Kinh tế tuần hoàn trong sản xuất vật liệu xây dựng Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi 17:27 | 08/09/2026
Cam kết môi trường trong EVFTA, CPTPP cùng mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tạo sức ép chuyển đổi mạnh lên ngành xây dựng và vật liệu xây dựng

Đặng Thị Lan Anh, Đỗ Duy Hoàn

Trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung

Email: dangthilananh81@gmail.com

Tóm tắt

Ngành xây dựng và vật liệu xây dựng đóng góp khoảng 17,23% GDP Việt Nam nhưng đồng thời là nguồn phát thải và tiêu hao tài nguyên lớn nhất khu vực công nghiệp. Nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện kinh tế tuần hoàn tại các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Việt Nam và kiểm định ảnh hưởng của nó tới hiệu suất bền vững, bằng phương pháp hỗn hợp: phỏng vấn nhóm 115 nhà quản lý tại 15 doanh nghiệp theo bộ 30 chỉ số thuộc 9 tiêu chí, kết hợp khảo sát 376 doanh nghiệp và phân tích PLS-SEM. Kết quả cho thấy mức độ thực hiện kinh tế tuần hoàn toàn ngành mới đạt mức trung bình (hạng C), thấp nhất ở tiêu chí hiệu suất năng lượng và năng lượng tái tạo; kinh tế tuần hoàn tác động tích cực tới hiệu suất bền vững cả trực tiếp lẫn gián tiếp qua tính linh hoạt chuỗi cung ứng bền vững và năng lực động; quy mô doanh nghiệp điều tiết dương quan hệ này. Bài viết đề xuất bốn nhóm hàm ý chính sách.

Từ khóa: Doanh nghiệp vật liệu xây dựng, hiệu suất bền vững, kinh tế tuần hoàn, năng lực động, quy mô doanh nghiệp.

Abstract

Vietnam's construction and building materials sector contributes about 17.23% of national GDP but is the largest industrial source of emissions and resource depletion. This study assesses circular economy practices (CEP) among Vietnamese building materials manufacturers and tests their effect on sustainable performance (SP), using group interviews with 115 managers from 15 enterprises against 30 indicators across 9 criteria, plus a survey of 376 firms analysed by PLS-SEM. Industry-wide CEP remains average (grade C), lowest for energy efficiency and renewable energy; CEP positively affects SP both directly and indirectly through sustainable supply chain flexibility and dynamic capabilities; firm size positively moderates this relationship. Four groups of policy implications are proposed.

Keywords: Building materials enterprises, circular economy, dynamic capabilities, firm size, sustainable performance.

GIỚI THIỆU

Cam kết môi trường trong EVFTA, CPTPP cùng mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tạo sức ép chuyển đổi mạnh lên ngành xây dựng và vật liệu xây dựng (VLXD). Đến hết năm 2025, các ngành thuộc quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng đóng góp khoảng 17,23% GDP; trong khi theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) giai đoạn 2024-2025, phát thải CO2 từ ngành xây dựng chiếm 34-37% tổng phát thải toàn cầu, riêng 18-21% đến trực tiếp từ thi công và sản xuất VLXD. Kinh tế tuần hoàn (KTTH) đã được thể chế hóa bằng Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện KTTH đến năm 2035 (Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025).

Tổng quan tài liệu cho thấy hai khoảng trống: nghiên cứu thực nghiệm về KTTH tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào thương mại - dịch vụ, dệt may, nông nghiệp, rất ít nghiên cứu tiếp cận lĩnh vực VLXD; và các nghiên cứu hiện có mới chỉ ra ảnh hưởng riêng lẻ của KTTH tới chuỗi cung ứng hoặc kết quả hoạt động, chưa tích hợp thành mô hình chung. Bài viết lượng hóa thực trạng thực hiện KTTH tại doanh nghiệp VLXD Việt Nam, kiểm định cơ chế tác động tới hiệu suất bền vững qua trung gian tính linh hoạt chuỗi cung ứng bền vững, năng lực động và điều tiết bởi quy mô doanh nghiệp, từ đó đề xuất hàm ý chính sách. Tính mới là lần đầu xây dựng bộ 30 chỉ số đánh giá KTTH riêng cho doanh nghiệp VLXD Việt Nam trên nền Khung tiêu chí của Liên minh Châu Âu (2023) và tích hợp bốn cấu trúc bậc hai vào một mô hình PLS-SEM duy nhất.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Lý thuyết Ba trụ cột bền vững được dùng để khái niệm hóa hiệu suất bền vững (SP) trên ba thành tố kinh tế, môi trường, xã hội. Lý thuyết Năng lực động (DC) của Teece (2007) giải thích cơ chế truyền dẫn: khi vận hành mô hình tuần hoàn, doanh nghiệp buộc phải liên tục học hỏi, thử nghiệm công nghệ và tương tác với đối tác trong chuỗi, qua đó chuyển năng lực động từ trạng thái tiềm ẩn sang vận hành thực tế - phạm vi giải thích rộng hơn quan điểm dựa trên nguồn lực vốn được hơn 50% nghiên cứu thực nghiệm về KTTH sử dụng (Yin và cộng sự, 2023).

Thực hiện kinh tế tuần hoàn (CEP) là cấu trúc bậc hai gồm Hệ thống quản lý, Thiết kế sinh thái, Tuần hoàn đầu tư; tính linh hoạt chuỗi cung ứng bền vững (SSCF) gồm Tiêu thụ tài nguyên, Công nghệ môi trường, Nhà cung cấp bền vững, Thực hiện về môi trường; DC gồm Nhận biết, Nắm bắt, Tái cấu trúc; quy mô doanh nghiệp (SIZE) là biến điều tiết. Thang đo CEP và SSCF kế thừa Cheng và cộng sự (2021), DC kế thừa Khan và cộng sự (2020), SP từ Mousa & Othman (2020). Bảy giả thuyết (H1-H7) được trình bày tại Bảng 2.

Phương pháp nghiên cứu

Giai đoạn định tính gồm phỏng vấn nhóm 115 nhà quản lý cấp trung từ 15 doanh nghiệp đại diện ba miền (01/10/2022 - 15/11/2022) và phỏng vấn sâu 20 lãnh đạo cấp cao (01/01/2023 - 01/3/2023) để thử nghiệm thang đo, dữ liệu mã hóa bằng NVivo; trên cơ sở Khung tiêu chí của Liên minh Châu Âu (2023) và điều kiện ngành, nghiên cứu xây dựng 30 chỉ số thuộc 9 tiêu chí chia hai nhóm trọng số bằng nhau trong thang 100 điểm. Giai đoạn định lượng gồm khảo sát sơ bộ (145 quan sát hợp lệ) và khảo sát chính thức (01/12/2023 - 30/12/2024): gửi 590 phiếu, thu về 534 phiếu (90,49%), 376 phiếu hợp lệ. Do biến đều là bậc hai và dữ liệu không phân phối chuẩn, nghiên cứu dùng PLS-SEM trên SPSS 23 và SmartPLS 3.3 với Bootstrapping; dữ liệu thứ cấp 2022-2025 của 166 doanh nghiệp được phân tích bằng mô hình tác động cố định (FEM) để kiểm chứng chéo quan hệ giữa chỉ số ESG và biên lợi nhuận gộp (GPM).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Bối cảnh và áp lực chuyển đổi của ngành vật liệu xây dựng

Lĩnh vực VLXD có doanh thu hằng năm ước đạt 47 tỷ USD, tương đương 11% GDP (Vụ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng, 2024), nhưng tiêu tốn khoảng 30% tài nguyên, 40% năng lượng và 12% lượng nước sử dụng. Năm 2025, ngành xi măng lập đỉnh mới với tổng tiêu thụ 112 triệu tấn trên nền công suất 125 triệu tấn, trong đó nội địa đạt kỷ lục 75 triệu tấn (tăng 12,8%) và xuất khẩu trên 37 triệu tấn, thu về khoảng 1,362 tỷ USD. Quy mô mở rộng nhanh đồng nghĩa áp lực phát thải gia tăng: xi măng phát thải khí nhà kính lớn nhất trong sản xuất VLXD, tăng từ 70% năm 2015 lên 75% năm 2020; ngành thép chiếm 5,2% tổng năng lượng công nghiệp với 12,7 triệu tấn CO2 tương đương năm 2016. Chất thải rắn xây dựng tại 5 đô thị lớn khoảng 50.000-60.000 tấn, phế thải xây dựng chiếm 12-15%, riêng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh 20-25%.

Ba điểm nghẽn cấu trúc gồm: chưa làm chủ công nghệ (mỗi năm nhập khoảng 15.000 máy xây dựng, 95% là máy đã qua sử dụng); phụ thuộc khai thác tài nguyên với hơn 1.720 mỏ khoáng sản làm VLXD (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022) trong khi trữ lượng suy giảm; và chi phí năng lượng chiếm 30-40% giá trị sản phẩm, có thể lên 50% khi giá năng lượng tăng cao - riêng năm 2025, chi phí sản xuất cao cùng việc tăng giá điện đã bào mòn biên lợi nhuận toàn ngành. Đây chính là dư địa kinh tế trực tiếp mà KTTH có thể khai thác.

Thực trạng thực hiện kinh tế tuần hoàn theo bộ tiêu chí

Bảng 1 trình bày bộ 9 tiêu chí và trọng số chấm điểm trên thang 100, tương ứng năm hạng: A (80-100 điểm, rất quan tâm), B (60-80), C (40-60), D (20-40) và E (0-20, không quan tâm).

Bảng 1: Bộ tiêu chí và trọng số đánh giá thực hiện kinh tế tuần hoàn tại doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng

TT

Tiêu chí

Trọng số

Nhóm tiêu chí chính

50

1

Tuần hoàn nguyên liệu (trừ nước), sản phẩm, chất thải

14,5

2

Tuần hoàn năng lượng

14,5

3

Hiệu suất nguyên liệu

7,0

4

Hiệu suất năng lượng

7,0

5

Năng lượng tái tạo

7,0

Nhóm tiêu chí bổ sung

50

6

Danh mục sản phẩm đầu tư sản xuất tuần hoàn

10,0

7

Doanh thu từ sản phẩm sản xuất tuần hoàn

10,0

8

Việc làm và sinh kế

15,0

9

Bảo vệ môi trường

15,0

Tổng điểm đánh giá

100

Nguồn: Xây dựng dựa theo Khung tiêu chí kết quả nghiên cứu của Liên minh Châu Âu về thúc đẩy hành động của doanh nghiệp về kinh tế tuần hoàn tại các nước ASEAN (2023).

Mặt bằng chung của ngành mới đạt hạng C: khoảng 75% doanh nghiệp ở mức sơ khai và trung bình, tỷ lệ đạt mức nâng cao chưa tới 9%, chưa có doanh nghiệp nào đạt hạng A và chỉ hơn 1% doanh nghiệp quy mô lớn thực hiện đúng tiêu chí với kết quả rõ rệt. Điểm trung bình nhóm tiêu chí chính 54,5, nhóm bổ sung 59,3. Điểm nghẽn nghiêm trọng nhất là hai tiêu chí năng lượng: hiệu suất năng lượng 38,5 và năng lượng tái tạo 39, đều hạng D. Khoảng 70% doanh nghiệp chưa đạt hiệu suất năng lượng như mong muốn, chưa đến 5% đầu tư được quy trình đạt đồng thời hai tiêu chí này; hiệu suất năng lượng mới dừng ở tận dụng nhiệt thu hồi, còn tuần hoàn năng lượng cấp hệ thống chưa thực hiện được do rào cản hạ tầng và chi phí bảo trì.

Nhóm tiêu chí bổ sung bộc lộ một nghịch lý: doanh thu từ sản phẩm tuần hoàn đạt tới 80 điểm (hạng B) - gạch từ bùn thải, xi măng từ tro bay đã sinh lợi và được tái đầu tư - nhưng bảo vệ môi trường chỉ đạt 39,5 điểm (hạng D) và việc làm - sinh kế 40 điểm. Có tới 95% doanh nghiệp chỉ quan tâm sản phẩm tuần hoàn giúp tiết kiệm chi phí nguyên liệu, năng lượng và rẻ hơn sản phẩm truyền thống, thay vì vì ý nghĩa môi trường; 65% cho rằng KTTH chỉ tạo thêm phần nhỏ sinh kế cho bên thứ ba. Động lực tuần hoàn hiện nay vì vậy mang bản chất kinh tế thuần túy - hàm ý chính sách dựa vào kêu gọi tự nguyện khó tạo chuyển biến sâu.

Tỷ lệ tiêu thụ tro xỉ nhiệt điện tăng từ 38,5% năm 2018 lên 50% năm 2020 và đạt 65,08 triệu tấn cộng dồn (55,8% tổng phát thải) cuối năm 2022, vẫn thấp hơn mục tiêu 80% tro, xỉ, thạch cao tái sử dụng đến năm 2025 theo Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành Công Thương 2020-2025. Thạch cao PG phát thải khoảng 1,3 triệu tấn/năm nhưng chỉ DAP số 1 Đình Vũ có dây chuyền công suất 750.000 tấn/năm, năm 2022 mới tiêu thụ 324.531 tấn, còn bã thải DAP số 2 Lào Cai vẫn phải tích trữ tại bãi. Ngược lại, Xi măng INSEE đưa nhiên liệu thay thế lên 25% tổng nhu cầu nhiệt năng, URENCO tái chế phế thải xây dựng bằng công nghệ nghiền RM thành cốt liệu rẻ hơn 20-30%. Khoảng cách này cho thấy vấn đề không nằm ở tính khả thi kỹ thuật mà ở cơ chế khuyến khích và tiêu chuẩn đầu ra.

Kết quả kiểm định mô hình và thảo luận

Mẫu chính thức gồm 376 doanh nghiệp: nhóm 100-200 lao động chiếm 32%, dưới 50 lao động 10%; miền Nam 54%, Bắc 35%, Trung 11%; theo sản phẩm chính, xi măng 39%, bê tông 26%, gạch xây dựng 21%, đá và kính 14%. Mô hình đo lường đạt các ngưỡng tin cậy: Cronbach's Alpha và độ tin cậy tổng hợp đều > 0,7 (CEP 0,749/0,857; DC 0,771/0,868; SP 0,804/0,884; SSCF 0,759/0,846), AVE > 0,5, trọng số chuẩn hóa lớn hơn 0,7, HTMT < 0,85; mô hình cấu trúc phù hợp dữ liệu (SRMR 0,067-0,068) và giải thích 58,4% biến thiên của hiệu suất bền vững.

Bảng 2: Kết quả kiểm định các hệ số đường dẫn

Quan hệ

Hệ số tác động

P-value

CEP → SP (chưa có trung gian)

0,656

0,000

H1: CEP → SP (có trung gian)

0,243

0,000

H2: CEP → SSCF

0,608

0,000

H3: CEP → DC

0,593

0,000

H4: SSCF → SP

0,328

0,000

H5: DC → SP

0,358

0,000

H6: CEP → SSCF → SP (trung gian một phần)

0,200

0,000

H6: CEP → DC → SP (trung gian một phần)

0,212

0,000

H7: SIZE × CEP → SP

0,233

0,000

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu khảo sát 376 doanh nghiệp trên SmartPLS 3.3.

Cả 7 giả thuyết đều được ủng hộ ở mức ý nghĩa 1%. Khi chưa có biến trung gian, hệ số từ CEP tới SP đạt 0,656; khi bổ sung hai trung gian, hệ số giảm còn 0,243 nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê, chứng tỏ SSCF và DC là trung gian một phần. Đáng chú ý về mặt quản trị là thứ tự cường độ tác động tới hiệu suất bền vững: năng lực động mạnh nhất (0,358), tiếp đến tính linh hoạt chuỗi cung ứng bền vững (0,328), cuối cùng mới là tác động trực tiếp của CEP (0,243). Điều này hàm ý đầu tư KTTH thuần túy về kỹ thuật - thiết bị không tự động chuyển hóa thành hiệu suất bền vững; giá trị chỉ hiện thực hóa khi doanh nghiệp đồng thời nâng cấp năng lực nhận biết, nắm bắt, tái cấu trúc và độ linh hoạt chuỗi cung ứng - trong khi CEP lại là động lực rất mạnh cho chính hai năng lực này (0,608 và 0,593).

Quy mô doanh nghiệp điều tiết dương quan hệ CEP - SP (0,233; p = 0,000): quy mô càng lớn, quan hệ càng chặt chẽ, phù hợp đặc thù ngành VLXD nơi lợi ích KTTH gắn với hiệu ứng quy mô; tuy nhiên ở mọi quy mô, cải thiện CEP vẫn nâng cao hiệu suất bền vững, chỉ khác về độ dốc - hàm ý cần chính sách phân tầng theo quy mô. Phân tích dữ liệu thứ cấp củng cố kết luận: với 166 thực thể giai đoạn 2022-2025, mô hình FEM cho thấy ESG tăng 1 điểm thì biên lợi nhuận gộp tăng trung bình 0,1313% (p = 0,000; R² = 0,3124), và nhóm tiên phong KTTH duy trì biên lợi nhuận trên 20%, ổn định hơn đáng kể ngay cả giai đoạn 2023-2025 khi toàn ngành chịu sức ép chi phí nguyên liệu, giá điện tăng và phòng vệ thương mại tại nhiều thị trường xuất khẩu.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

Nghiên cứu đi đến 3 kết luận: mức độ thực hiện KTTH tại doanh nghiệp VLXD Việt Nam mới đạt hạng C với điểm nghẽn ở nhóm tiêu chí năng lượng và bảo vệ môi trường (hạng D); động lực tuần hoàn chủ yếu là tiết kiệm chi phí (95% doanh nghiệp) chứ chưa phải động lực môi trường - xã hội; và KTTH tác động tích cực tới hiệu suất bền vững cả trực tiếp lẫn gián tiếp, trong đó năng lực động và tính linh hoạt chuỗi cung ứng là hai kênh truyền dẫn vượt trội, quan hệ mạnh hơn ở doanh nghiệp quy mô lớn.

Bối cảnh chính sách 2025-2026 làm yêu cầu chuyển đổi cấp bách hơn. Trong nước, Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 xác lập khung hành động quốc gia về KTTH đến năm 2035; từ 01/01/2026, dán nhãn năng lượng bắt buộc với nhóm VLXD theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Ngoài nước, Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU chính thức thu phí từ 01/01/2026, giá carbon quý II/2026 là 75,28 EUR/tấn CO2, tác động trực tiếp tới xi măng, sắt thép, nhôm. Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy hiệu lực của công cụ kinh tế và số hóa: phí chôn lấp phân biệt rất nặng (30 won/kg so với 10 won/kg cho đốt) đưa tỷ lệ chôn lấp trực tiếp xuống dưới 0,1%, kết hợp hệ thống Allbaro và quy định bắt buộc tỷ lệ cốt liệu tái chế trong dự án hạ tầng công.

Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước

Một là, hoàn thiện hành lang pháp lý và chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật xanh. Cần ban hành bộ tiêu chí phân loại dự án tuần hoàn, danh mục VLXD xanh được chứng nhận và quy chuẩn quốc gia cho bê tông tái chế, tro xỉ nhiệt điện làm phụ gia xi măng, vật liệu san lấp - thiếu vắng tiêu chuẩn đầu ra là rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp e ngại đầu tư vì lo sản phẩm không được nghiệm thu; đồng thời lồng ghép tỷ lệ bắt buộc dùng vật liệu tái chế trong dự án đầu tư công thành tiêu chí chấm điểm kỹ thuật khi đấu thầu.

Hai là, thiết kế công cụ kinh tế thúc đẩy đổi mới công nghệ. Do năng lực động là kênh truyền dẫn mạnh nhất nhưng đòi hỏi vốn lớn, cần ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập khẩu thiết bị tuần hoàn, khấu hao nhanh dây chuyền sản xuất sạch, giảm tiền thuê đất cho nhà máy tái chế, phát triển tín dụng xanh và trái phiếu xanh riêng cho VLXD. Ngược lại, cần dùng thuế tài nguyên và thuế bảo vệ môi trường để nguyên liệu nguyên sinh đắt đỏ hơn vật liệu tái chế - công cụ hiệu quả nhất để chuyển động lực doanh nghiệp từ tiết kiệm chi phí sang tuân thủ môi trường.

Ba là, quy hoạch đồng bộ hạ tầng chuỗi cung ứng tuần hoàn. Do logistics ngược còn tự phát, phân mảnh, Nhà nước cần quy hoạch các trung tâm logistics xanh và trạm phân loại chất thải xây dựng quy mô lớn tại vùng kinh tế trọng điểm, kết nối nguồn phế thải từ công trình phá dỡ với nhà máy tái chế, đồng thời xây dựng Nền tảng dữ liệu số quốc gia về dòng vật liệu và phế thải xây dựng.

Bốn là, xây dựng thị trường tiêu dùng xanh và phát triển nhân lực. Cần cơ chế dán nhãn sinh thái gắn quyền lợi thiết thực cho chủ đầu tư (ưu tiên phê duyệt quy hoạch, tăng hệ số sử dụng đất cho công trình đạt chứng chỉ LOTUS, LEED) và đưa học phần Kinh tế tuần hoàn trong xây dựng, Quản trị chuỗi cung ứng bền vững vào chương trình đào tạo đại học chuyên ngành.

Khuyến nghị đối với doanh nghiệp

Về kỹ thuật, doanh nghiệp xi măng cần đẩy mạnh đồng xử lý trong lò nung, thay một phần đá vôi bằng xỉ lò cao, tro bay và thay than cám bằng RDF, sinh khối; doanh nghiệp thép chuyển từ lò cao BF-BOF sang lò hồ quang điện EAF dùng thép phế liệu kết hợp thu hồi nhiệt dư; gạch không nung nâng tỷ lệ tro bay lên 30-40% và dùng bột đá thải thay cát tự nhiên; kính đầu tư phân loại quang học để tăng tỷ lệ kính vụn trong lò nấu - mỗi 10% tăng thêm giúp giảm 2,5-3% năng lượng tiêu hao.

Về năng lực động, cần lắp đặt hệ thống quản lý năng lượng và giám sát phát thải liên tục trên nền cảm biến IoT kết hợp trí tuệ nhân tạo, làm chủ BIM 5D/6D để giảm hao hụt vật liệu xuống dưới 2%, chuẩn hóa theo ISO 14001:2015, ISO 50001:2018 và áp dụng đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA) để định lượng dấu chân carbon, làm cơ sở xin Công bố sản phẩm môi trường (EPD) - điều kiện thiết yếu để giữ thị phần xuất khẩu khi CBAM thu phí từ năm 2026. Về chuỗi cung ứng, cần thiết lập logistics ngược với nhà thầu lớn, đa dạng hóa nguồn cung xanh, truy xuất nguồn gốc nguyên liệu trên nền tảng số và lồng ghép chỉ số ESG vào KPI từng phòng ban.

Nghiên cứu còn hạn chế: tỷ trọng mẫu miền Trung thấp (11%); chỉ số ESG dựa trên mức độ công bố thông tin tự nguyện do Việt Nam chưa có thang đo chuẩn hóa; mô hình mới giải thích 35,2% biến thiên của năng lực động và 37,0% của tính linh hoạt chuỗi cung ứng bền vững. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể bổ sung biến trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong quản lý quy trình tuần hoàn.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Báo cáo hiện trạng khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, Hà Nội.

2. Bộ Xây dựng (2025). Báo cáo tổng kết công tác năm 2025, Hà Nội.

3. Cheng, T. C. E., Kamble, S. S., Belhadi, A., Ndubisi, N. O., Lai, K. & Kharat, M. G. (2021). Linkages between big data analytics, circular economy, sustainable supply chain flexibility and sustainable performance in manufacturing firms, International Journal of Production Research, 60(22), 6908-6922.

4. Đỗ Hữu Hải. (2019). Giáo trình Nghiên cứu thị trường. Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân.

5. European Commission (2026). Carbon Border Adjustment Mechanism - Definitive regime from 1 January 2026, Brussels.

6. European Union (2023). Promoting Business Action on Circular Economy in ASEAN Countries - Result Framework, Brussels.

7. Hiệp hội Xi măng Việt Nam (2026). Báo cáo sản xuất và tiêu thụ xi măng năm 2025, Hà Nội.

8. Khan, O., Daddi, T. & Iraldo, F. (2020). Microfoundations of dynamic capabilities: Insights from circular economy business cases, Business Strategy and the Environment, 29(3), 1479-1493.

9. Mousa, S. K. & Othman, M. (2020). The impact of green human resource management practices on sustainable performance in healthcare organisations, Journal of Cleaner Production, 243, 118595.

10. Nguyễn Diệu Linh (2026). Ảnh hưởng của thực hiện kinh tế tuần hoàn đến hiệu suất bền vững của các doanh nghiệp ngành xây dựng tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

11. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035.

12. Teece, D. J. (2007). Explicating dynamic capabilities: The nature and microfoundations of (sustainable) enterprise performance, Strategic Management Journal, 28(13), 1319-1350.

13. UNEP (2025). Global Status Report for Buildings and Construction 2024-2025, truy cập từ https://www.unep.org/resources/report/global-status-report-buildings-and-construction

14. Vụ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng (2024). Báo cáo thống kê lĩnh vực vật liệu xây dựng, Hà Nội.

15. Yin, S., Zhang, N., Ullah, K. & Gao, S. (2023). Enhancing digital innovation for the sustainable transformation of manufacturing industry: A meta-analysis, Systems, 11(3), 143. https://doi.org/10.3390/systems10030072.

Ngày nhận bài: 22/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/8/2026; Ngày duyệt đăng: 7/9/2026

Các tin khác

Từ nhận thức và kỹ năng xanh đến cam kết nghề nghiệp xanh của sinh viên: Vai trò trung gian của sự sẵn sàng nghề nghiệp xanh

Từ nhận thức và kỹ năng xanh đến cam kết nghề nghiệp xanh của sinh viên: Vai trò trung gian của sự sẵn sàng nghề nghiệp xanh

Cam kết nghề nghiệp xanh của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi giáo dục, năng lực môi trường và định hướng phát triển bền vững.
Đổi mới chính sách kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Đổi mới chính sách kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập, kế toán doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc phản ánh trung thực tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh.
Đề xuất mô hình nghiên cứu về năng lực số của cán bộ quản lý đại học trong bối cảnh chuyển đổi số

Đề xuất mô hình nghiên cứu về năng lực số của cán bộ quản lý đại học trong bối cảnh chuyển đổi số

Cán bộ quản lý đại học đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa chiến lược số, đồng thời ra quyết định, quản trị dữ liệu, giám sát và dẫn dắt các thay đổi.
Liên kết giữa Nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

Liên kết giữa Nhà nước - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học - người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ, đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc nghiên cứu mối liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và thúc đẩy ĐMST có ý nghĩa cấp thiết.
Quản trị đất đai cho phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị ở Việt Nam

Quản trị đất đai cho phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị ở Việt Nam

Phát triển nông thôn không thể chỉ dựa vào tăng sản lượng nông nghiệp. Sử dụng đất còn tạo ra cảnh quan, đa dạng sinh học, tri thức bản địa, bản sắc cộng đồng và dịch vụ du lịch. Vì vậy, quản trị đất đai là nền tảng của mô hình nông thôn hiện đại và bền vững.
Tăng cường sự cam kết của nhân viên đối với thay đổi tại các khách sạn ở Việt Nam: Vai trò của lãnh đạo chuyển đổi và văn hóa hợp tác

Tăng cường sự cam kết của nhân viên đối với thay đổi tại các khách sạn ở Việt Nam: Vai trò của lãnh đạo chuyển đổi và văn hóa hợp tác

Nghiên cứu kiểm định tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến 3 khía cạnh cam kết đối với thay đổi và giải mã vai trò trung gian truyền dẫn của văn hóa hợp tác, từ đó cung cấp bằng chứng thực tiễn giúp các nhà quản lý khách sạn nâng cao hiệu quả quản trị thay đổi.
Phát triển nguồn nhân lực ngành logistics ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Phát triển nguồn nhân lực ngành logistics ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Logistics là ngành dịch vụ nền tảng, giữ vai trò kết nối sản xuất, lưu thông hàng hóa và thị trường.
Đặc điểm tổ chức và khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán công: Bằng chứng từ các bệnh viện công lập Việt Nam

Đặc điểm tổ chức và khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán công: Bằng chứng từ các bệnh viện công lập Việt Nam

Quy mô bệnh viện, mức độ tự chủ tài chính và cơ quan chủ quản có thể tạo ra sự khác biệt về nguồn lực, nhu cầu thông tin, quyền quyết định và cơ chế quản trị, từ đó có thể dẫn đến sự khác biệt trong khả năng tiếp nhận và áp dụng các yêu cầu kế toán mới.
Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp niêm yết ở TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp niêm yết ở TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh tăng trưởng xanh, chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn và yêu cầu thực hiện các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị trở thành xu hướng tất yếu, các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam đang chịu áp lực lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản trị môi trường và minh bạch hóa thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam

Các yếu tố quyết định thành công trong triển khai bảo trì năng suất toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam

Về bản chất, bảo trì năng suất toàn diện không chỉ là một kỹ thuật bảo trì thiết bị, mà là một triết lý quản trị sản xuất hướng đến tối đa hóa hiệu suất thiết bị thông qua sự tham gia của toàn bộ tổ chức, từ lãnh đạo cấp cao, bộ phận bảo trì, bộ phận sản xuất đến người vận hành trực tiếp.