Liên kết giữa Nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:05 | 08/09/2026
Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc nghiên cứu mối liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và thúc đẩy ĐMST có ý nghĩa cấp thiết.

ThS. Nguyễn Văn Trai

Học viện Chính trị khu vực IV; Email: nguyentraihv4@gmail.com

Nguyễn Quốc Trung

Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Đồng Tháp

Nguyễn Thị Kim Xuyến

Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã - Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã Đông Hiệp, TP. Cần Thơ

Tóm tắt

Trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, việc tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân có ý nghĩa quyết định đối với đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ ở Việt Nam. Bài viết phân tích thực trạng liên kết giữa các chủ thể trong giai đoạn 2013-2024 thông qua các chỉ tiêu về đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo và sự tham gia của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực vẫn tồn tại tình trạng liên kết lỏng lẻo, năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế và cơ chế huy động nguồn lực cho đổi mới sáng tạo chưa đồng bộ. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Từ khóa: Liên kết 4 nhà, nguồn nhân lực, năng lực hấp thụ công nghệ, đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ

Abstract

In the context of science and technology, innovation, and digital transformation becoming important drivers of economic growth, strengthening linkages among the government, businesses, scientists, and citizens is crucial for human resource training and improving technological absorptive capacity in Viet Nam. The paper analyzes the current state of linkages among these stakeholders during the 2013-2024 period using indicators of investment in research and development, science and technology human resources, innovation capacity, and business participation. The results show that, despite positive changes, there are still weak linkages among the stakeholders, limited technological absorptive capacity among businesses, and an uncoordinated mechanism for mobilizing resources for innovation. Based on these findings, the paper proposes several policy implications to improve institutions, develop human resources, and enhance the effectiveness of the national innovation ecosystem.

Keywords: Four-Party Linkages, human resources, technological absorptive capacity, innovation, science and technology

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh kinh tế tri thức, chuyển đổi số (CĐS) và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tạo ra của cải xã hội, khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) đã trở thành nguồn lực sản xuất trực tiếp, quyết định năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhận thức rõ xu thế đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia, xác định phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia là đột phá chiến lược hàng đầu, là động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và tạo lập nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn phát triển mới (Bộ Chính trị, 2024).

Tuy nhiên, sự phát triển của KHCN và ĐMST không chỉ phụ thuộc vào quy mô đầu tư hay số lượng công trình nghiên cứu mà còn phụ thuộc vào khả năng kết nối và chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế - xã hội. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa hoạt động nghiên cứu với nhu cầu của thị trường; nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa; doanh nghiệp chưa thực sự trở thành trung tâm của hệ thống ĐMST; năng lực hấp thụ, làm chủ và lan tỏa công nghệ còn hạn chế. Trong khi đó, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội vẫn vận hành theo những không gian tương đối tách biệt, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và hạn chế khả năng hình thành các chuỗi liên kết ĐMST có giá trị gia tăng cao.

Bản chất của vấn đề không nằm ở sự thiếu hụt tri thức hay nguồn lực đơn thuần, mà nằm ở cơ chế liên kết giữa các chủ thể tham gia quá trình sáng tạo, truyền bá và ứng dụng tri thức. Khi Nhà nước chưa thực hiện đầy đủ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp chưa đủ năng lực hấp thụ công nghệ, nhà khoa học thiếu động lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu và người dân chưa trở thành chủ thể tích cực của hệ sinh thái ĐMST, thì quá trình chuyển hóa tri thức thành động lực phát triển sẽ gặp nhiều rào cản. Điều đó làm xuất hiện mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh dựa trên KHCN với khả năng tổ chức, phối hợp và khai thác hiệu quả các nguồn lực ĐMST trong thực tiễn.

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc nghiên cứu mối liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và thúc đẩy ĐMST có ý nghĩa cấp thiết.

THỰC TRẠNG VỀ LIÊN KẾT “4 NHÀ” TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC, NÂNG CAO NĂNG LỰC HẤP THỤ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM

Kết quả đạt được

Trong những năm gần đây, hệ thống KHCN và ĐMST ở Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng cả về quy mô nguồn lực, cơ chế vận hành và mức độ tham gia của các chủ thể trong nền kinh tế. Quá trình hoàn thiện thể chế phát triển KHCN và ĐMST đã từng bước thúc đẩy sự gắn kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân, tạo nền tảng cho việc hình thành hệ sinh thái ĐMST quốc gia. Đây là quá trình chuyển dịch quan trọng nhằm đưa tri thức KHCN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Trước hết, vai trò kiến tạo và điều phối của Nhà nước ngày càng được khẳng định thông qua việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, CĐS và ĐMST. Các chương trình quốc gia về phát triển KHCN, đổi mới công nghệ, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, CĐS quốc gia và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và cộng đồng xã hội tham gia sâu hơn vào hoạt động ĐMST. Điều này cho thấy mối liên kết giữa Nhà nước với các chủ thể trong hệ sinh thái ĐMST đang từng bước được củng cố theo hướng tạo lập môi trường, định hướng và hỗ trợ phát triển.

Cùng với đó, khu vực doanh nghiệp ngày càng thể hiện rõ vai trò trung tâm trong hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ. Tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp vào tổng chi cho R&D tăng từ 39,97% năm 2013 lên 64,12% năm 2017 và đạt khoảng 58,06% năm 2023 (KH&CN, 2013, 2023). Xét theo khu vực thực hiện, doanh nghiệp hiện chiếm gần 77,76% tổng chi tiêu R&D của cả nước (Bộ KH&CN, 2024). Sự gia tăng đầu tư của doanh nghiệp phản ánh xu hướng chuyển dịch từ tiếp nhận công nghệ đơn thuần sang chủ động tham gia quá trình ĐMST. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để hình thành mối liên kết chặt chẽ hơn giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước trong đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghệ.

Đội ngũ nhà khoa học và nhân lực nghiên cứu tiếp tục tăng về số lượng và chất lượng. Đến năm 2023, cả nước có 173.041 nhà nghiên cứu; số lượng tiến sĩ tăng từ 14.376 người năm 2015 lên 27.302 người năm 2023 (Bộ KH&CN, 2024). Hệ thống các trường đại học và viện nghiên cứu từng bước mở rộng hoạt động hợp tác với doanh nghiệp thông qua nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đào tạo theo nhu cầu thị trường và hỗ trợ phát triển sản phẩm mới. Điều này cho thấy mối liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất đã có những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khả năng cung ứng tri thức cho nền kinh tế.

Bên cạnh đó, vai trò của người dân trong hệ sinh thái ĐMST ngày càng được mở rộng. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả KHCN mà còn từng bước trở thành chủ thể tham gia sáng tạo, khởi nghiệp và ứng dụng công nghệ vào sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp với khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST cùng các sự kiện Techfest, Techmart và các nền tảng số đã tạo điều kiện để người dân tiếp cận tri thức, công nghệ và tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo giá trị mới (Bộ KH&CN, 2022).

Năng lực hấp thụ công nghệ và ĐMST của doanh nghiệp cũng có những bước tiến đáng ghi nhận. Đến năm 2024, Việt Nam xếp thứ 44/133 nền kinh tế theo Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII), tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp (Bộ KH&CN, 2024). Sự hình thành các trung tâm ĐMST, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và mạng lưới ĐMST mở đã góp phần mở rộng không gian hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân. Điều này cho thấy nền tảng của hệ sinh thái ĐMST quốc gia đang từng bước được củng cố và phát triển.

Một số vấn đề đặt ra

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song mối liên kết giữa các chủ thể vẫn còn tồn tại những điểm nghẽn mang tính cấu trúc.

Một là, sự lệch pha giữa khu vực đào tạo, nghiên cứu với khu vực sản xuất kinh doanh vẫn còn khá rõ nét. Mặc dù nhân lực nghiên cứu tập trung nhiều nhất trong các cơ sở giáo dục đại học, chiếm 46,34% tổng số nhà nghiên cứu của cả nước, nhưng mối liên kết với doanh nghiệp còn hạn chế (Bộ KH&CN, 2024). Chỉ khoảng 24,06% nhân lực nghiên cứu và phát triển làm việc trực tiếp trong doanh nghiệp; số lượng tiến sĩ và thạc sĩ trong khu vực doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 3% tổng số cả nước. Điều này cho thấy quá trình dịch chuyển tri thức từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất còn chậm, làm cho một bộ phận đáng kể kết quả nghiên cứu chưa được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm hoặc giá trị gia tăng trong nền kinh tế. Khoảng cách giữa hoạt động đào tạo, nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp tiếp tục là một trong những điểm nghẽn quan trọng của hệ sinh thái ĐMST.

Hai là, năng lực hấp thụ công nghệ của phần lớn doanh nghiệp nội địa còn hạn chế. Hoạt động ĐMST chủ yếu dựa vào việc mua sắm máy móc, thiết bị mới, chiếm 39,4%, thay vì đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nội sinh (Bộ KH&CN, 2019). Trình độ công nghệ của doanh nghiệp vẫn còn khoảng cách xa so với nhóm dẫn đầu. Tỷ lệ doanh nghiệp hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu trong hoạt động ĐMST còn thấp; khoảng 80% doanh nghiệp cho biết họ thực hiện ĐMST một cách độc lập hoặc thiếu sự phối hợp với các chủ thể khác (Bộ KH&CN, 2019). Thực trạng này phản ánh khả năng tiếp nhận, làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ của doanh nghiệp còn yếu. Trong khi đó, tỷ lệ chi cho R&D trên GDP của Việt Nam mới đạt 0,42% vào năm 2023, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân khoảng 2% của nhóm 40 quốc gia dẫn đầu về ĐMST toàn cầu (Bộ KH&CN, 2024). Bên cạnh đó, một số bất cập về cơ chế giao quyền sở hữu, quyền khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước vẫn chưa được tháo gỡ triệt để, làm giảm động lực hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà khoa học trong quá trình ĐMST.

Ba là, vai trò của người dân trong hệ sinh thái KHCN và ĐMST chưa được phát huy đầy đủ. Mặc dù người dân vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể tham gia vào quá trình ĐMST, song mức độ tham gia thực tế còn hạn chế. Nhận thức của công chúng về các chính sách KHCN và ĐMST chưa cao; khoảng 64% công chúng chưa đánh giá rõ mức độ phù hợp của các chính sách đối với người làm khoa học (Bộ KH&CN, 2023). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút nguồn nhân lực tiềm năng cho các ngành khoa học cơ bản, công nghệ lõi và các lĩnh vực ĐMST có hàm lượng tri thức cao. Đồng thời, nó cũng cho thấy mối liên kết giữa hoạt động KHCN với nhu cầu và sự tham gia của xã hội chưa thực sự bền vững.

Nhìn tổng thể, liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và ĐMST ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn chưa hình thành được cơ chế phối hợp đồng bộ, hiệu quả và bền vững. Đây là điểm nghẽn quan trọng cần được tháo gỡ nhằm phát huy tối đa nguồn lực tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thực hiện mục tiêu “nâng cao năng suất, chất luợng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a).

MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Nhằm tăng cường liên kết giữa Nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ, ĐMST ở Việt Nam thời gian tới, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng kiến tạo phát triển, chấp nhận rủi ro và thúc đẩy liên kết thực chất giữa các chủ thể

Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt chủ trương, chính sách mà nằm ở khoảng cách giữa chủ trương với cơ chế thực thi. Trong nhiều trường hợp, hệ thống thể chế vẫn được xây dựng theo tư duy quản lý rủi ro hơn là khuyến khích ĐMST. Điều này dẫn đến nghịch lý là trong khi KHCN và ĐMST được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng thì các chủ thể trực tiếp tham gia ĐMST vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản về thủ tục, cơ chế tài chính, cơ chế sở hữu và phân chia lợi ích. Kết quả là chi phí giao dịch trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn ở mức cao, làm suy giảm động lực hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân.

Thực tiễn phát triển của các quốc gia có năng lực ĐMST cao cho thấy không có nền kinh tế nào xây dựng được hệ sinh thái ĐMST mạnh nếu thiếu một thể chế chấp nhận rủi ro. Bản chất của nghiên cứu khoa học và ĐMST là quá trình tìm kiếm cái mới, trong đó luôn tồn tại khả năng thất bại. Nếu mọi hoạt động nghiên cứu đều bị đánh giá bằng tiêu chí an toàn tuyệt đối, không chấp nhận sai số và rủi ro thì sẽ không thể hình thành những đột phá công nghệ có giá trị lớn. Do đó, cần chuyển mạnh từ tư duy kiểm soát quá trình sang đánh giá kết quả đầu ra; từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm; từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển.

Một trong những vấn đề cần ưu tiên giải quyết là hoàn thiện cơ chế sở hữu và khai thác tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước. Trên thực tế, nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị nhưng không được thương mại hóa hoặc thương mại hóa với quy mô rất nhỏ do chưa xác định rõ quyền sở hữu, quyền khai thác và cơ chế phân chia lợi ích. Khi nhà khoa học không được hưởng lợi ích tương xứng từ kết quả nghiên cứu, động lực sáng tạo sẽ bị suy giảm. Khi doanh nghiệp không có quyền tiếp cận hoặc khai thác ổn định các kết quả nghiên cứu, họ sẽ không sẵn sàng đầu tư nguồn lực để đưa công nghệ vào sản xuất. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về giao quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp theo nguyên tắc minh bạch, rõ trách nhiệm và hài hòa lợi ích.

Bên cạnh đó, cần mở rộng các cơ chế thử nghiệm chính sách đối với công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới và các sản phẩm ĐMST có tính đột phá. Trong điều kiện CĐS và kinh tế số phát triển nhanh, nếu thể chế luôn đi sau thực tiễn thì cơ hội đổi mới sẽ bị bỏ lỡ. Sandbox không chỉ là công cụ quản lý mà còn là môi trường thể chế để doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà đầu tư cùng tham gia thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ mới trước khi triển khai trên diện rộng.

Một yêu cầu quan trọng khác là thiết lập cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể trong hệ sinh thái ĐMST. Hiện nay, thông tin về nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu của các trường đại học, viện nghiên cứu, nhu cầu đào tạo nhân lực và nhu cầu đổi mới từ thực tiễn sản xuất còn phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau. Điều này làm gia tăng chi phí tìm kiếm thông tin và làm suy giảm hiệu quả kết nối giữa các chủ thể. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về KHCN, ĐMST và thị trường công nghệ theo hướng mở, liên thông và có khả năng chia sẻ rộng rãi.

Đặc biệt, cần bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách KHCN với chính sách phát triển doanh nghiệp, chính sách giáo dục - đào tạo và chính sách tài chính. Liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân chỉ có thể phát huy hiệu quả khi các chính sách được thiết kế đồng bộ, hướng tới mục tiêu chung là chuyển tri thức thành năng suất, công nghệ thành năng lực cạnh tranh và ĐMST thành động lực phát triển. Đây chính là điều kiện nền tảng để hình thành hệ sinh thái ĐMST hiện đại, có khả năng tạo ra những đột phá về năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và vị thế cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.

Thứ hai, đổi mới căn bản cơ chế đào tạo nguồn nhân lực theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu với doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường

Nguồn nhân lực là yếu tố trung tâm của quá trình ĐMST. Tuy nhiên, một trong những nghịch lý đang tồn tại là số lượng nhân lực có trình độ chuyên môn ngày càng gia tăng nhưng doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động đáp ứng yêu cầu công nghệ mới. Điều đó phản ánh khoảng cách đáng kể giữa hoạt động đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

Để khắc phục tình trạng này, cần chuyển mạnh từ mô hình đào tạo theo khả năng cung ứng sang đào tạo theo nhu cầu sử dụng. Doanh nghiệp phải trở thành chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, xác định chuẩn đầu ra, tổ chức thực hành và đánh giá năng lực người học. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần chuyển từ tư duy đào tạo những gì mình có sang đào tạo những gì nền kinh tế cần. Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở hoạt động thực tập, mà phải phát triển thành quan hệ hợp tác chiến lược trong nghiên cứu, đào tạo và phát triển công nghệ.

Cùng với đó, cần khuyến khích hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn từ các trường đại học và viện nghiên cứu nhằm rút ngắn quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại. Đây không chỉ là giải pháp thúc đẩy ĐMST mà còn là môi trường thực tiễn để đào tạo nguồn nhân lực có khả năng thích ứng với kinh tế số và công nghệ mới. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế luân chuyển nhân lực giữa khu vực nghiên cứu, khu vực công và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy dòng chảy tri thức, hạn chế tình trạng tách biệt giữa nghiên cứu với sản xuất.

Thứ ba, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh của doanh nghiệp

Đại hội XIV xác định “kinh tế nhà nước … giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b). Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái ĐMST, là nơi tiếp nhận, làm chủ, cải tiến và lan tỏa công nghệ vào nền kinh tế.

Vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ là tiếp cận công nghệ mà là năng lực hấp thụ công nghệ. Một doanh nghiệp có thể mua được máy móc hiện đại nhưng chưa chắc đã có khả năng vận hành, cải tiến và phát triển công nghệ đó thành lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực R&D, năng lực quản trị công nghệ, năng lực đổi mới mô hình kinh doanh và năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giải mã công nghệ, tiếp nhận công nghệ tiên tiến, từng bước tiến tới tự chủ công nghệ ở những lĩnh vực then chốt. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thông qua các quỹ khoa học và công nghệ, các trung tâm nghiên cứu doanh nghiệp và các mạng lưới hợp tác với trường đại học, viện nghiên cứu. Khi doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái ĐMST, mối liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất sẽ được củng cố bền vững hơn.

Thứ tư, đổi mới cơ chế tài chính và huy động nguồn lực xã hội cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Nguồn lực tài chính là điều kiện vật chất trực tiếp bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và ĐMST. Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay không đơn thuần là thiếu vốn mà là cơ chế phân bổ và sử dụng vốn chưa tạo được động lực đủ mạnh cho các chủ thể tham gia hệ sinh thái ĐMST.

Cần chuyển mạnh từ cơ chế cấp phát kinh phí theo đầu vào sang cơ chế phân bổ nguồn lực dựa trên kết quả đầu ra và hiệu quả ứng dụng. Ngân sách nhà nước cần tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu nền tảng, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và các lĩnh vực có tính lan tỏa cao mà khu vực tư nhân khó đầu tư. Trong khi đó, cần mở rộng cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ doanh nghiệp và xã hội để gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn.

Bên cạnh đó, cần phát triển các công cụ tài chính phục vụ ĐMST như quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, quỹ chuyển giao công nghệ và các mô hình hợp tác công - tư trong nghiên cứu và phát triển. Việc hình thành cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi ĐMST luôn gắn với khả năng thất bại và mức độ rủi ro cao. Chỉ khi rủi ro được phân bổ hợp lý, các chủ thể mới mạnh dạn đầu tư cho R&D.

Thứ năm, phát huy vai trò của người dân và thúc đẩy xã hội hóa hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Trong nền kinh tế tri thức, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo và lan tỏa tri thức. Vì vậy, phát triển hệ sinh thái ĐMST không thể chỉ dựa vào Nhà nước, doanh nghiệp và nhà khoa học mà phải huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Đồng thời, cần đẩy mạnh phát triển hệ tri thức Việt số hóa, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và công nghệ cho người dân; đồng thời nâng cao kỹ năng số, năng lực sử dụng công nghệ và tư duy ĐMST trong cộng đồng. Khuyến khích người dân tham gia phản biện chính sách, đề xuất sáng kiến, ứng dụng kết quả nghiên cứu và hình thành các mô hình ĐMST dựa trên cộng đồng.

Mặt khác, cần phát triển mạnh các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN như sàn giao dịch công nghệ, trung tâm môi giới công nghệ, mạng lưới tư vấn ĐMST và các nền tảng kết nối số. Đây là cầu nối quan trọng giúp gắn kết nhu cầu của người dân với hoạt động nghiên cứu của nhà khoa học và nhu cầu thị trường của doanh nghiệp. Khi người dân thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái ĐMST, quá trình chuyển hóa tri thức thành lực lượng sản xuất sẽ diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2013). KHCN và ĐMST Việt Nam 2013, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật.

3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2019). KHCN và ĐMST Việt Nam 2019, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2022). KHCN và ĐMST Việt Nam 2022, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật.

5. Bộ Khoa học và Công nghệ (2023). KHCN và ĐMST Việt Nam 2023, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật.

6. Bộ Khoa học và Công nghệ (2024). KHCN và ĐMST Việt Nam 2024, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Ngày nhận bài: 24/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 24/8/2026; Ngày duyệt đăng: 7/9/2026

Các tin khác

Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Cam kết môi trường trong EVFTA, CPTPP cùng mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tạo sức ép chuyển đổi mạnh lên ngành xây dựng và vật liệu xây dựng
Từ nhận thức và kỹ năng xanh đến cam kết nghề nghiệp xanh của sinh viên: Vai trò trung gian của sự sẵn sàng nghề nghiệp xanh

Từ nhận thức và kỹ năng xanh đến cam kết nghề nghiệp xanh của sinh viên: Vai trò trung gian của sự sẵn sàng nghề nghiệp xanh

Cam kết nghề nghiệp xanh của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi giáo dục, năng lực môi trường và định hướng phát triển bền vững.
Đổi mới chính sách kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Đổi mới chính sách kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập, kế toán doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc phản ánh trung thực tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh.
Đề xuất mô hình nghiên cứu về năng lực số của cán bộ quản lý đại học trong bối cảnh chuyển đổi số

Đề xuất mô hình nghiên cứu về năng lực số của cán bộ quản lý đại học trong bối cảnh chuyển đổi số

Cán bộ quản lý đại học đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa chiến lược số, đồng thời ra quyết định, quản trị dữ liệu, giám sát và dẫn dắt các thay đổi.
Quản trị đất đai cho phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị ở Việt Nam

Quản trị đất đai cho phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị ở Việt Nam

Phát triển nông thôn không thể chỉ dựa vào tăng sản lượng nông nghiệp. Sử dụng đất còn tạo ra cảnh quan, đa dạng sinh học, tri thức bản địa, bản sắc cộng đồng và dịch vụ du lịch. Vì vậy, quản trị đất đai là nền tảng của mô hình nông thôn hiện đại và bền vững.
Tăng cường sự cam kết của nhân viên đối với thay đổi tại các khách sạn ở Việt Nam: Vai trò của lãnh đạo chuyển đổi và văn hóa hợp tác

Tăng cường sự cam kết của nhân viên đối với thay đổi tại các khách sạn ở Việt Nam: Vai trò của lãnh đạo chuyển đổi và văn hóa hợp tác

Nghiên cứu kiểm định tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến 3 khía cạnh cam kết đối với thay đổi và giải mã vai trò trung gian truyền dẫn của văn hóa hợp tác, từ đó cung cấp bằng chứng thực tiễn giúp các nhà quản lý khách sạn nâng cao hiệu quả quản trị thay đổi.
Phát triển nguồn nhân lực ngành logistics ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển nguồn nhân lực ngành logistics ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Logistics là ngành dịch vụ nền tảng, giữ vai trò kết nối sản xuất, lưu thông hàng hóa và thị trường.
Đặc điểm tổ chức và khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán công: Bằng chứng từ các bệnh viện công lập Việt Nam

Đặc điểm tổ chức và khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán công: Bằng chứng từ các bệnh viện công lập Việt Nam

Quy mô bệnh viện, mức độ tự chủ tài chính và cơ quan chủ quản có thể tạo ra sự khác biệt về nguồn lực, nhu cầu thông tin, quyền quyết định và cơ chế quản trị, từ đó có thể dẫn đến sự khác biệt trong khả năng tiếp nhận và áp dụng các yêu cầu kế toán mới.
Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp niêm yết ở TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp niêm yết ở TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh tăng trưởng xanh, chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn và yêu cầu thực hiện các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị trở thành xu hướng tất yếu, các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam đang chịu áp lực lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản trị môi trường và minh bạch hóa thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam

Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam

Về bản chất, bảo trì năng suất toàn diện không chỉ là một kỹ thuật bảo trì thiết bị, mà là một triết lý quản trị sản xuất hướng đến tối đa hóa hiệu suất thiết bị thông qua sự tham gia của toàn bộ tổ chức, từ lãnh đạo cấp cao, bộ phận bảo trì, bộ phận sản xuất đến người vận hành trực tiếp.