SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc
Nguyễn Thị Phương Nga (Tác giả liên hệ)
Email: [email protected]
Nguyễn Thị Ngọc Hân, Đoàn Thị Thu Hương, Cao Thị Diệu Linh
Học viên cao học, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH)
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích sự chuyển dịch của các yêu cầu phi thuế quan kỹ thuật và quá trình thích ứng của chuỗi xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2022-2026. Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp kết hợp phân tích tiến trình và thống kê mô tả dựa trên khung SPS/TBT của WTO, nghiên cứu làm rõ các điều kiện tiếp cận thị trường Trung Quốc. Kết quả cho thấy, yêu cầu kỹ thuật đã mở rộng từ kiểm soát từng lô hàng sang quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm và dữ liệu truy xuất nguồn gốc. Cùng với đó, đợt tăng cường kiểm soát cadimi và Auramine O năm 2025 đã làm gia tăng chi phí kiểm nghiệm, thời gian chờ và rủi ro thương mại. Đến năm 2026, Việt Nam đã mở rộng năng lực kiểm nghiệm và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc, thể hiện sự thích ứng chủ động trước các rào cản kỹ thuật ngày càng chặt chẽ.
Từ khóa: Biện pháp phi thuế quan, sầu riêng, SPS, TBT, truy xuất nguồn gốc
Abstract
This study examines the evolution of technical non-tariff measures and the adaptation of Viet Nam’s durian export supply chain to the Chinese market over the period 2022-2026. Using a case study approach that combines process tracing and descriptive statistical analysis within the World Trade Organization’s SPS and TBT frameworks, the study clarifies the conditions governing access to the Chinese market. The findings indicate that technical requirements have expanded from consignment-level inspections to broader controls over growing areas, packing facilities, laboratory testing, and traceability data. In addition, intensified controls on cadmium and Auramine O in 2025 increased testing costs, waiting times, and trade risks. By 2026, Viet Nam had expanded its testing capacity and implemented traceability systems, indicating a proactive response to increasingly stringent technical barriers to trade.
Keywords: Non-tariff measures, durian, SPS, TBT, traceability
GIỚI THIỆU
Trong thương mại nông sản, việc cắt giảm thuế quan không đồng nghĩa với việc chi phí tiếp cận thị trường biến mất. Các biện pháp phi thuế quan (non-tariff measures - NTMs), đặc biệt là các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS) và các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), có thể làm thay đổi yêu cầu về chất lượng, kiểm nghiệm, chứng nhận, hồ sơ và tổ chức chuỗi cung ứng. Tổng quan thực nghiệm cho thấy tác động của NTMs đối với nông sản không đồng nhất: cùng một loại biện pháp có thể làm tăng chi phí tuân thủ trong ngắn hạn nhưng cũng có thể thúc đẩy nâng cấp chất lượng và năng lực kiểm soát trong dài hạn (Santeramo và Lamonaca, 2019).
Đối với Việt Nam, bằng chứng định lượng cho thấy SPS có thể ảnh hưởng đến dòng xuất khẩu nông sản. Thuong (2018) nghiên cứu xuất khẩu gạo của Việt Nam và cho thấy các biện pháp SPS của thị trường nhập khẩu có tác động đáng kể đến thương mại. Ở phạm vi rộng hơn, Luu và Parsons (2022) chỉ ra rằng tác động của NTMs đến xuất khẩu Việt Nam thay đổi theo loại biện pháp, sản phẩm và thị trường.
Sầu riêng là một trường hợp đáng chú ý vì thị trường Trung Quốc có quy mô lớn và giữ vai trò quan trọng trong đầu ra của ngành hàng Việt Nam. Ngày 11/7/2022, Việt Nam và Trung Quốc ký Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với sầu riêng tươi xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc, tạo cơ sở cho thương mại chính ngạch và gắn xuất khẩu với yêu cầu quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói và kiểm dịch. Sau đó, kim ngạch sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc tăng nhanh, từ khoảng 188,1 triệu USD năm 2022 lên khoảng 2,1 tỷ USD năm 2023, 2,94 tỷ USD năm 2024 và 3,44 tỷ USD năm 2025 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2022; Phòng WTO và Hội nhập - VCCI, 2024; Nhung Bùi, 2026).
Năm 2025, yêu cầu kiểm soát an toàn thực phẩm trở thành điểm nghẽn nổi bật. Theo Chinhphu.vn (2025), phía Trung Quốc thông báo kiểm tra cadimi đối với các lô sầu riêng Việt Nam từ tháng 6/2024 và yêu cầu kiểm tra Auramine O tại phòng thử nghiệm được phê duyệt từ ngày 10/1/2025. Hai tháng đầu năm 2025, xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc chỉ đạt khoảng 27 triệu USD, giảm 83% so với cùng kỳ (Minh Ngọc, 2025); 4 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng chỉ khoảng 130 triệu USD, so với hơn 500 triệu USD cùng kỳ năm 2024 (Chí Tuệ, 2025).
Đến năm 2026, phản ứng thích ứng thể hiện ở 2 hướng: tăng năng lực kiểm nghiệm và xây dựng hạ tầng truy xuất. Đến ngày 26/6/2026, Việt Nam có 37 cơ sở được GACC chấp thuận kiểm nghiệm cadimi và Auramine O đối với sầu riêng và mít (Bích Hồng, 2026). Đến ngày 12/6/2026, hệ thống truy xuất nông sản được triển khai tại 26/34 tỉnh, thành phố; quản lý 18.500 sản phẩm thuộc 112 nhóm sản phẩm, 919 lô hàng từ 547 hộ sản xuất, 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp (Thanh Trà, 2026). Riêng sầu riêng, đến ngày 10/5/2026 đã có 3 container được xuất sang Trung Quốc với đầy đủ thông tin truy xuất.
Nghiên cứu đặt ra 3 câu hỏi: (1) Yêu cầu SPS/TBT đã chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 2022-2026? (2) Các yêu cầu tạo ra những kênh chi phí và rủi ro nào? và (3) Năng lực thích ứng về kiểm nghiệm, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất được hình thành như thế nào?
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Phân biệt SPS và TBT
Theo WTO (1995a, 1995b), Hiệp định SPS điều chỉnh các biện pháp nhằm bảo vệ con người, động vật và thực vật trước các rủi ro xác định trong phạm vi vệ sinh và kiểm dịch; các biện pháp SPS có thể bao gồm yêu cầu về sản phẩm, quy trình, kiểm tra, lấy mẫu, thử nghiệm và chứng nhận. Hiệp định TBT điều chỉnh các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục đánh giá sự phù hợp không thuộc phạm vi SPS. Vì vậy, mục tiêu và nội dung của biện pháp, chứ không chỉ tên gọi của yêu cầu, quyết định việc phân loại.
Trong trường hợp sầu riêng, cadimi, Auramine O và kiểm dịch thực vật được phân tích chủ yếu dưới khung SPS khi mục tiêu trực tiếp là an toàn thực phẩm hoặc bảo vệ thực vật. Các yêu cầu kỹ thuật về chất lượng, ghi nhãn, bao gói hoặc đánh giá sự phù hợp nếu nằm ngoài phạm vi SPS mới thuộc TBT.
Bảng 1: Ma trận phân loại yêu cầu
| Yêu cầu | Phân loại chính | Căn cứ | Vai trò |
|---|---|---|---|
| Cadimi | SPS | Chất ô nhiễm/an toàn thực phẩm | Kiểm soát lô hàng |
| Auramine O | SPS | An toàn thực phẩm | Kiểm soát lô hàng |
| Kiểm dịch thực vật | SPS | Bảo vệ thực vật trước dịch hại | Kiểm soát vùng trồng/lô hàng |
| Mã số vùng trồng | Chủ yếu SPS trong trường hợp này | Gắn với kiểm dịch và điều kiện sản xuất | Kiểm soát đầu vào |
| Mã cơ sở đóng gói | Chủ yếu SPS trong trường hợp này | Gắn với kiểm soát vệ sinh, kiểm dịch | Kiểm soát trung gian |
| Truy xuất nguồn gốc | Tùy mục tiêu; có thể giao thoa | Phụ thuộc thiết kế yêu cầu | Liên kết dữ liệu |
| Quy định kỹ thuật ngoài SPS | TBT | Quy định kỹ thuật/đánh giá sự phù hợp | Điều kiện kỹ thuật |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Chi phí tuân thủ và khả năng nâng cấp
NTMs có thể làm phát sinh chi phí kiểm nghiệm, chứng nhận, điều chỉnh quy trình sản xuất, ghi chép dữ liệu, truy xuất và chi phí thời gian. Đối với nông sản tươi, thời gian chờ có thể liên quan đến chi phí logistics và chất lượng hàng hóa. Tuy nhiên, tác động của tiêu chuẩn không nhất thiết chỉ theo hướng hạn chế thương mại. Santeramo và Lamonaca (2019) cho thấy tác động của NTMs đối với nông sản có tính dị biệt cao; Crivelli và Gröschl (2016) cho thấy SPS có thể ảnh hưởng đến khả năng gia nhập thị trường; Disdier và cộng sự (2008) cho thấy tác động của SPS/TBT khác nhau theo nhóm nước.
Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu định lượng trước đây thường sử dụng dữ liệu bảng và mô hình trọng lực để ước lượng tác động trung bình giữa nhiều sản phẩm và nhiều thị trường. Nghiên cứu này bổ sung một nghiên cứu trường hợp về sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc, theo dõi các mốc từ Nghị định thư năm 2022, tăng trưởng thương mại 2022-2024, cú sốc tuân thủ năm 2025 đến phản ứng thích ứng năm 2026; trọng tâm là kết nối yêu cầu kỹ thuật với kiểm nghiệm, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất.
Khung phân tích
Trên cơ sở kế thừa Hiệp định SPS, TBT (WTO, 1995a, 1995b) và các bằng chứng thực nghiệm về chi phí tuân thủ - nâng cấp (Santeramo và Lamonaca, 2019; Crivelli và Gröschl, 2016), nghiên cứu đề xuất khung phân tích tại Hình. Yêu cầu SPS/TBT được theo dõi qua 3 pha theo trình tự thời gian; tác động được xem xét qua 2 kênh song song là kênh chi phí - rủi ro và kênh nâng cấp - thích ứng, cùng quyết định khả năng tiếp cận thị trường Trung Quốc.
Hình: Khung phân tích của nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu trường hợp, kết hợp phân tích tiến trình và thống kê mô tả. Đơn vị phân tích là chuỗi xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc trong giai đoạn 2022-2026. Phân tích tiến trình được sử dụng để đặt các thay đổi về quy định, kiểm nghiệm, mã số và truy xuất theo trình tự thời gian, qua đó nhận diện cơ chế thích ứng thay vì suy luận quan hệ nhân quả trực tiếp từ kim ngạch.
Giai đoạn nghiên cứu được chia thành 3 pha: (i) mở cửa và tăng trưởng 2022-2024; (ii) cú sốc tuân thủ năm 2025; và (iii) củng cố năng lực kiểm nghiệm và truy xuất năm 2026. Dữ liệu gồm văn bản của WTO; tài liệu của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dữ liệu thương mại của Trung Quốc và Việt Nam; các nghiên cứu học thuật quốc tế và thông tin trên báo chí chính thống.
Nghiên cứu chỉ sử dụng thống kê mô tả để minh họa xu hướng và không khẳng định quan hệ nhân quả giữa một biện pháp kỹ thuật đơn lẻ và kim ngạch xuất khẩu. Chưa có bộ dữ liệu tháng/quý đầy đủ về kim ngạch, khối lượng, số lô bị cảnh báo/trả về, thời gian kiểm nghiệm, chi phí kiểm nghiệm và các biến kiểm soát nên việc áp dụng mô hình nhân quả được dành cho nghiên cứu tiếp theo.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu
Mở cửa thị trường và tăng trưởng thương mại
Sau Nghị định thư ngày 11/7/2022, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc tăng rất nhanh. Năm 2023 đạt khoảng 2,1 tỷ USD (Phòng WTO và Hội nhập - VCCI, 2024); năm 2024 khoảng 2,94 tỷ USD và năm 2025 khoảng 3,44 tỷ USD (Nhung Bùi, 2026) (Bảng 2).
Bảng 2: Kim ngạch sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, 2022-2025
| Năm | Kim ngạch (tỷ USD) | Tăng/giảm (%) |
|---|---|---|
| 2022 | 0,1881 | - |
| 2023 | 2,1000 | +1.016,0% |
| 2024 | 2,9400 | +40,0% |
| 2025 | 3,4400 | +17,0% |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ Phòng WTO và Hội nhập - VCCI (2024), Nhung Bùi (2026); số liệu năm 2023 tính đến hết tháng 11/2023
Chuỗi số liệu cho thấy quy mô thị trường tăng mạnh nhưng không đủ để suy ra tác động nhân quả của SPS/TBT. Dữ liệu năm có thể che khuất biến động theo tháng và chịu ảnh hưởng đồng thời của mùa vụ, sản lượng, giá và nhu cầu. Cần lưu ý, Cục Hải quan Việt Nam ghi nhận tổng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng năm 2025 (tính mọi thị trường) khoảng 3,86 tỷ USD (Thi Hà, 2026); vì vậy, chuỗi số liệu sang Trung Quốc trong Bảng 2 sử dụng thống nhất một nguồn là Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) được dẫn từ báo chí chính thống.
Cú sốc kiểm soát năm 2025 và chi phí tuân thủ
Từ tháng 6/2024, phía Trung Quốc thông báo kiểm tra cadimi đối với các lô sầu riêng Việt Nam; từ ngày 10/1/2025, yêu cầu kiểm tra Auramine O tại các phòng thử nghiệm được phê duyệt được áp dụng (Chinhphu.vn, 2025). Điều này làm tăng vai trò của kiểm nghiệm trước xuất khẩu và biến năng lực phòng thử nghiệm thành một phần của năng lực tiếp cận thị trường. Hai tháng đầu năm 2025, Trung Quốc chỉ chi hơn 120 triệu USD nhập khẩu sầu riêng nguyên quả, giảm 57,8% so với cùng kỳ; riêng sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc giảm 83%, còn khoảng 27 triệu USD (Minh Ngọc, 2025). Kim ngạch phục hồi từ tháng 6/2025; lũy kế 9 tháng năm 2025, xuất khẩu sầu riêng sang Trung Quốc đạt khoảng 2,59 tỷ USD theo số liệu Cục Hải quan (Nguyên Phương, 2025), lý giải vì sao kim ngạch cả năm vẫn tăng dù nửa đầu năm sụt giảm mạnh.
Mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói
Ngày 21/5/2025, Trung Quốc phê duyệt thêm 829 mã số vùng trồng và 131 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng của Việt Nam. Tổng số mã vùng trồng đạt 1.396 và số cơ sở đóng gói là 188 (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, 2025) (Bảng 3).
Bảng 3: Mở rộng mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói năm 2025
| Chỉ tiêu | Giá trị | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Mã vùng trồng phê duyệt thêm | 829 | Mở rộng điều kiện tiếp cận |
| Mã cơ sở đóng gói phê duyệt thêm | 131 | Mở rộng năng lực đóng gói |
| Tổng mã vùng trồng | 1.396 | Quản lý vùng nguyên liệu |
| Tổng cơ sở đóng gói | 188 | Quản lý khâu đóng gói |
Nguồn: Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (2025)
Nâng năng lực kiểm nghiệm
Đến ngày 26/6/2026, Việt Nam có 37 cơ sở được GACC chấp thuận kiểm nghiệm cadimi và Auramine O đối với sầu riêng và mít (Bích Hồng, 2026) (Bảng 4).
Danh sách này tiếp tục được mở rộng: cập nhật đến ngày 5/8/2026, GACC đã chấp thuận 50 cơ sở kiểm nghiệm tại 13 tỉnh, thành phố, trong đó 36 cơ sở kiểm nghiệm đồng thời cadimi và Vàng O, 11 cơ sở chỉ kiểm nghiệm cadimi và 3 cơ sở chỉ kiểm nghiệm Vàng O (Phan Hậu, 2026).
Bảng 4: Phân bố 37 cơ sở kiểm nghiệm được GACC chấp thuận (tính đến 26/6/2026)
| Khu vực | Số cơ sở | Chi tiết |
|---|---|---|
| Đông Nam Bộ | 15 | 6 cả hai; 4 Cd; 5 Auramine O |
| Đồng bằng sông Cửu Long | 10 | 8 cả hai; 1 Cd; 1 Auramine O |
| Đồng bằng sông Hồng | 8 | 7 cả hai; 1 Auramine O |
| Nam Trung Bộ & Tây Nguyên | 4 | 3 cả hai; 1 Cd |
| Tổng cộng | 37 | GACC chấp thuận |
Nguồn: Bích Hồng (2026)
Truy xuất nguồn gốc và quản trị dữ liệu
Đến ngày 12/6/2026, hệ thống truy xuất nông sản được triển khai tại 26/34 tỉnh, thành phố; quản lý 18.500 sản phẩm thuộc 112 nhóm sản phẩm, 919 lô hàng từ 547 hộ sản xuất, 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp. Riêng sầu riêng, đến ngày 10/5/2026 đã có 3 container xuất sang Trung Quốc với đầy đủ thông tin truy xuất (Thanh Trà, 2026) (Bảng 5).
