Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam
TS. Đoàn Tiến Ban
Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn
Email: [email protected]
TS. Phạm Vũ Hà Thanh
TS. Nguyễn Thị Việt Lê
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam, sử dụng dữ liệu Khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới năm 2023. Kết quả mô hình cơ sở cho thấy biến foreign_tech có hệ số 0,31 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (p = 0,021). Khi giới hạn mẫu vào doanh nghiệp trong nước và đồng thời kiểm soát đổi mới quy trình, đổi mới sản phẩm, R&D, tuổi, quy mô và ngành, tại mô hình mở rônghệ số foreign_tech vẫn dương và có ý nghĩa ở mức 10% (β = 0,328; p = 0,054). Trong mô hình mở rộng, các biến đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình và R&D không đạt ý nghĩa thống kê. Kết quả này đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa khả năng tiếp nhận và khai thác công nghệ bên ngoài và năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó gợi mở các định hướng nhằm ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo vào tăng năng suất lao động.
Từ khóa: Tiếp nhận công nghệ nước ngoài, năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, năng lực hấp thụ, doanh nghiệp Việt Nam
Abstract
This study examines the relationship between foreign technology adoption and labor productivity among Vietnamese firms, using data from the World Bank Enterprise Survey 2023. The baseline model shows that the coefficient on foreign_tech is 0.31 and statistically significant at the 5% level (p = 0.021). When the sample is restricted to domestic firms and controls are included for process innovation, product innovation, research and development (R&D), firm age, firm size, and industry, the coefficient on foreign_tech remains positive and statistically significant at the 10% level in the extended model (β = 0.328; p = 0.054). In the extended model, product innovation, process innovation, and R&D are not statistically significant. These findings provide empirical evidence of the relationship between firms’ ability to adopt and exploit external technologies and labor productivity in Viet Nam. They also offer policy implications for promoting technology adoption and innovation as means of improving labor productivity.
Keywords: Foreign technology adoption, labor productivity, innovation, absorptive capacity, Vietnamese firms
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đổi mới sáng tạo và tiếp nhận công nghệ là những yếu tố quan trọng trong quá trình nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghị quyết 57/NQ-TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển; tạo cơ sở chính sách cho việc nghiên cứu các yếu tố công nghệ gắn với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp (Bộ Chính trị, 2024). Ở cấp độ doanh nghiệp, nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy mối quan hệ giữa đổi mới và năng suất có thể tồn tại, nhưng cường độ và thời gian xuất hiện của mối quan hệ này phụ thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp, ngành và cách thức đo lường đổi mới.
Nghiên cứu của Griffith và cộng sự (2006) chỉ ra mối quan hệ giữa đổi mới và tăng trưởng năng suất tại các nước châu Âu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của năng lực công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D). Biagi và cộng sự (2008) cho thấy đổi mới tổ chức có thể tạo thêm hiệu quả khi kết hợp với đổi mới sản phẩm. Tại các nền kinh tế đang phát triển, hạn chế về nguồn lực R&D, nhân lực kỹ thuật và khả năng tự phát triển công nghệ khiến việc tiếp nhận tri thức và công nghệ từ bên ngoài trở thành một kênh quan trọng của quá trình học hỏi công nghệ. Tetteh (2023), trong nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Ghana, cũng cho thấy R&D, đổi mới sản phẩm, quy mô và sở hữu nước ngoài có thể liên quan đến năng suất, nhưng các mối quan hệ này cần được đánh giá trong bối cảnh cụ thể của từng nền kinh tế. Coe và Helpman (1995) nhấn mạnh vai trò của lan tỏa R&D quốc tế, trong khi Keller (2004) tổng quan bằng chứng cho thấy công nghệ có thể được lan tỏa qua các kênh quốc tế. Đối với doanh nghiệp, việc tiếp nhận công nghệ đã được phát triển và kiểm nghiệm có thể rút ngắn thời gian học hỏi so với việc tự phát triển toàn bộ công nghệ.
Các nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay thường tiếp cận năng suất thông qua hoạt động đổi mới, R&D hoặc đặc điểm công nghệ nói chung. Trong khi việc tiếp nhận nguồn công nghệ được cấp phép từ doanh nghiệp nước ngoài, chưa được xem xét đầy đủ như một yếu tố gắn với năng suất lao động ở cấp độ doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về nguồn lực R&D và năng lực tự phát triển công nghệ, vì vậy để làm rõ việc tiếp nhận công nghệ bên ngoài còn có mối liên hệ với năng suất hay không là rất cần thiết.
