Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Nghiên cứu - Trao đổi 14:44 | 13/10/2026
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định an sinh xã hội giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò là lưới đỡ an toàn, công cụ phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.

ThS. Nguyễn Thị Thu Túy

Trường Đại học Văn Hiến

Email: [email protected]

Tóm tắt

Bài viết phân tích thực trạng thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam thông qua các lĩnh vực việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Kết quả cho thấy, hệ thống an sinh xã hội từng bước mở rộng độ bao phủ, tăng cường hỗ trợ các nhóm yếu thế và cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục, nhà ở. Tuy nhiên, chất lượng việc làm và tính bền vững của sinh kế còn hạn chế; độ bao phủ bảo hiểm xã hội chưa cao, đặc biệt đối với lao động trên nền tảng số; mức trợ cấp xã hội còn thấp, trong khi đào tạo nghề, nhà ở xã hội và giao thông công cộng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người lao động. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất tăng nguồn lực tài chính cho an sinh xã hội, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phát triển hệ thống hưu trí đa tầng và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị, chi trả chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thực thi và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện, bền vững.

Từ khóa: An sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp

Abstract

This article examines the implementation of social security policies in Viet Nam across employment, social insurance, health insurance, social assistance, and access to basic social services. The findings indicate that the social security system has gradually expanded its coverage, strengthened support for vulnerable groups, and improved access to education and housing. However, job quality and livelihood sustainability remain limited. Social insurance coverage is still inadequate, particularly among digital platform workers, while social assistance benefits remain low. Meanwhile, vocational training, social housing, and public transportation have yet to fully meet workers’ needs. Accordingly, the article proposes increasing financial resources for social security, strengthening the legal framework, developing a multi-pillar pension system, and accelerating digital transformation in policy administration and benefit disbursement. These measures aim to improve implementation effectiveness and ensure comprehensive and sustainable social security.

Keywords: Social security, social insurance, health insurance, unemployment insurance.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định an sinh xã hội giữ vị trí trung tâm, đóng vai trò là lưới đỡ an toàn, công cụ phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; kiên quyết không đánh đổi công bằng và môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Tư duy lý luận mang tính đột phá đó được định hình nhất quán trong các Nghị quyết của Đảng, khẳng định an sinh xã hội vừa là quyền con người cơ bản, vừa là động lực then chốt cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Thực tiễn 40 năm đổi mới ghi nhận hệ thống an sinh xã hội nước ta đã mở rộng vượt bậc cả về quy mô, độ bao phủ lẫn chất lượng dịch vụ, song công tác thực thi vẫn còn bộc lộ không ít mâu thuẫn và rào cản mang tính hệ thống. Trước yêu cầu phát triển mới, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh mục tiêu: “nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, an sinh xã hội; thu hẹp bất bình đẳng, chăm lo nhóm yếu thế, không để ai bị bỏ lại phía sau”. Đây là định hướng chiến lược then chốt, đặt nền tảng cho việc giải quyết các điểm nghẽn an sinh và kiến tạo một xã hội kỷ cương, văn minh, công bằng và phát triển bền vững.

THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Những kết quả đạt được

Một là, Nhà nước đã phát huy hiệu quả vai trò kiến tạo thị trường lao động thông qua việc thực thi đồng bộ Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề. Tính đến hết năm 2025, Việt Nam đã duy trì và giải quyết việc làm cho 52,4 triệu lao động, tăng 578.300 người so với năm 2024. Xét theo khu vực cư trú, lao động có việc làm ở nông thôn đạt 32 triệu người, cao hơn mức 20,4 triệu người ở thành thị. Theo cơ cấu ngành kinh tế, khu vực dịch vụ thu hút 21,4 triệu lao động, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 17,5 triệu người, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 13,5 triệu người (Cục Thống kê, 2026a). Cơ cấu này cho thấy dịch vụ và công nghiệp, xây dựng đang giữ vai trò quan trọng trong tạo việc làm, trong khi lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có quy mô thấp hơn. Những kết quả trên phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với quá trình phát triển kinh tế.

Hai là, hệ thống an sinh vận hành theo nguyên tắc sẻ chia và cơ chế đóng - hưởng đã mang lại những kết quả tích cực. Năm 2025, cả nước có 21.530,7 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 6,9% so với năm 2024; 97.397,4 nghìn người tham gia bảo hiểm y tế, tăng 2,0%; 16.987,1 nghìn người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tăng 5,3%. Tổng số thu bảo hiểm năm 2024 đạt 644.600 tỷ đồng, tăng 13,7% so với năm 2023; tổng số chi bảo hiểm đạt 502.600 tỷ đồng, tăng 10,7%; trong đó chi quỹ bảo hiểm y tế đạt 138.800 tỷ đồng, chiếm 27,6%; chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp đạt 23.700 tỷ đồng, chiếm 4,7% (Cục Thống kê, 2026a). Đồng thời, tính đến hết năm 2025, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế cả nước đạt 95,16% dân số (Thái Dương, 2026). Con số này là kết quả của quá trình nỗ lực bền bỉ, cùng như sự chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương tới cơ sở, cùng với việc không ngừng hoàn thiện chính sách, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức thực hiện.

Ba là, Nhà nước đã thiết lập mạng lưới trợ giúp xã hội vững chắc nhằm tạo bệ đỡ an toàn cho các nhóm yếu thế không có khả năng tự lực sinh kế. Công tác trợ giúp xã hội tiếp tục được Nhà nước chú trọng nhằm hỗ trợ các nhóm yếu thế và bảo đảm an sinh cho người dân. Theo số liệu tổng hợp từ các địa phương, tổng kinh phí hỗ trợ an sinh xã hội tính đến quý I/2026 đạt gần 25.000 tỷ đồng, tăng hơn 7.000 tỷ đồng, tương đương gần 39% so với quý I/2025. Bên cạnh hỗ trợ tài chính, hơn 32,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ hoặc thẻ khám chữa bệnh miễn phí đã được cấp cho các đối tượng thụ hưởng, tăng 22,2% so với cùng kỳ. Chính phủ cũng hỗ trợ tổng cộng 15.300 tấn gạo cho người dân, trong đó gần 9.100 tấn được sử dụng để cứu đói dịp Tết Nguyên đán cho 604.600 nhân khẩu, 5.600 tấn hỗ trợ 372.900 nhân khẩu trong thời kỳ giáp hạt và hơn 604 tấn hỗ trợ 40.300 nhân khẩu khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ (Lê Anh, 2026). Những kết quả này cho thấy vai trò của chính sách trợ giúp xã hội trong ứng phó với khó khăn về đời sống và hỗ trợ người dân trước các rủi ro kinh tế, thiên tai.

Bốn là, Nhà nước đã từng bước hiện thực hóa mục tiêu thiết lập sàn an sinh toàn dân, bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng cho người dân về giáo dục và nhà ở. Giáo dục Việt Nam đang ghi nhận những bước tiến tích cực khi nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục cấp tiểu học và đang tiệm cận mục tiêu phổ cập trung học cơ sở. Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, thể hiện qua việc 40% dân số từ 15 tuổi trở lên đã tốt nghiệp từ trung học phổ thông trở lên và 26,4% dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Về thời gian học tập, số năm đi học bình quân của người dân đạt mức 9,6 năm, mặc dù khu vực thành thị vẫn đang cao hơn nông thôn 2,5 năm. Đồng thời, số năm đi học kỳ vọng đạt 12,6 năm với sự bình đẳng về giới tính trong việc tiếp cận các cơ hội giáo dục (Cục Thống kê, 2026b). Về an cư, hàng chục nghìn căn hộ nhà ở xã hội đã được hoàn thành, đáp ứng thiết thực nhu cầu sinh sống ổn định của công nhân tại các khu công nghiệp và người có thu nhập thấp ở khu vực đô thị.

Những hạn chế, tồn tại

Thứ nhất, chất lượng việc làm và tính bền vững của sinh kế còn hạn chế. Năm 2025, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15-24 tuổi đạt 9,04% trong quý IV. Cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10,2% tổng số thanh niên. Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng đạt 3,9% trong năm 2025 (Cục Thống kê, 2026a). Những số liệu này cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp chung tương đối thấp chưa phản ánh đầy đủ những khó khăn về cơ hội việc làm và khả năng sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt đối với thanh niên.

Thứ hai, độ bao phủ bảo hiểm xã hội còn hạn chế ở một số nhóm lao động. Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới đối với gần 5.000 lao động trên các nền tảng số tại Việt Nam, hơn 90% người được khảo sát coi công việc trên nền tảng là nguồn thu nhập chính, nhưng chỉ khoảng 20% tham gia bảo hiểm xã hội (Thùy Linh, 2026). Khoảng cách giữa mức độ phụ thuộc vào công việc và khả năng tham gia bảo hiểm cho thấy một bộ phận lao động vẫn chưa được bảo vệ đầy đủ trước các rủi ro về thu nhập, sức khỏe và tuổi già. Điều này phản ánh những hạn chế trong độ bao phủ an sinh đối với các hình thức việc làm linh hoạt và phi truyền thống.

Thứ ba, mức trợ cấp xã hội còn hạn chế so với nhu cầu sống của người thụ hưởng. Mặc dù phạm vi trợ giúp xã hội từng bước được mở rộng, mức chuẩn trợ cấp 540.000 đồng/tháng vẫn còn thấp so với nhu cầu chi tiêu thiết yếu của các nhóm yếu thế. Năm 2025, cả nước có khoảng 4,5 triệu người hưởng trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng, tăng khoảng 1,6 triệu người so với năm 2024 (Ngân Lê, 2026). Quy mô thụ hưởng gia tăng cho thấy vai trò ngày càng lớn của chính sách trợ giúp xã hội, song mức trợ cấp còn hạn chế có thể ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm đời sống của người phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ này.

Thứ tư, khả năng tiếp cận các điều kiện sống và dịch vụ xã hội cơ bản còn bất cập. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt khoảng 29,2%, phản ánh trình độ chuyên môn được chứng nhận của lực lượng lao động còn hạn chế. Bên cạnh đó, nhu cầu nhà ở xã hội của công nhân và người thu nhập thấp vẫn tạo áp lực lớn đối với nguồn cung nhà ở phù hợp. Tại các đô thị lớn, khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của người lao động bằng giao thông công cộng cũng còn những hạn chế. Những bất cập này cho thấy an sinh xã hội không chỉ liên quan đến các khoản trợ cấp trực tiếp mà còn gắn với khả năng tiếp cận việc làm có chất lượng, nhà ở và các dịch vụ thiết yếu.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam thời gian tới, qua phân tích thực trạng, tác giả đưa ra một số đề xuất sau:

Một là, tăng cường nguồn lực tài chính cho an sinh xã hội gắn với nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách. Nhà nước cần xem xét điều chỉnh tỷ trọng chi ngân sách dành cho an sinh xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển và khả năng cân đối ngân sách, đồng thời cơ cấu lại chi tiêu công theo hướng ưu tiên các chính sách bảo đảm mức sống cơ bản và hỗ trợ nhóm yếu thế. Việc sử dụng ngân sách cần gắn với kết quả thực hiện, bảo đảm công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Qua đó, chi an sinh xã hội không chỉ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ trước mắt mà còn góp phần phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy tăng trưởng bao trùm.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả phối hợp trong quản lý an sinh xã hội. Cần rà soát, hệ thống hóa các quy định hiện hành nhằm khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo và thiếu đồng bộ giữa các chính sách. Trên cơ sở đó, nghiên cứu khả năng xây dựng luật khung về an sinh xã hội để xác định rõ nguyên tắc, đối tượng thụ hưởng, trách nhiệm của các cơ quan quản lý và cơ chế phối hợp thực hiện. Đồng thời, cần tăng cường liên thông trong quản lý các chương trình và quỹ an sinh xã hội, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan, qua đó nâng cao tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách.

Ba là, hoàn thiện hệ thống hưu trí theo hướng đa tầng nhằm mở rộng diện bao phủ và tăng cường bảo đảm thu nhập cho người cao tuổi. Theo đó, cần kết hợp trợ cấp hưu trí xã hội do ngân sách nhà nước bảo đảm với bảo hiểm xã hội dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng và bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện. Đồng thời, cần nghiên cứu điều chỉnh điều kiện tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội phù hợp với đặc điểm việc làm, thu nhập của người lao động, nhất là nhóm lao động phi chính thức và lao động có thu nhập không ổn định. Việc phát triển đồng bộ các tầng hưu trí sẽ góp phần hạn chế khoảng trống an sinh khi về già, đồng thời tăng tính linh hoạt và bền vững của hệ thống bảo đảm thu nhập cho người cao tuổi.

Bốn là, hiện đại hóa công tác quản trị an sinh thông qua đẩy mạnh chuyển đổi số. Việc tích hợp dữ liệu an sinh xã hội với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm cấp mã định danh an sinh duy nhất cho từng công dân, kết hợp với phương thức chi trả trợ cấp và bảo hiểm không dùng tiền mặt qua tài khoản ngân hàng hoặc ví điện tử, sẽ giúp dòng tiền hỗ trợ chuyển giao trực tiếp, kịp thời đến tay người thụ hưởng, giảm nguy cơ thất thoát qua các khâu trung gian và nâng cao năng lực ứng phó tức thời trước các cú sốc kinh tế vĩ mô.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2026a). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025.

2. Cục Thống kê (2026b). Niên giám thống kê 2025, Nxb Kinh tế - Tài chính,.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

4. Lê Anh (2026). Cục Thống kê: Tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội tăng gần 39% so với quý I/2025. https://nhandan.vn/cuc-thong-ke-tong-so-tien-ho-tro-an-sinh-xa-hoi-tang-gan-39-so-voi-quy-i2025-post953491.html

5. Ngân Lê (2026). Mức chuẩn trợ giúp xã hội tăng lên 540.000 đồng/tháng. https://nhandan.vn/muc-chuan-tro-giup-xa-hoi-tang-len-540000-dongthang-post983587.html

6. Thái Dương (2026). Thực hiện mục tiêu Bảo hiểm y tế toàn dân [Kỳ 2]: Cần sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/an-sinh-xa-hoi.aspx?CateID=0&ItemID=26367

7. Thùy Linh (2026). Hàng nghìn lao động coi nền tảng số là nguồn thu nhập chính, nhưng chỉ 20% tham gia BHXH. https://laodong.vn/xa-hoi/hang-nghin-lao-dong-coi-nen-tang-so-la-nguon-thu-nhap-chinh-nhung-chi-20-tham-gia-bhxh-1771054.ldo

Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 13/10/2026

Các tin khác

SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc

Trong thương mại nông sản, việc cắt giảm thuế quan không đồng nghĩa với việc chi phí tiếp cận thị trường biến mất. Các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt là các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật và các hàng rào kỹ thuật trong thương mại, có thể làm thay đổi yêu cầu về chất lượng, kiểm nghiệm, chứng nhận, hồ sơ và tổ chức chuỗi cung ứng.
Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam

Sự đứt gãy giữa dữ liệu kỹ thuật tại công trường và dữ liệu hạch toán khiến báo cáo chênh lệch chi phí có độ trễ lớn, giảm hiệu lực điều chỉnh. Do đó, sự phát triển của công nghệ số (BIM 5D, ERP) cùng xu hướng quản trị bền vững (ESG) mở ra cơ hội lớn để tái cấu trúc kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp xây dựng.
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh

Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh

Cảnh quan ngôn ngữ phản ánh bản sắc văn hóa, nâng cao trải nghiệm du khách và góp phần bảo tồn di sản, thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chuyển đổi số đang làm thay đổi đáng kể hoạt động của các ngân hàng thương mại thông qua ứng dụng công nghệ vào quy trình vận hành, quản trị và cung ứng dịch vụ. Việc ứng dụng các công nghệ số giúp ngân hàng tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường năng lực quản trị rủi ro.
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số đổi mới dịch vụ tài chính, mở rộng cơ hội tiếp cận tài chính chính thức cho các nhóm dân cư.
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp

Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp

Doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tạo giá trị ở khâu đầu của chuỗi dự án nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh lớn nhất và thường có năng lực hoạch định chiến lược mỏng nhất.
Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng

Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng

Trong thương mại điện tử, thói quen “xem và lướt” đã phát triển thành hành vi “xem để mua” và “lướt để mua”, sau đó bùng nổ với 68% khách hàng từng mua hàng sau khi xem video review hoặc livestream.
Ứng dụng Random Forest phân tích tác động trễ của giá năng lượng đến giá carbon tại Hệ thống thương mại phát thải châu Âu và hàm ý cho Việt Nam

Ứng dụng Random Forest phân tích tác động trễ của giá năng lượng đến giá carbon tại Hệ thống thương mại phát thải châu Âu và hàm ý cho Việt Nam

Giá năng lượng hóa thạch tác động đến giá carbon trong EU ETS thông qua cơ chế truyền dẫn phi tuyến.
Nghiên cứu ý định mua xe máy điện tại TP. Hồ Chí Minh dưới góc độ tiêu dùng xanh

Nghiên cứu ý định mua xe máy điện tại TP. Hồ Chí Minh dưới góc độ tiêu dùng xanh

Phương tiện điện được xem là một lựa chọn quan trọng nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và hướng tới hệ thống giao thông đô thị bền vững. Tuy nhiên, quyết định lựa chọn phương tiện xanh không chỉ phụ thuộc vào đặc tính kỹ thuật hay giá cả, mà còn chịu ảnh hưởng của nhận thức môi trường, giá trị cảm nhận, rủi ro cảm nhận, thái độ và các yếu tố xã hội - chính sách.
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đồng Nai

Dù mang lại cơ hội mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả quản trị và giảm chi phí, song chuyển đổi số vẫn là thách thức lớn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa do hạn chế về tài chính, nhân lực, công nghệ và năng lực điều hành.