Bảng 5: Mức độ triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đến tháng 6/2026 (toàn ngành nông sản)
| Chỉ tiêu | Giá trị |
|---|---|
| Tỉnh/thành triển khai | 26 |
| Sản phẩm | 18.500 |
| Nhóm sản phẩm | 112 |
| Lô hàng | 919 |
| Hộ sản xuất | 547 |
| Vùng trồng | 255 |
| Doanh nghiệp | 149 |
| Container sầu riêng có đầy đủ truy xuất | 3 |
Nguồn: Thanh Trà (2026)
Thảo luận kết quả
Kết quả phù hợp với bằng chứng quốc tế rằng SPS/NTMs có thể vừa tạo chi phí vừa tạo động lực nâng cấp. Thuong (2018) cho thấy SPS có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản Việt Nam; Crivelli và Gröschl (2016) cho thấy SPS có thể tác động đến khả năng gia nhập thị trường; Santeramo và Lamonaca (2019) nhấn mạnh tính dị biệt của tác động NTMs. Trường hợp sầu riêng Việt Nam - Trung Quốc cho thấy cần xem xét không chỉ mức thay đổi của thương mại mà cả cách chuỗi cung ứng tổ chức lại để đáp ứng yêu cầu.
Chi phí tuân thủ không chỉ nằm ở doanh nghiệp xuất khẩu mà có thể được phân bổ về hộ nông dân, hợp tác xã, cơ sở đóng gói, phòng thử nghiệm và logistics. Năng lực SPS cần được xem như một dạng hạ tầng tiếp cận thị trường. Truy xuất nguồn gốc có thể tạo hiệu ứng nâng cấp nếu được thiết kế như hệ thống dữ liệu liên thông thay vì chỉ là bộ hồ sơ phục vụ kiểm tra.
Không nên đồng nhất mọi SPS/TBT với “rào cản bất hợp lý”. WTO (1995a) thừa nhận quyền của thành viên trong việc bảo vệ sức khỏe con người, động vật và thực vật. Vì vậy, mục tiêu quản trị phù hợp hơn là giảm chi phí tuân thủ không cần thiết và nâng năng lực đáp ứng.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP
Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chuỗi xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc đã chuyển từ mô hình nhấn mạnh kiểm soát lô hàng sang mô hình kiểm soát sâu hơn đối với điều kiện sản xuất, kiểm nghiệm và dữ liệu chuỗi cung ứng. Nghị định thư năm 2022 tạo nền tảng cho thương mại chính ngạch; giai đoạn 2022-2024 chứng kiến sự mở rộng nhanh của kim ngạch; năm 2025 làm nổi bật chi phí và rủi ro tuân thủ; năm 2026 cho thấy phản ứng thích ứng thông qua mở rộng mạng lưới kiểm nghiệm và triển khai truy xuất.
Khuyến nghị giải pháp
Thứ nhất, quản trị rủi ro từ vùng trồng: Tăng cường kiểm soát đất, nước, vật tư nông nghiệp và quy trình canh tác ngay từ vùng nguyên liệu, thay vì chỉ kiểm soát khi sản phẩm chuẩn bị xuất khẩu.
Thứ hai, xây dựng hệ thống truy xuất liên thông: Kết nối dữ liệu từ vùng trồng - cơ sở đóng gói - kiểm nghiệm - lô hàng - doanh nghiệp xuất khẩu để nhanh chóng xử lý khi phát sinh cảnh báo.
Thứ ba, nâng cao năng lực kiểm nghiệm: Bên cạnh mở rộng số lượng phòng thử nghiệm, cần chú trọng thời gian trả kết quả, năng lực xử lý trong mùa cao điểm và tính nhất quán của kết quả kiểm nghiệm.
Thứ tư, giảm và phân bổ hợp lý chi phí tuân thủ: Hỗ trợ hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp trong đào tạo, ghi chép, truy xuất và kiểm nghiệm.
Thứ năm, tăng tính minh bạch của yêu cầu SPS/TBT: Phân loại rõ các yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm dịch và kỹ thuật giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản trị xuất khẩu.
Tài liệu tham khảo:
1. Bích Hồng (2026). 37 cơ sở kiểm nghiệm được GACC chấp thuận để xuất khẩu mít, sầu riêng sang Trung Quốc. https://vtv.vn/37-co-so-kiem-nghiem-duoc-gacc-chap-thuan-de-xuat-khau-mit-sau-rieng-sang-trung-quoc-100260707142817778.htm
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022). Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với sầu riêng tươi xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc, ngày 11/7/2022.
3. Chinhphu.vn (2025). Gỡ vướng đăng ký phòng thử nghiệm phục vụ xuất khẩu sầu riêng. https://baochinhphu.vn/go-vuong-dang-ky-phong-thu-nghiem-phuc-vu-xuat-khau-sau-rieng-102251229173847793.htm
4. Chí Tuệ (2025). Sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc giảm sâu, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy chỉ đạo loạt giải pháp. https://tuoitre.vn/sau-rieng-xuat-khau-sang-trung-quoc-giam-sau-bo-truong-do-duc-duy-chi-dao-loat-giai-phap-20250508164730467.htm
5. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (2025). Trung Quốc phê duyệt thêm 829 mã số vùng trồng và 131 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng của Việt Nam. Bộ Nông nghiệp và Môi trường. https://www.ppd.gov.vn/tin-moi-nhat/trung-quoc-phe-duyet-them-829-ma-so-vung-trong-va-131-ma-so-co-so-dong-goi-sau-rieng-cua-viet-nam.html
6. Crivelli, P., & Gröschl, J. (2016). The impact of sanitary and phytosanitary measures on market entry and trade flows. The World Economy, 39(3), 444-473.
7. Disdier, A. C., Fontagné, L., & Mimouni, M. (2008). The impact of regulations on agricultural trade: Evidence from the SPS and TBT agreements. American Journal of Agricultural Economics, 90(2), 336-350.
8. Luu, D. H., & Parsons, C. R. (2022). Non-tariff measures and Vietnam's export performance. Asian-Pacific Economic Literature, 36(1), 88-104.
9. Minh Ngọc (2025). Sầu riêng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 83%, sầu Thái lập tức soán ngôi, đầu bảng thị trường tỷ dân. https://danviet.vn/sau-rieng-viet-nam-xuat-khau-sang-trung-quoc-giam-83-sau-thai-lap-tuc-soan-ngoi-dau-bang-thi-truong-ty-dan-d1326710.html
10. Nguyên Phương (2025). Hoạt động thông quan sầu riêng sang Trung Quốc duy trì ổn định. https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hoat-dong-thong-quan-sau-rieng-sang-trung-quoc-duy-tri-on-dinh-186197.html
11. Nhung Bùi (2026). Cuộc đua xuất khẩu sầu riêng vào Trung Quốc: Việt Nam tăng tốc, Thái Lan chậm nhịp. https://baodautu.vn/cuoc-dua-xuat-khau-sau-rieng-vao-trung-quoc-viet-nam-tang-toc-thai-lan-cham-nhip-d532045.html
12. Phan Hậu (2026). 50 cơ sở được phép kiểm nghiệm chất cấm trên sầu riêng xuất khẩu Trung Quốc. https://thanhnien.vn/50-co-so-duoc-phep-kiem-nghiem-chat-cam-tren-sau-rieng-xuat-khau-trung-quoc-185260807173824155.htm
13. Phòng WTO và Hội nhập - VCCI (2024). Hơn 90% sầu riêng Việt Nam là xuất khẩu sang Trung Quốc https://trungtamwto.vn/an-pham/25586-hon-90-sau-rieng-viet-nam-la-xuat-khau-sang-trung-quoc
14. Santeramo, F. G., & Lamonaca, E. (2019). The effects of non-tariff measures on agri-food trade: A review and meta-analysis of empirical evidence. Journal of Agricultural Economics, 70(3), 595-617.
15. Thanh Trà (2026). Gần 20.000 sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. https://nhandan.vn/gan-20000-san-pham-tham-gia-he-thong-truy-xuat-nguon-goc-nong-san-post969793.html
16. Thi Hà (2026). Kim ngạch xuất khẩu sầu riêng cao kỷ lục. https://vnexpress.net/kim-ngach-xuat-khau-sau-rieng-cao-ky-luc-5009078.html
17. Thuong, N. T. T. (2018). The effect of Sanitary and Phytosanitary measures on Vietnam's rice exports. EconomiA, 19(2), 251-265.
18. World Trade Organization - WTO (1995a). Agreement on the Application of Sanitary and Phytosanitary Measures (SPS Agreement), Geneva, Switzerland.
19. World Trade Organization - WTO (1995b). Agreement on Technical Barriers to Trade (TBT Agreement), Geneva, Switzerland.
| Ngày nhận bài: 25/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 6/10/2026; Ngày duyệt đăng: 13/10/2026 |
Các tin khác
Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới
Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp
Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng