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu WBES Việt Nam năm 2023 để phân tích mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ được cấp phép của doanh nghiệp nước ngoài và năng suất lao động, đồng thời kiểm tra kết quả trên nhóm doanh nghiệp trong nước. Cách tiếp cận này góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò của công nghệ được tiếp nhận từ bên ngoài đối với năng suất của doanh nghiệp Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Lý thuyết khuếch tán và chuyển giao công nghệ
Công nghệ là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định khả năng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự phân bổ công nghệ giữa các doanh nghiệp và quốc gia không đồng đều đã tạo ra khoảng cách về năng suất và năng lực sản xuất. Lý thuyết khuếch tán công nghệ cho rằng, những khác biệt này có thể được thu hẹp thông qua quá trình lan truyền và tiếp nhận tri thức, công nghệ và phương thức sản xuất từ các doanh nghiệp hoặc quốc gia có trình độ công nghệ cao hơn (Nelson và Phelps, 1966; Mansfield, 1968; Keller, 2004). Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp ở các nền kinh tế đi sau không nhất thiết phải tự phát triển toàn bộ công nghệ từ đầu mà có thể rút ngắn quá trình bằng cách tiếp nhận những công nghệ đã được phát triển và kiểm nghiệm ở bên ngoài.
Lý thuyết chuyển giao công nghệ, xem công nghệ không chỉ là máy móc, thiết bị vật chất mà còn bao hàm tri thức kỹ thuật, quy trình sản xuất, phương thức tổ chức và bí quyết vận hành. Nelson và Phelps (1966) cho rằng, khoảng cách công nghệ có thể tạo ra cơ hội bắt kịp đối với các nền kinh tế và doanh nghiệp đi sau, bởi khả năng tiếp thu công nghệ tiên tiến có thể giúp họ cải thiện năng suất nhanh hơn so với việc chỉ dựa vào đổi mới nội sinh. Quá trình này có thể được khái quát thành chuỗi tiếp nhận - học hỏi - thích nghi - cải tiến. Lập luận này phù hợp với tổng quan của Keller (2004) về khuếch tán công nghệ quốc tế và bằng chứng về lan tỏa R&D quốc tế của Coe và Helpman (1995).
Lý thuyết năng lực hấp thụ
Cohen và Levinthal (1990) định nghĩa năng lực hấp thụ là khả năng của doanh nghiệp trong việc nhận diện giá trị của tri thức mới từ bên ngoài, tiếp thu, đồng hóa và khai thác tri thức đó cho mục tiêu thương mại. Theo cách tiếp cận này, tác động của công nghệ bên ngoài không diễn ra tự động. Doanh nghiệp cần có năng lực nội tại để hiểu, vận hành, điều chỉnh và tích hợp công nghệ vào hệ thống sản xuất hiện có. Từ góc độ này, tiếp nhận công nghệ nước ngoài và đổi mới nội sinh không nhất thiết là 2 con đường thay thế hoàn toàn. Công nghệ bên ngoài có thể cung cấp nền tảng tri thức và phương thức sản xuất mới, trong khi quá trình vận hành và thích nghi có thể giúp doanh nghiệp tích lũy năng lực công nghệ nội sinh. Teece và cộng sự (1997) và Teece (2007) cũng nhấn mạnh vai trò của năng lực động trong việc doanh nghiệp tích hợp, xây dựng và tái cấu hình nguồn lực để thích ứng với môi trường công nghệ.
Giả thuyết nghiên cứu
Kết hợp 2 nền tảng lý thuyết trên cho thấy, doanh nghiệp có thể tiếp cận tri thức và công nghệ phát triển bên ngoài, điều này giúp doanh nghiệp giảm bớt sự phụ thuộc vào quá trình tự phát triển công nghệ và có khả năng rút ngắn quá trình tích lũy năng lực công nghệ (Keller, 2004). Lý thuyết năng lực hấp thụ cho rằng lợi ích của công nghệ bên ngoài phụ thuộc vào khả năng doanh nghiệp tiếp thu, đồng hóa và khai thác tri thức được chuyển giao (Cohen và Levinthal, 1990; Zahra và George, 2002). Khi 2 điều kiện này cùng tồn tại, công nghệ được tiếp nhận có thể hỗ trợ doanh nghiệp cải thiện quy trình sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và qua đó gắn với năng suất lao động cao hơn.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cũng cho thấy mối quan hệ giữa công nghệ, đổi mới và năng suất không nhất thiết đồng nhất giữa các doanh nghiệp. Kết quả có thể phụ thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp, ngành, cách thức tiếp nhận công nghệ và năng lực khai thác tri thức bên ngoài. Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết: Việc tiếp nhận công nghệ được cấp phép từ doanh nghiệp nước ngoài có mối liên hệ tích cực với năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu và mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ World Bank Enterprise Surveys (WBES) của Việt Nam trong đợt khảo sát năm 2023 (World Bank, 2024). Mẫu ban đầu của nghiên cứu gồm 1.028 doanh nghiệp. Sau khi xử lý các biến và dữ liệu thiếu, số quan sát sử dụng trong mô hình cơ sở là 975; trong mô hình trên nhóm doanh nghiệp trong nước và có bổ sung các biến đổi mới là 842.
Đo lường các biến
Biến phụ thuộc là Năng suất lao động (Labor Productivity - LP), được đo bằng doanh thu trên một lao động và chuyển sang logarit tự nhiên để giảm ảnh hưởng của phân phối lệch và các giá trị cực đoan. Biến giải thích chính foreign_tech phản ánh việc doanh nghiệp sử dụng công nghệ được cấp phép từ doanh nghiệp nước ngoài.
Các biến kiểm soát gồm: Tuổi doanh nghiệp (firm_age), Quy mô doanh nghiệp (size) và Ngành (industry), Mức độ đầu tư vốn trên lao động (ln_capw). Trong mô hình mở rộng trên doanh nghiệp trong nước, nghiên cứu bổ sung Đổi mới quy trình (process_innov), Đổi mới sản phẩm (product_innov) và R&D(rd). Các biến này được đưa vào như các đặc điểm hoạt động có khả năng liên quan đến Năng suất lao động.
Bảng 1: Mô tả biến và đo lường biến nghiên cứu
| Nhóm | Tên biến | Tên viết tắt | Cách đo lường | Nguồn |
|---|---|---|---|---|
| Biến phụ thuộc | Năng suất lao động | LP | ln(Tổng doanh thu / Số lao động thường xuyên, toàn thời gian) | WBES, d2, l1 |
| Biến độc lập | Tiếp nhận công nghệ | foreign_tech | Doanh nghiệp sử dụng công nghệ được cấp phép từ doanh nghiệp nước ngoài | WBES a4a |
| Kiểm soát | Mức độ đầu tư vốn | ln_capw | ln(Mức độ đầu tư vốn trên mỗi lao động) | WBES (n5a, n5b) |
| Kiểm soát | Tuổi doanh nghiệp | firm_age | Số năm doanh nghiệp hoạt động | WBES, b5 |
| Kiểm soát | Quy mô doanh nghiệp | size | Phân loại theo quy mô: nhỏ, vừa và lớn; nhóm nhỏ làm nhóm tham chiếu | WBES, a6a |
| Kiểm soát | Ngành kinh tế | industry | Biến giả theo nhóm ngành hoạt động; một nhóm ngành làm nhóm tham chiếu | WBES, a4a |
| Kiểm định bổ sung | Đổi mới sản phẩm | product_innov | 1 = doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm/ dịch vụ mới hoặc được cải tiến; 0 = ngược lại | WBES, h1
|
| Kiểm định bổ sung | Đổi mới quy trình | process_innov | 1 = doanh nghiệp giới thiệu quy trình/ phương pháp sản xuất mới hoặc được cải tiến; 0 = ngược lại | WBES, h5 |
| Kiểm định bổ sung | Nghiên cứu và phát triển | rd | 1 = doanh nghiệp có thực hiện hoạt động R&D; 0 = ngược lại | WBES, h8 |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Mô hình nghiên cứu và phương pháp ước lượng
Mô hình cơ sở được đặc tả như sau:
LPᵢ = β₀ + β₁foreign_techᵢ + β₂ln_capwᵢ + β₃firm_ageᵢ ++ Σγhsizehᵢ + Σδₖindustryₖᵢ + εᵢ
Mô hình mở rộng bổ sung các biến đổi mới:
LPᵢ = β₀ + β₁foreign_techᵢ + β₂process_innovᵢ + β₃product_innovᵢ + β₄rdᵢ + β₅firm_ageᵢ + β6ln_capwᵢ + Σγhsizehᵢ + Σδₖindustryₖᵢ + εᵢ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu cho thấy, tại thời điểm năm 2023, công nghệ nước ngoài chưa được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể, chỉ khoảng 10,5% doanh nghiệp trong mẫu được ghi nhận có sử dụng công nghệ nước ngoài. Kết quả này cho thấy mức độ tiếp cận và ứng dụng công nghệ từ bên ngoài còn tương đối hạn chế trong khu vực doanh nghiệp, qua đó gợi ý dư địa đáng kể cho việc tăng cường tiếp nhận và chuyển giao công nghệ. Với tổng số quan sát dao động từ 975 đến 1028 mẫu phù hợp để thực hiện nghiên cứu.
Bảng 2: Thống kê mô tả
|
| count | mean | sd | min | max |
|---|---|---|---|---|---|
| LP | 1025 | 20,543 | 1,471 | 13,995 | 25,763 |
| foreign_tech | 1009 | 0,105 | 0,307 | 0 | 1 |
| ln_capw | 975 | 6,731 | 8,396 | 0 | 25,039 |
| process_innov | 1011 | 0,084 | 0,278 | 0 | 1 |
| product_innov | 1022 | 0,112 | 0,315 | 0 | 1 |
| Rd | 1019 | 0,061 | 0,239 | 0 | 1 |
| firm_age | 1028 | 14,247 | 8,279 | 1 | 78 |
| Size | 1028 | 1,974 | 0,810 | 1 | 3 |
| Industry | 1028 | 4,020 | 2,005 | 1 | 7 |
| Observations | 1028 |
|
|
|
|
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ dữ liệu WBES Việt Nam 2023 và kết quả ước lượng Stata
Kiểm tra ma trận tương quan cho thấy foreign_tech có tương quan dương với Năng suất lao động (r = 0,0869; p < 0,01). Biến ln_capw cũng có tương quan dương (r = 0,1459; p < 0,01), trong khi tương quan giữa foreign_tech và ln_capw ở mức 0,1879. Các hệ số tương quan giữa các biến giải thích nhìn chung ở mức thấp đến trung bình, với hệ số tuyệt đối lớn nhất khoảng 0,36, cho thấy chưa có dấu hiệu rõ ràng về đa cộng tuyến nghiêm trọng. Kết quả này được củng cố bởi kiểm định VIF trong mô hình hồi quy.
Kết quả hồi quy OLS
Mô hình cơ sở
Kết quả hồi quy tại Bảng 3 cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể với F(11,963) = 22,36 và p < 0,001, các biến giải thích trong mô hình, xét chung, có mối liên hệ có ý nghĩa với Năng suất lao động. Hệ số R2 = 0,1893 phản ánh kết quả mô hình giải thích khoảng 18,93% biến thiên của Năng suất lao động. Mô hình cơ sở có foreign_tech có hệ số 0,310, sai số chuẩn robust 0,1342 và p = 0,021, , hệ số mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, ủng hộ giả thuyết. Với biến phụ thuộc là logarit của doanh thu trên một lao động, exp(0,310)-1 ≈ 36,4% giải thích rằng nhóm doanh nghiệp có tiếp nhận công nghệ nước ngoài có mức năng suất lao động cao hơn khoảng 36,4% so với nhóm không tiếp nhận, khi các yếu tố khác trong mô hình được kiểm soát.
Biến Mức độ sử dụng vốn trên lao động có hệ số 0,023, với mức ý nghĩa nhỏ hơn 10% cho thấy biến này có mối quan hệ tích cực với Năng suất lao động. So với nhóm doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa có hệ số 0,6287 và doanh nghiệp lớn có hệ số 0,5598, đều có ý nghĩa ở mức 1%. Trong khi đó, Tuổi doanh nghiệp có hệ số 0,002 và p = 0,974, không đạt ý nghĩa thống kê.
Bảng 3: Mô hình hồi quy OLS cơ sở
| Biến | Hệ số | SE robust | P-value |
|---|---|---|---|
| foreign_tech | 0,310 | 0,1342 | 0,021 |
| ln_capw | 0,023 | 0,005 | < 0,001 |
| firm_age | 0,002 | 0,003 | 0,974 |
| Size 2 (vừa) | 0,6287 | 0,110 | < 0,001 |
| Size 3 (lớn) | 0,5598 | 0,1264 | < 0,001 |
| Industry dummies | Có | — | — |
| Observations | 975 | — | — |
| R² | 0,1893 | — | — |
| F(11,963) | 22,36 | — | < 0,001 |
Kiểm tra độ bền trên nhóm doanh nghiệp trong nước
Nghiên cứu thực hiện kiểm chứng mối liên hệ giữa foreign_tech và Năng suất trong trường hơp doanh nghiệp không nhận vốn từ nước ngoài FDI. Đồng thời, mô hình này bổ sung biến Đổi mới quy trình, Đổi mới sản phẩm và R&D. Kết quả cho thấy foreign_tech vẫn có hệ số dương 0,328 và p = 0,054. Như vậy, biến này vẫn có ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
Hệ số 0,328 tương ứng exp(0,328)-1 ≈ 38,8% cho thấy rằng đối với các doanh nghiệp trong nước, chênh lệch năng suất lao động có điều kiện giữa doanh nghiệp tiếp nhận và không tiếp nhận công nghệ nước ngoài vào khoảng 38,8%, khi các biến khác không đổi. So với mô hình cơ sở, hệ số tăng từ 0,310 lên 0,328, dấu và ý nghĩa thống kê được duy trì cho thấy tính ổn định tương đối của mô hình. Tuy nhiên, mức ý nghĩa thống kê giảm từ 5% xuống 10%, điều này có thể lý giải do sự thu hẹp quy mô mẫu và do đó làm giảm độ chính xác của ước lượng.
Bảng 4: So sánh mô hình cơ sở và mô hình trên doanh nghiệp trong nước
| Biến | Mô hình cơ sở | DN trong nước + đổi mới | SE robust (M2) | P-value (M2) |
|---|---|---|---|---|
| foreign_tech | 0,310 | 0,328 | 0,17 | 0,054 |
| ln_capw | 0,023 | 0,021 | 0,005 | < 0,001 |
| process_innov | — | 0,081 | 0,164 | 0,623 |
| product_innov | — | -0,075 | 0,184 | 0,615 |
| Rd | — | -0,081 | 0,166 | 0,658 |
| N | 975 | 842 | — | — |
| R² | 0,1893 | 0,1759 | — | — |
Vai trò của đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình và R&D
Trong mô hình trên nhóm doanh nghiệp trong nước, process_innov n có hệ số 0,081 (p = 0,623), product_innov có hệ số -0,075 (p = 0,615) và rd có hệ số -0,081 (p = 0,658). Cả 3 biến đều không đạt ý nghĩa thống kê ở các mức thông thường. Như vậy nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ độc lập giữa các biến đo lường này và Năng suất trong mẫu và đặc tả hiện tại. Nguyên nhân của việc chưa tồn tại mối quan hệ giữa Đổi mới và Năng suất lao đông có thể chủ yếu do khảo sát chỉ phản ánh việc doanh nghiệp có thực hiện một hoạt động đổi mới hay không, trong khi chưa phản ánh đầy đủ cường độ, chất lượng, mức độ mới hoặc hiệu quả kinh tế của đổi mới. Ngoài ra, tác động của Đổi mới có thể cần thời gian để xuất hiện trong Năng suất. Kết quả này khác với một số nghiên cứu cho thấy đổi mới có thể gắn với năng suất (Arvanitis, 2006; Griffith và cộng sự, 2006) nhưng sự khác biệt có thể liên quan đến cách đo lường, thời điểm quan sát và đặc điểm mẫu.
Quy mô doanh nghiệp và các yếu tố kiểm soát
Quy mô doanh nghiệp là một trong những yếu tố có kết quả ổn định nhất. Trong mô hình cơ sở và trong trường hợp sử dụng mẫu doanh nghiệp trong nước có bổ sung các biến đổi mới, hệ số cũng đều có ý nghĩa ở mức 1%. Điều này cho thấy khác biệt về quy mô có liên hệ đáng kể với năng suất lao động và cần được kiểm soát khi đánh giá mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ và năng suất. Biến Mức độ đầu tư vốn trên lao động cũng vẫn mang dấu dương và có ý nghĩa thông kê cao. Ngược lại, Tuổi doanh nghiệp không có ý nghĩa thống kê trong cả 2 đặc tả. Vì vậy, dữ liệu hiện tại chưa cung cấp đủ bằng chứng về một mối liên hệ giữa Tuổi doanh nghiệp và Năng suất sau khi kiểm soát các đặc điểm khác trong mô hình. Các hệ số ngành cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm ngành, điều này cho thấy đặc điểm công nghệ và mức độ thâm dụng lao động của ngành có thể là yếu tố quan trọng giải thích khác biệt về năng suất.
THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ HÀM Ý ĐỀ XUẤT
Kết quả nghiên cứu cho thấy foreign_tech có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với Năng suất lao động; nhất quán giữa mô hình cơ sở trên toàn bộ mẫu (β = 0,310; p = 0,021) và mô hình của doanh nghiệp trong nước có bổ sung các biến đổi mới (β = 0,328; p = 0,054). Kết quả này cho thấy mối liên hệ tích cực giữa việc tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động không phụ thuộc riêng vào sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI. Ngược lại, hệ số tăng nhẹ trong mẫu doanh nghiệp trong nước cho thấy mối liên hệ này thậm chí còn rõ hơn trong nhóm doanh nghiệp nội địa.
Kết quả gợi ý rằng khả năng tiếp cận công nghệ bên ngoài là một yếu tố cần xem xét trong chính sách nâng cao năng suất. Các chương trình hỗ trợ có thể tập trung vào cung cấp thông tin về nguồn công nghệ, kết nối doanh nghiệp Việt Nam với nhà cung cấp công nghệ quốc tế, tư vấn lựa chọn công nghệ và giảm chi phí giao dịch trong quá trình cấp phép, mua bản quyền hoặc hợp tác kỹ thuật. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên chú trọng sự phù hợp giữa công nghệ, năng lực tài chính và nhu cầu sản xuất thay vì khuyến khích đầu tư công nghệ một cách chung chung.
Đối với việc chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp có thể tận dụng tri thức và công nghệ được phát triển bên ngoài để rút ngắn quá trình tích lũy năng lực công nghệ. Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu phù hợp với lập luận về khuếch tán công nghệ quốc tế và lan tỏa tri thức (Coe và Helpman, 1995; Keller, 2004). Tuy nhiên, nghiên cứu không quan sát trực tiếp quá trình doanh nghiệp học hỏi hay thích nghi công nghệ, nên không thể xác định mức độ mà các cơ chế này giải thích chênh lệch năng suất.
Từ góc độ năng lực hấp thụ, Cohen và Levinthal (1990) cho rằng doanh nghiệp cần năng lực nhận diện, tiếp thu, đồng hóa và khai thác tri thức bên ngoài. Do đó, việc ứng dụng công nghệ không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tự động tăng năng suất. Khả năng vận hành, đào tạo, thích nghi và tích hợp công nghệ có thể là những điều kiện quan trọng, nhưng các yếu tố này chưa được đo lường đầy đủ trong mô hình. Tuy nhiên, mối liên hệ dương và có ý nghĩa thống kê cho thấy chính sách không nên chỉ hỗ trợ khâu mua hoặc tiếp nhận công nghệ mà có thể kết hợp hỗ trợ công nghệ với đào tạo nhân lực, tư vấn kỹ thuật, hướng dẫn vận hành và hỗ trợ điều chỉnh quy trình sản xuất. Cách tiếp cận này phù hợp với lý thuyết năng lực hấp thụ, theo đó lợi ích từ tri thức bên ngoài phụ thuộc vào khả năng doanh nghiệp nhận diện, đồng hóa và khai thác tri thức.
Trong mô hình hiện tại, process_innov, product_innov và rd không đạt ý nghĩa thống kê. Dù vậy không thể phủ nhận giá trị của hoạt động này. Chính sách cần quan tâm hơn đến chất lượng đổi mới, mức độ ứng dụng, khả năng thương mại hóa, thời gian đưa công nghệ vào vận hành và kết quả kinh doanh. Việc đánh giá hiệu quả đổi mới chỉ dựa trên việc doanh nghiệp có hay không có R&D hoặc đổi mới có thể bỏ qua khác biệt lớn về cường độ và chất lượng.
Quy mô doanh nghiệp có mối liên hệ dương và có ý nghĩa thống kê trong cả 2 đặc tả. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể cần các công cụ hỗ trợ như: thông tin công nghệ, tư vấn lựa chọn và triển khai công nghệ, đào tạo nhân lực và hỗ trợ chi phí thử nghiệm. Trong khi đó, doanh nghiệp lớn có thể phù hợp hơn với các chương trình khuyến khích đầu tư và tích hợp công nghệ phức tạp. Đây là hàm ý dựa trên mối liên hệ quan sát được và cần được kiểm chứng thêm bằng các thiết kế nghiên cứu có khả năng nhận diện nhân quả.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa tiếp nhận công nghệ nước ngoài và năng suất lao động của doanh nghiệp Việt Nam, sử dụng dữ liệu WBES năm 2023. Kết quả cho thấy foreign_tech có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với Năng suất lao động. Trong mô hình cơ sở, hệ số foreign_tech đạt 0,310 (p = 0,021). Khi giới hạn mẫu ở các doanh nghiệp trong nước và bổ sung các biến Đổi mới sản phẩm, Đổi mới quy trình và R&D, hệ số vẫn dương và có ý nghĩa thống kê (β = 0,328; p = 0,054). Nghiên cứu cũng cho thấy Đổi mới sản phẩm, Đổi mới quy trình và R&D chưa cho thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với năng suất trong mô hình hiện tại.
Những kết quả cho thấy khả năng tiếp nhận và khai thác công nghệ từ bên ngoài là một yếu tố đáng được quan tâm trong quá trình nâng cao năng suất của doanh nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, các kết quả phản ánh mối liên hệ thống kê và chưa đủ cơ sở để khẳng định quan hệ nhân quả. Các nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng dữ liệu theo thời gian và các phương pháp phù hợp hơn để làm rõ cơ chế và chiều tác động giữa tiếp nhận công nghệ, đổi mới và năng suất lao động.
Tài liệu tham khảo:
1. Arvanitis, S. (2006). Innovation and labour productivity in the Swiss manufacturing sector: An analysis based on firm panel data (KOF Working Paper No. 149). ETH Zurich
2. Biagi, F., Parisi, M. L., & Vergano, L. (2008). Organizational innovations and labor productivity in a panel of Italian manufacturing firms. Discussion Paper No. 0813. University of Brescia
3. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
4. Coe, D. T., & Helpman, E. (1995). International R&D spillovers. European Economic Review, 39(5), 859-887. https://doi.org/10.1016/0014-2921(94)00100-E
5. Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative Science Quarterly, 35(1), 128-152. https://doi.org/10.2307/2393553
6. Griffith, R., Huergo, E., Mairesse, J., & Peters, B. (2006). Innovation and productivity across four European countries. Oxford Review of Economic Policy, 22(4), 483-498. https://doi.org/10.1093/oxrep/grj028
7. Keller, W. (2004). International technology diffusion. Journal of Economic Literature, 42(3), 752-782. https://doi.org/10.1257/0022051042177685
8. Mansfield, E. (1968). Industrial research and technological innovation: An econometric analysis. W. W. Norton & Company
9. Nelson, R. R., & Phelps, E. S. (1966). Investment in humans, technological diffusion, and economic growth. The American Economic Review, 56(1/2), 69-75.
10. Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: The nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance. Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350. https://doi.org/10.1002/smj.640
11. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509-533. https://doi.org/10.1002/(SICI)1097-0266(199708)18:7<509::aid-smj882>3.0.CO;2-Z
12. Tetteh, C. K. (2023). R&D, innovation and labour productivity: Evidence from the manufacturing sector in Ghana (ISSER Working Paper). University of Ghana.
13. World Bank (2024). Enterprise Surveys: Vietnam 2023. https://www.enterprisesurveys.org
14. Zahra, S. A., & George, G. (2002). Absorptive capacity: A review, reconceptualization, and extension. Academy of Management Review, 27(2), 185-203. https://doi.org/10.5465/amr.2002.6587995
| Ngày nhận bài: 20/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 13/10/2026 |
Các tin khác
Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhà nước
Nghiên cứu nhân tố tác động đến lòng trung thành thương hiệu: Tình huống nghiên cứu trong ngành thực phẩm
Tinh hoa tư tưởng Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đối với công tác tổ chức cán bộ trong kỷ nguyên mới
SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc
Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách