Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Hòa Bình, Mai Thị Xuân Sinh
Nguyễn Thị Tường Vy, Văn Nữ Hà Vy, Nguyễn Ngọc Kiều Vy
ThS. Nguyễn Thị Lan Anh (Tác giả liên hệ)
Email: [email protected]
Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt
Trong bối cảnh phương tiện giao thông xanh trở thành xu hướng tất yếu, nghiên cứu xem xét vai trò của các yếu tố thuộc 3 nhóm: lực đẩy, lực kéo và lực neo đến ý định chuyển đổi sang xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu khảo sát trực tuyến gồm 238 phiếu hợp lệ được xử lý bằng phương pháp PLS - SEM, dựa trên khung lý thuyết Đẩy - Kéo - Neo kết hợp Mô hình chấp nhận công nghệ. Kết quả cho thấy, Tính hữu ích cảm nhận có tác động dương mạnh nhất đến Ý định chuyển đổi, tiếp theo là Sự bất mãn với phương tiện hiện tại và Tính dễ sử dụng cảm nhận. Rủi ro cảm nhận có tác động âm và có ý nghĩa, trong khi Mối quan tâm môi trường và Thói quen chưa được ủng hộ. Mô hình giải thích 27,9% phương sai của Ý định chuyển đổi. Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất hàm ý quản trị và chính sách nhằm thúc đẩy hành vi chuyển đổi sang xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh.
Từ khóa: Xe buýt điện, ý định chuyển đổi, mô hình Đẩy - Kéo - Neo, học sinh sinh viên, TP. Hồ Chí Minh
Abstract
In the context of green transportation becoming an inevitable trend, this study examines the roles of factors belonging to three groups: push, pull, and mooring, in influencing students’ intention to switch to electric buses in Ho Chi Minh City. Data from 238 valid online survey responses were analyzed using partial least squares structural equation modeling (PLS-SEM), based on the Push-Pull-Mooring framework combined with the Technology Acceptance Model. The results show that perceived usefulness has the strongest positive effect on switching intention, followed by dissatisfaction with current transportation modes and perceived ease of use. Perceived risk has a negative and statistically significant effect, whereas environmental concern and habit do not. The model explains 27.9% of the variance in switching intention. The findings provide a basis for proposing managerial and policy implications to promote students’ switching behavior toward electric buses in Ho Chi Minh City.
Keywords: Electric buses, switching intention, Push-Pull-Mooring framework, students, Ho Chi Minh City
GIỚI THIỆU
Trong định hướng phát triển giao thông vận tải theo hướng năng lượng sạch, xe buýt điện đóng vai trò quan trọng tại các đô thị của Việt Nam. Theo Quyết định số 876/QĐ-TTg, từ năm 2025 toàn bộ xe buýt thay thế hoặc đầu tư mới phải sử dụng điện hoặc năng lượng xanh (Thủ tướng Chính phủ, 2022). TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tỷ lệ xe buýt điện đạt trên 50% vào năm 2026 và 100% vào năm 2030 (Bộ Xây dựng, 2026). Tính đến tháng 3/2026, mạng lưới VinBus đã vận hành 9 tuyến, trong đó các tuyến 45 và 53 kết nối trực tiếp đến các cụm trường đại học (VinBus, 2026), tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm học sinh, sinh viên tiếp cận phương thức di chuyển này.
Tuy nhiên, sự mở rộng về hạ tầng không đảm bảo việc người sử dụng sẽ chủ động thay đổi thói quen đi lại. Quá trình thay đổi từ phương tiện cá nhân sang phương tiện công cộng mới chịu tác động bởi các nguyên nhân: từ bỏ phương thức cũ, giá trị tiện ích của phương thức mới, thói quen và rủi ro cảm nhận.
Một số nghiên cứu đã vận dụng khung lý thuyết Lực đẩy - Lực kéo - Lực neo (Push - Pull - Mooring - PPM) trong bối cảnh phương tiện điện (Wang và cộng sự, 2020; Zhang và Rasiah, 2025; Li và cộng sự, 2025). Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) được áp dụng để phân tích tính hữu ích và tính dễ sử dụng cảm nhận (Nguyen và Pojani, 2023). Phần lớn tài liệu hiện có chủ yếu đánh giá ý định chấp nhận phương tiện điện nói chung, trong khi bằng chứng về ý định chuyển đổi sang xe buýt điện của học sinh, sinh viên còn hạn chế.
Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố thuộc 3 nhóm: lực đẩy, lực kéo và lực neo đến ý định chuyển đổi sang sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh, làm cơ sở đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách đối với đơn vị vận hành và cơ quan quản lý nhà nước. Đối tượng khảo sát là học sinh và sinh viên đang sử dụng ít nhất một phương thức di chuyển khác và có nhận thức cơ bản về dịch vụ xe buýt điện. Nghiên cứu đánh giá 6 nhân tố từ mô hình tích hợp PPM và TAM, bao gồm: Mối quan tâm môi trường, Sự bất mãn với phương tiện hiện tại, Tính hữu ích cảm nhận, Tính dễ sử dụng cảm nhận, Thói quen và Rủi ro cảm nhận tác động đến biến phụ thuộc là Ý định chuyển đổi và không bao gồm việc đo lường hành vi sử dụng thực tế.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết và phát triển giả thuyết
Lý thuyết Lực đẩy - Lực kéo - Lực neo (PPM) của Lee (1966) giải thích hành vi chuyển đổi thông qua 3 nhóm yếu tố. Trong nghiên cứu này, Mối quan tâm đến môi trường và Sự bất mãn với phương tiện hiện tại là các yếu tố đẩy (Push) làm gia tăng động lực rời bỏ phương tiện hiện tại; Tính dễ sử dụng cảm nhận và Tính hữu ích cảm nhận là các yếu tố kéo (Pull) làm gia tăng sức hấp dẫn của xe buýt điện; Thói quen và Rủi ro cảm nhận là các yếu tố neo (Mooring) có thể làm cản trở quá trình chuyển đổi. Do đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết sau:
H1: Mối quan tâm đến môi trường tác động tích cực (+) đến Ý định chuyển đổi.
H2: Sự bất mãn với phương tiện hiện tại tác động tích cực (+) đến Ý định chuyển đổi.
Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) của Davis (1989) chứng minh rằng tính dễ sử dụng cảm nhận và tính hữu ích cảm nhận là 2 yếu tố quan trọng trong việc hình thành ý định chấp nhận và sử dụng công nghệ. Trong nghiên cứu này, Tính dễ sử dụng cảm nhận và Tính hữu ích cảm nhận được sử dụng để phản ánh nhận thức của học sinh, sinh viên về mức độ dễ sử dụng và lợi ích của xe buýt điện, qua đó thúc đẩy ý định chuyển đổi. Các giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất:
H3: Tính dễ sử dụng cảm nhận tác động tích cực (+) đến Ý định chuyển đổi.
H4: Tính hữu ích cảm nhận tác động tích cực (+) đến Ý định chuyển đổi.
Lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003) được xây dựng nhằm giải thích ý định và hành vi sử dụng công nghệ. Tiếp đó, Venkatesh và cộng sự (2012) phát triển UTAUT2 cho bối cảnh tiêu dùng, bổ sung thói quen (Habit) như một yếu tố có khả năng dự báo hành vi và điều tiết mối quan hệ giữa ý định và hành vi sử dụng. Trong nghiên cứu này, Thói quen được xem là yếu tố có thể cản trở ý định chuyển đổi và các giả thuyết sau được đề xuất:
H5: Thói quen tác động tiêu cực (−) đến Ý định chuyển đổi.
H6: Rủi ro cảm nhận tác động tiêu cực (−) đến Ý định chuyển đổi.
Mô hình nghiên cứu
Từ cơ sở lý thuyết và các giả thuyết trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu
![]() |
Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định chuyển đổi sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, thuận tiện, kết hợp lấy mẫu theo kiểu quả cầu tuyết (snowball sampling) qua mạng xã hội và các nhóm học tập. Nghiên cứu phát ra 409 phiếu; thu về 238 phiếu hợp lệ từ học sinh, sinh viên trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các biến nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết PPM, TAM và UTAUT và được đo lường bằng thang Likert 5 mức độ. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SmartPLS theo phương pháp PLS-SEM, gồm đánh giá mô hình đo lường (độ tin cậy, AVE) và mô hình cấu trúc (f²); ý nghĩa thống kê được kiểm định bằng Bootstrapping (5.000 mẫu lặp, p < 0,05).
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu
Mô tả mẫu khảo sát
Trong số 238 phiếu hợp lệ, nữ chiếm đa số (66,3%) và xe máy là phương tiện di chuyển chính (43,8%). Đáng chú ý, đa số người khảo sát đã từng sử dụng xe buýt điện (63,3%), chỉ 3,4% chưa biết.
Kết quả mô hình đo lường
Bảng 1: Kết quả đánh giá độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo
| Khái niệm | Biến quan sát (giữ lại) | Outer loading | Cronbach's Alpha | CR | AVE |
|---|---|---|---|---|---|
| Mối quan tâm môi trường (EC) | EC1-EC4 | 0,713 - 0,850 | 0,813 | 0,874 | 0,635 |
| Bất mãn với phương tiện hiện tại (DIS) | DIS1-DIS4 | 0,757 - 0,844 | 0,803 | 0,867 | 0,621 |
| Tính hữu ích cảm nhận (PU) | PU1, PU3, PU4 | 0,770 - 0,848 | 0,740 | 0,851 | 0,656 |
| Tính dễ sử dụng cảm nhận (PEOU) | PEOU1-PEOU4 | 0,836 - 0.856 | 0,867 | 0,908 | 0,713 |
| Thói quen (HT) | HT2, HT3 | 0,717 - 0,993 | 0,771 | 0,854 | 0,749 |
| Rủi ro cảm nhận (PR) | PR1, PR3, PR4 | 0,788 - 0,954 | 0,844 | 0,892 | 0,735 |
| Ý định chuyển đổi (SI) | SI1, SI2, SI3, SI5 | 0,780 - 0,816 | 0,809 | 0,875 | 0,636 |
Nguồn: Kết quả tính toán từ dữ liệu SmartPLS của nhóm nghiên cứu
Kết quả Bảng 1 cho thấy, hệ số Cronbach's Alpha dao động từ 0,740 đến 0,867; độ tin cậy tổng hợp (CR) dao động từ 0,851 đến 0,908, đều > 0,70 (Hair và cộng sự, 2019). Giá trị phương sai trích trung bình (AVE) dao động từ 0,621 đến 0,749, đều cao hơn ngưỡng 0,50. Như vậy, các thang đo đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy và giá trị hội tụ.
Kết quả đánh giá mô hình cấu trúc
Bảng 2: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu (Bootstrapping 5.000 mẫu lặp)
| Giả thuyết | Mối quan hệ | Beta (β) | T Statistics | P Values | f² | Kết luận |
|---|---|---|---|---|---|---|
| H1 | EC → SI | 0,080 | 1,248 | 0,212 | 0,006 | Bác bỏ |
| H2 | DIS → SI | 0,198 | 3,633 | 0,000 | 0,044 | Chấp nhận |
| H3 | PU → SI | 0,287 | 4,062 | 0,000 | 0,083 | Chấp nhận |
| H4 | PEOU → SI | 0,134 | 2,128 | 0,033 | 0,019 | Chấp nhận |
| H5 | HT → SI | -0,141 | 1,493 | 0,135 | 0,025 | Bác bỏ |
| H6 | PR → SI | -0,191 | 2,058 | 0,040 | 0,044 | Chấp nhận |
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu SmartPLS của nhóm nghiên cứu
Kết quả kiểm định (Bảng 2) cho thấy 4/6 giả thuyết có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (chấp nhận H2, H3, H4, H6). Trong đó, Tính hữu ích cảm nhận tác động tích cực mạnh nhất (β = 0,287; p = 0,000), tiếp theo là Sự bất mãn với phương tiện hiện tại (β = 0,198; p = 0,000) và Tính dễ sử dụng cảm nhận (β = 0,134; p = 0,033). Rủi ro cảm nhận tác động tiêu cực (β = -0,191; p = 0,040). Trái lại, Mối quan tâm đến môi trường (H1) và Thói quen (H5) chưa đủ cơ sở chấp nhận do không đạt ý nghĩa thống kê.
Thảo luận kết quả nghiên cứu
Kết quả phân tích cho thấy Tính hữu ích cảm nhận có hệ số tác động lớn nhất đến Ý định chuyển đổi sang xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh, phù hợp với Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Davis, 1989). Ý định chuyển đổi có xu hướng tăng khi HSSV nhận thức được các giá trị sử dụng thực tế từ phương tiện, bao gồm việc tối ưu hóa thời gian và tính tiện lợi trong quá trình di chuyển.
Sự bất mãn với phương tiện hiện tại là yếu tố thúc đẩy có ý nghĩa thống kê, phù hợp với khung lý thuyết Lực đẩy - Lực kéo - Lực neo (PPM) của Lee (1966). Các điểm hạn chế của xe máy và xe buýt truyền thống như tình trạng ùn tắc giao thông, tiếp xúc trực tiếp với khói bụi và chi phí đi lại có thể tăng nhu cầu tìm kiếm phương tiện thay thế.
Tính dễ sử dụng cảm nhận có tác động cùng chiều đến Ý định chuyển đổi, cho thấy hệ thống tra cứu lộ trình trực quan và phương thức xác thực định danh điện tử có thể góp phần giảm khó khăn khi sử dụng dịch vụ.
Rủi ro cảm nhận có tác động ngược chiều ở mức có ý nghĩa thống kê, thể hiện yếu tố neo giữ trong mô hình PPM. Những lo ngại liên quan đến độ đúng giờ, khả năng xảy ra sự cố kỹ thuật và mức độ bao phủ của mạng lưới tuyến làm giảm ý định chuyển đổi, ngay cả khi học sinh, sinh viên nhận thức được tiện lợi ích của xe buýt điện.
Trong khi đó, biến Mối quan tâm môi trường và Thói quen chưa thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê đối với mẫu nghiên cứu.
Kết quả này cho thấy các yếu tố liên quan đến lợi ích sử dụng, trải nghiệm với phương tiện hiện tại và rủi ro cảm nhận có vai trò rõ hơn trong quyết định chuyển đổi của nhóm tham gia khảo sát.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP
Nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến Ý định chuyển đổi sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Ý định chuyển đổi chịu sự tác động chủ yếu từ các nhân tố thuộc lực kéo và lực neo. Cụ thể, Tính hữu ích cảm nhận, Sự bất mãn với phương tiện hiện tại và Tính dễ sử dụng cảm nhận có tác động cùng chiều; trong đó Tính hữu ích cảm nhận có mức độ tác động mạnh nhất. Rủi ro cảm nhận có tác động ngược chiều ở mức có ý nghĩa thống kê. Mối quan tâm môi trường và Thói quen chưa thể hiện tác động có ý nghĩa đối với mẫu khảo sát.
Từ ngày 1/7/2026, TP. Hồ Chí Minh áp dụng chính sách miễn phí vé xe buýt cho toàn bộ hành khách, hiện đã ghi nhận tổng lượng hành khách tăng 48% dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ trên các tuyến kết nối khu vực trường học: 53, 99 ,170,... Vì vậy, các đơn vị vận hành cần tích hợp hệ thống chỉ báo tải trọng theo thời gian thực các mức: bình thường, đông, quá tải trên ứng dụng và bảng điện tử tại khu vực trạm chờ. Từ dữ liệu tải trọng nêu trên, cơ quan điều hành có thể sử dụng để phân bổ phương tiện tăng cường trong khung giờ cao điểm giải quyết sự bất mãn với phương tiện hiện tại. Sở Giao thông Vận tải có thể khai thác dữ liệu định danh từ quá trình xác thực hành khách để thống kê mức độ sử dụng, thiết kế các chính sách trợ giá có trọng điểm sau khi giai đoạn miễn phí đại trà kết thúc.
Các giải pháp, định hướng thúc đẩy hành vi chuyển đổi cần được thực hiện đồng bộ, tập trung vào việc gia tăng lợi ích thực tế, tối ưu hóa trải nghiệm sử dụng và kiểm soát những rủi ro mà người dùng có thể nhận thức khi lựa chọn dịch vụ.
Nghiên cứu hiện có một số hạn chế như khả năng giải thích của mô hình ở mức trung bình và cỡ mẫu chưa lớn. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quy mô mẫu, bổ sung các biến kiểm soát; tiến hành kiểm định và kết hợp phân tích các yếu tố nhân khẩu học, nghiên cứu theo chiều dọc để đánh giá hành vi thực tế nhằm đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng.
(*) Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện đề tài SV2026-388.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Xây dựng (2026). Năm 2026, hơn 50% xe buýt của TP Hồ Chí Minh sử dụng điện. https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1340/91285/nam-2026--hon-50-xe-buyt-cua-tp-ho-chi-minh-su-dung-dien.aspx
2. Davis, F. D. (1989). Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology. MIS Quarterly, 13(3), 319-340.
3. Hair, J. F., Risher, J. J., Sarstedt, M., & Ringle, C. M. (2019). When to use and how to report the results of PLS-SEM. European Business Review, 31(1), 2-24.
4. Lee, E. S. (1966). A theory of migration. Demography, 3(1), 47-57.
5. Li, J., Zhang, A., Wang, C., Wang, S., & Liang, L. (2025). Switching behavior in the adoption of electric vehicle in China: Perspective of push-pull-mooring framework. Transportation Research Part A: Policy and Practice, 192, 104359. https://doi.org/10.1016/j.tra.2024.104359
6. Nguyen, M. H., & Pojani, D. (2023). Can electric buses entice more public transport use? Empirical evidence from Vietnam. Case Studies on Transport Policy, 13, 101040. https://doi.org/10.1016/j.cstp.2023.101040
7. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải.
8. Venkatesh, V., Morris, M. G., Davis, G. B., & Davis, F. D. (2003). User acceptance of information technology: Toward a unified view. MIS Quarterly, 27(3), 425-478.
9. Venkatesh, V., Thong, J. Y. L., & Xu, X. (2012). Consumer acceptance and use of information technology: Extending the unified theory of acceptance and use of technology. MIS Quarterly, 36(1), 157-178.
10. VinBus (2026). VinBus chính thức khai thác 9 tuyến buýt tại TP. Hồ Chí Minh kể từ ngày 1/3/2026. https://vinbus.vn/vi/vinbus-chinh-thuc-khai-thac-9-tuyen-buyt-tai-tp-ho-chi-minh-ke-tu-ngay-01-3-2026
11. Wang, S., Wang, J., & Yang, F. (2020). From willingness to action: Do push-pull-mooring factors matter for shifting to green transportation? Transportation Research Part D: Transport and Environment, 79, 102242. https://doi.org/10.1016/j.trd.2020.102242
12. Zhang, J., & Rasiah, R. (2025). Factors influencing customers' switching intentions to new energy vehicles based on the push-pull mooring model using SEM-ANN approach in Shanxi, China. Scientific Reports, 15, 27140. https://doi.org/10.1038/s41598-025-12945-0
| Ngày nhận bài: 7/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 16/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ
Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội
Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam
Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội
