của nhà trường (Thống, 2022). Đây là phương thức thương mại hóa công nghệ, tạo điều kiện để nhà khoa học và nhà trường khai thác giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ (Thăng và cộng sự, 2020). Mô hình này còn góp phần thu hút, giữ chân nhà khoa học và bổ sung nguồn lực phát triển phòng thí nghiệm, nâng cấp trang thiết bị nghiên cứu (Cai, 2004).
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là quá trình phát triển hoạt động kinh doanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ có tính sáng tạo, với tiềm năng mở rộng quy mô và tăng trưởng nhanh (Lan và Nhung, 2023). Hoạt động này có thể diễn ra từ trước khi doanh nghiệp được thành lập, khi cá nhân hoặc tổ chức đang nghiên cứu, phát triển sản phẩm và xây dựng kế hoạch kinh doanh (Trang và Hải, 2019).
Quá trình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gồm 3 giai đoạn chính: hình thành ý tưởng, phát triển sản phẩm và tăng trưởng. Trường đại học đa ngành có vai trò hỗ trợ xuyên suốt quá trình này thông qua đào tạo, nghiên cứu và kết nối nguồn lực (Phương và Phong, 2019).
Đại học đa ngành
Đại học đa ngành đang ngày càng phổ biến trên thế giới, xuất phát từ các quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ cho đến các nước thuộc khu vực châu Á (Tân và Tuân, 2023). Đại học đa ngành là một cơ sở giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, đào tạo bậc đại học và sau đại học, đồng thời trường có thẩm quyền cấp bằng trong nhiều lĩnh vực học thuật khác nhau (Bozeman và Boardman, 2003).
Một đại học đa ngành khác với một trường đại học thông thường về quy mô lớn, chương trình đào tạo; ngoài bằng cử nhân (kỹ sư), trường có thể cấp văn bằng sau đại học, đa dạng các chứng chỉ và nghiệp vụ (Tân và Tuân, 2023). Đại học đa ngành có ưu thế về nghiên cứu khoa học và trách nhiệm xã hội, bởi lẽ ngày nay các công trình nghiên cứu lớn đều mang tính liên ngành, tác động mạnh đến kinh tế, xã hội và môi trường. Hơn nữa, đại học đa ngành sẽ thuận lợi hơn trong việc thích ứng với những biến động về nhu cầu nghề nghiệp và điều kiện khởi nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tham vấn ý kiến từ 12 chuyên gia trong những lĩnh vực có liên quan mật thiết đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp spin-off và đại học đa ngành. Ý kiến chuyên gia được sử dụng để làm rõ điều kiện triển khai, xem xét tính khả thi và đề xuất giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off tại trường đại học đa ngành.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại các trường đại học ở Việt Nam cần chú trọng 2 hướng liên kết: (1) giữa doanh nghiệp, viện/trường và cộng đồng; (2) giữa kết quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng quy trình công nghệ và sản xuất thử nghiệm. Các liên kết này giúp kết nối năng lực nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, tạo điều kiện đưa sản phẩm ra thị trường.
Trên cơ sở kinh nghiệm từ các doanh nghiệp spin-off, tổng hợp lý thuyết, tài liệu và kết quả tham vấn chuyên gia, nhóm tác giả đề xuất quy trình phát triển doanh nghiệp spin-off tại trường đại học đa ngành gồm 9 giai đoạn (Hình).
Hình: Quy trình ứng dụng mô hình doanh nghiệp spin-off tại trường đại học đa ngành
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, 2024
Giai đoạn 1: Hỗ trợ nghiên cứu và hình thành ý tưởng kinh doanh
Trường đại học phối hợp với trung tâm nghiên cứu và nhà đầu tư để có chính sách khuyến khích, hướng dẫn và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp. Tuy nhiên, hội đồng chuyên môn bắt buộc phải kiểm soát chặt chẽ về tính khả thi, tiềm năng ứng dụng và mức độ phù hợp của nghiên cứu với thị trường. Dựa trên cơ sở đó, thực hiện thương mại hóa tại 4 đơn vị có khả năng thành lập doanh nghiệp spin-off.
Giai đoạn 2: Tiết lộ sáng chế
Khi đã tìm ra ý tưởng kinh doanh ở giai đoạn 1, nhà khoa học (có thể là học viên, cán bộ, giảng viên hoặc nghiên cứu viên) có thể dựa vào các biểu mẫu để mô tả về ý tưởng, nhưng chỉ mang tính chất tiết lộ, không công bố tất cả thông tin chính thức về ý tưởng khởi sự doanh nghiệp trong tương lai. Sau khi tiết lộ các sáng chế, Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Dịch vụ có nhiệm vụ phân công cán bộ quản lý và rà soát những thông tin liên quan đến kết quả nghiên cứu.
Giai đoạn 3: Đánh giá tính khả thi của ý tưởng khởi nghiệp
Đánh giá tính khả thi của ý tưởng khởi nghiệp được xem như một giai đoạn vô cùng quan trọng, đòi hỏi nhà khoa học phải hợp tác về mặt chuyên môn, tiến hành phân tích thực nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng trong thực tiễn, cũng như tiềm năng thương mại hóa của sản phẩm. Nhóm chuyên gia cần tiến hành nghiên cứu cung/cầu thị trường, đặc điểm khách hàng mục tiêu cho sản phẩm hoặc dịch vụ xuất phát từ công trình nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần phải đánh giá các yếu tố cạnh tranh thông qua phân tích đối thủ cạnh tranh trong ngành và đối thủ tiềm ẩn.
Giai đoạn 4: Quản lý, bảo hộ tài sản trí tuệ
Nhà trường hỗ trợ xác định chủ thể quyền, thực hiện thủ tục bảo hộ và xây dựng phương án khai thác tài sản trí tuệ. Khi thành lập doanh nghiệp spin-off, các bên cần thỏa thuận rõ việc chuyển giao hoặc cấp quyền sử dụng công nghệ, cơ chế phân chia lợi ích và trách nhiệm liên quan. Nhóm nghiên cứu tiếp tục phối hợp hoàn thiện hồ sơ đối với các sáng chế đang trong quá trình thẩm định.
Giai đoạn 5: Xây dựng kế hoạch thương mại hóa
Thiết lập kế hoạch thương mại hóa là quá trình xác định, thử nghiệm và triển khai các chiến lược kinh doanh phù hợp, nhằm chuyển đổi ý tưởng khởi nghiệp xuất phát từ các công trình nghiên cứu trở thành những sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng tiếp cận với thị trường và mang về lợi nhuận. Cụ thể, trong giai đoạn này nhà nghiên cứu cần xây dựng kế hoạch chi tiết gắn liền với mục tiêu chiến lược, tiếp cận thị trường và dự báo tài chính. Đồng thời, xác định cơ cấu tổ chức và loại hình kinh doanh thích hợp để xây dựng doanh nghiệp spin-off ở giai đoạn tiếp theo.
Giai đoạn 6: Thành lập doanh nghiệp spin-off
Tồn tại 2 vấn đề được xem là trọng tâm ở giai đoạn này: điều phối nguồn lực và thiết lập mối quan hệ giữa spin-off và tổ chức mẹ. Thực tế, quản trị kinh doanh ở một công ty công nghệ có những khác biệt rõ rệt so với quản lý phòng thí nghiệm hoặc phòng ban chuyên môn. Để phát triển một doanh nghiệp thành công không thể thiếu chuyên môn quản trị và mạng lưới mối quan hệ.
Spin-off từng bước tách rời môi trường học thuật, tiếp cận với môi trường kinh doanh. Ở cấp độ tổ chức (trường đại học và doanh nghiệp), 2 bên sẽ duy trì mối quan hệ cộng tác. Ví dụ, trường nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp; doanh nghiệp có thể khai thác công nghệ được cấp bằng sáng chế thuộc sở hữu của trường; doanh nghiệp cũng có quyền tiếp cận hệ thống trang thiết bị. Trong mối quan hệ cá nhân (trường đại học và nhà nghiên cứu), nhà nghiên cứu rất khó rời khỏi trường để tập trung toàn lực cho kinh doanh, thay vào đó nên ký một hợp đồng quy định rõ về thời gian quản trị doanh nghiệp và công tác chuyên môn tại trường, kèm theo nguyên tắc về phân chia cổ phần và lợi nhuận.
Giai đoạn 7: Xây dựng và phát triển thị trường
Doanh nghiệp spin-off tiến hành triển khai chiến lược kinh doanh, thông qua những kế hoạch cụ thể phù hợp với những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp. Đồng thời, trong điều kiện thuận lợi, spin-off có thể định hướng mở rộng quy mô hoạt động và tìm kiếm thị trường mới. Để xây dựng và phát triển thị trường cho một doanh nghiệp spin-off mới thành lập, nhiệm vụ đầu tiên của nhóm sáng lập là nắm rõ đặc trưng của sản phẩm (dịch vụ) và đối tượng khách hàng mục tiêu. Tiếp theo, xây dựng giá trị thương hiệu, tạo dựng lòng tin với khách hàng, có thể phát triển từ nền tảng thương hiệu. Đồng thời, ban lãnh đạo cần tập trung thảo luận, tham vấn ý kiến của các bên để thống nhất kế hoạch marketing. Trong đó, việc tận dụng lợi thế công nghệ, đổi mới sáng tạo và thích ứng với những thay đổi của thị trường là chìa khóa vàng để spin-off tồn tại và phát triển bền vững.
Giai đoạn 8: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trước hết, các chuyên gia tập trung vào việc đánh giá những lợi ích hữu hình, spin-off là môi trường thực tập hiệu quả cho sinh viên, vừa có cơ hội va chạm thực tế, làm quen với môi trường doanh nghiệp, vừa cải thiện mạng lưới quan hệ xã hội. Ngoài ra, công tác đánh giá hiệu quả còn chú ý đến lợi ích vô hình như: nâng cao giá trị thương hiệu, cải thiện chất lượng đào tạo, cung cấp nguồn lực chuyên môn cao, hình thành cơ chế thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, xúc tiến công tác thương mại hóa, chuyển giao công nghệ và góp phần tạo nên làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ trong người học với nhiều hình thức và lĩnh vực đa dạng.
Giai đoạn 9: Tái đầu tư vào những ý tưởng tiếp theo
Căn cứ kết quả kinh doanh, nhóm tác giả đề xuất doanh nghiệp dành khoảng 10-15% lợi nhuận để tái đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng và hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp mới; tỷ lệ cụ thể tùy thuộc điều kiện thực tế và thỏa thuận giữa các bên. Nguồn kinh phí này được quản lý thông qua quỹ nghiên cứu và phát triển (R&D), với mục tiêu sử dụng và cơ chế giám sát rõ ràng.
Phần lợi nhuận còn lại được phân bổ cho cổ đông và tái đầu tư vào sản xuất, cải tiến sản phẩm, mở rộng thị trường theo phương án đã thống nhất. Cơ chế này tạo sự liên kết giữa nghiên cứu, thương mại hóa và tái đầu tư, góp phần duy trì hoạt động của doanh nghiệp và phát triển các dự án spin-off tiếp theo.
GIẢI PHÁP
Trong bối cảnh các trường đại học ngày càng chú trọng đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, mô hình doanh nghiệp spin-off được xem là một hướng đi phù hợp để khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ hình thành từ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Để triển khai hiệu quả, nhà trường cần chú trọng những vấn đề sau: Một là, việc huy động vốn từ nhiều nhà đầu tư giúp trường có thêm nguồn lực tài chính để phát triển các spin-off tiềm năng; Hai là, spin-off dưới dạng công ty cổ phần có thể tự do hoạt động và đưa ra quyết định kinh doanh, không phụ thuộc vào sự quản lý trực tiếp của trường, nhanh chóng thích nghi với thị trường và nắm bắt cơ hội; Ba là, có thể chia sẻ lợi nhuận với spin-off thông qua cổ tức; nguồn thu này được sử dụng để tái đầu tư vào hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và hỗ trợ khởi nghiệp; Bốn là, thành lập doanh nghiệp spin-off thành công giúp nâng cao giá trị thương hiệu trong cộng đồng doanh nghiệp và giới khoa học, từ đó thu hút nhân tài; Năm là, spin-off có thể tạo ra môi trường làm việc sáng tạo và khuyến khích các nhà nghiên cứu phát triển ý tưởng.
Tuy nhiên, trường đại học cần lường trước nguy cơ mất quyền kiểm soát doanh nghiệp, rủi ro tài chính và xung đột lợi ích giữa các bên. Tùy theo thế mạnh chuyên môn, nguồn lực nghiên cứu và nhu cầu thị trường, các trường có thể xem xét phát triển một số mô hình doanh nghiệp spin-off trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, công nghệ thực phẩm, nuôi trồng thủy sản và xử lý môi trường.
Trước hết, doanh nghiệp spin-off trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật có thể được hình thành trên cơ sở thương mại hóa các sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết bị hoặc quy trình kỹ thuật do giảng viên, nhà khoa học và người học nghiên cứu thành công. Các sản phẩm tiềm năng có thể bao gồm máy móc phục vụ nông nghiệp, thiết bị hỗ trợ sản xuất, hệ thống điều khiển thông minh, thiết bị IoT, thiết bị y sinh hoặc các giải pháp tự động hóa. Mô hình này giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm mà có thể trở thành sản phẩm thương mại, phục vụ doanh nghiệp và đời sống.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp spin-off trong lĩnh vực công nghệ thực phẩm cũng là hướng phát triển có nhiều triển vọng. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm, dinh dưỡng và khai thác nguyên liệu địa phương, doanh nghiệp có thể phát triển các sản phẩm thực phẩm an toàn, thực phẩm dinh dưỡng, thực phẩm chức năng hoặc các quy trình chế biến có giá trị gia tăng cao. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm, các nghiên cứu từ trường đại học có thể trở thành nền tảng quan trọng để tạo ra sản phẩm mới, đồng thời góp phần nâng cao giá trị nông sản và thúc đẩy liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và cộng đồng.
Đối với các trường đại học có thế mạnh về thủy sản, sinh học ứng dụng và môi trường nước, doanh nghiệp spin-off trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản có thể được phát triển từ các sáng chế, quy trình kỹ thuật và giải pháp hỗ trợ sản xuất. Các hướng ứng dụng có thể bao gồm thiết bị sục khí, hệ thống quan trắc chất lượng nước, công nghệ xử lý môi trường ao nuôi, quy trình nhân giống, chế phẩm sinh học hoặc giải pháp nuôi trồng thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc thương mại hóa các giải pháp này có thể hỗ trợ người nuôi nâng cao năng suất, giảm rủi ro dịch bệnh, cải thiện chất lượng sản phẩm và phát triển sản xuất theo hướng bền vững.
Ngoài ra, doanh nghiệp spin-off trong lĩnh vực xử lý môi trường cũng có ý nghĩa thực tiễn cao trong bối cảnh ô nhiễm nước, chất thải và biến đổi khí hậu ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết. Doanh nghiệp có thể khai thác các công nghệ xử lý nước sinh hoạt, nước thải, chất thải hữu cơ, quan trắc môi trường, tái chế phụ phẩm hoặc các giải pháp tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Đây là lĩnh vực có khả năng ứng dụng rộng trong hộ gia đình, doanh nghiệp, khu công nghiệp, nông nghiệp và khu vực công.
Nhìn chung, việc phát triển doanh nghiệp spin-off trong trường đại học cần dựa trên sự kết hợp giữa năng lực nghiên cứu, nhu cầu thị trường, khả năng bảo hộ sở hữu trí tuệ, nguồn lực tài chính và cơ chế quản trị phù hợp. Các mô hình này không chỉ giúp thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà còn góp phần nâng cao vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp học thuật và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị cho xã hội.
KẾT LUẬN
Trường đại học đa ngành có lợi thế phát triển doanh nghiệp spin-off nhờ nguồn tài sản trí tuệ, đội ngũ chuyên môn và năng lực nghiên cứu. Việc kết nối những lợi thế này với nguồn vốn, mạng lưới đối tác và thị trường của doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Trong trung hạn và dài hạn, doanh nghiệp spin-off có thể lựa chọn 2 hướng phát triển: tham gia các giao dịch mua bán, sáp nhập (M&A), sử dụng nguồn thu phù hợp để hỗ trợ các dự án tiếp theo; hoặc tiếp tục tổ chức sản xuất, kinh doanh, hợp tác với đối tác và dành một phần lợi nhuận để tái đầu tư cho nghiên cứu, khởi nghiệp. Lựa chọn cần căn cứ vào năng lực doanh nghiệp, mục tiêu của các bên và điều kiện thị trường.
(*) Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông qua đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ “Xây dựng mô hình doanh nghiệp spin-off trong trường đại học đa ngành ở Việt Nam” (Quyết định số 1918/QĐ-BGDĐT ngày 30/6/2023); Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) thuộc Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn; và Đại học Cần Thơ đã hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu.
Tài liệu tham khảo:
1. Bozeman, B., & Boardman, P. C. (2003). Managing the new multipurpose, multidiscipline university research center: Institutional innovation in the academic community. IBM Center for the Business of Government.
2. Cai, Y. (2004). Confronting the global and the local-A case study of Chinese higher education. Tertiary Education and Management, 10(2), 157-169. https://doi.org/10.1080/13583883.2004.9967124
3. Carayannis, E. G., Grigoroudis, E., Campbell, D. F., Meissner, D., & Stamati, D. (2018). Mode 3 universities and academic firms: Thinking beyond the box trans-disciplinarity and nonlinear innovation dynamics within coopetitive entrepreneurial ecosystems. International Journal of Technology Management, 77(1-3), 145-185. https://doi.org/10.1504/IJTM.2018.091714
4. Chính phủ (2020). Nghị định số 94/2020/NĐ-CP ngày 21/8/2020 quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia.
5. Hằng, N. T. T. (2019). Hoàn thiện khung khổ pháp lý cho doanh nghiệp spin-off trong trường đại học ở Việt Nam hiện nay. https://tapchicongthuong.vn/hoan-thien-khung-kho-phap-ly-cho-doanh-nghiep-spin-off-trong-truong-dai-hoc-o-viet-nam-hien-nay-63956.htm
6. Lan, N. T. P., & Nhung, T. T. K. (2023). Chuyển đổi số trong các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam: Thuận lợi và khó khăn. Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, 16-18.
7. Phương, T. A., & Phong, L. B. (2019). Giảng dạy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh xây dựng các “đại học khởi nghiệp”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, (55), 126-132.
8. Quat, P. H., Hanh, P. T. H., & Van Thuong, L. (2021). Assignment and licensing of research results/outputs, intellectual property for developing the science and technology enterprises as the model of spin-off/spin-out in the research and training institutes in Vietnam. Journal of Science and Technology Policy and Management, 10(4), 1-14. https://vietnamstijournal.net/index.php/JSTPM/article/view/382
9. Tân, L. T., & Tuân, N. V. (2023). Mô hình đại học đa ngành và trường hợp cơ cấu khối ngành đào tạo tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội. Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, (69), 5-11.
10. Thăng, N. T., Nhân, N. V., Đức, T. H., & Hằng, P. T. T. (2020). Nghiên cứu xây dựng mô hình doanh nghiệp spin-off tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học. Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, (40), 132-141.
11. Thống, T. N. H. (2022). Thành lập doanh nghiệp spin-off: Góc nhìn từ trường đại học. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, (6), 14-18.
12. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”.
13. Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”.
14, Trang, N. H. T. Q., & Hai, N. H. (2019). Innovation based start-up culture: Problems of interests. Journal of Science and Technology Policy and Management, 8(2), 70-80. https://vietnamstijournal.net/index.php/JSTPM/article/view/301
15. Vân, Đ. T. (2024). Nâng tầm các trường đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. https://kinhtevadubao.vn/nang-tam-cac-truong-dai-hoc-trong-he-sinh-thai-khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao-30049.html
16. Wright, M., Birley, S., & Mosey, S. (2004). Entrepreneurship and university technology transfer. The Journal of Technology Transfer, 29(3), 235-246.
| Ngày nhận bài: 12/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/10/2026; Ngày duyệt đăng: 26/10/2026 |
Các tin khác
Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao
Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh
Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên
Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê
Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam
Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí
Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch
