Nghiên cứu ý định mua xe máy điện tại TP. Hồ Chí Minh dưới góc độ tiêu dùng xanh
Phan Văn Quang
Trường Đại học Tài chính - Marketing
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua xe máy điện của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh trong bối cảnh tiêu dùng xanh. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát 311 người tiêu dùng. Kết quả cho thấy, Nhận thức môi trường, Sự quan tâm đến môi trường, Sẵn lòng chi trả và Thương hiệu xanh đều có mối quan hệ cùng chiều với Ý định mua xe máy điện. Đáng chú ý, Rào cản tiếp cận sản phẩm có tác động theo hướng trái với kỳ vọng lý thuyết, cho thấy vai trò phức tạp của khả năng tiếp cận và trải nghiệm thị trường trong quyết định mua xe máy điện.
Từ khóa: Xe máy điện, ý định mua, tiêu dùng xanh, thương hiệu xanh, TP. Hồ Chí Minh
Abstract
The study examines the factors influencing consumers’ purchase intention toward electric motorcycles in Ho Chi Minh City in the context of green consumption. Data were collected through a survey of 311 consumers. The results show that environmental awareness, environmental concern, willingness to pay, and green brand image are positively associated with purchase intention toward electric motorcycles. Notably, product access barriers exhibit an effect opposite to that predicted by theoretical expectations, highlighting the complex role of product accessibility and market experience in consumers’ decisions to purchase electric motorcycles.
Keywords: Electric motorcycles, purchase intention, green consumption, green brand image, Ho Chi Minh City
GIỚI THIỆU
Biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí và áp lực giảm phát thải đang thúc đẩy sự chuyển dịch từ tiêu dùng truyền thống sang tiêu dùng xanh, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông. Trong bối cảnh này, phương tiện điện được xem là một lựa chọn quan trọng nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và hướng tới hệ thống giao thông đô thị bền vững. Tuy nhiên, quyết định lựa chọn phương tiện xanh không chỉ phụ thuộc vào đặc tính kỹ thuật hay giá cả, mà còn chịu ảnh hưởng của nhận thức môi trường, giá trị cảm nhận, rủi ro cảm nhận, thái độ và các yếu tố xã hội - chính sách (Han và cộng sự, 2024; Nguyen-Phuoc và cộng sự, 2025).
Các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam cho thấy hành vi chấp nhận xe máy điện ngày càng nhận được sự quan tâm. Nguyen-Phuoc và cộng sự (2025) chỉ ra rằng, hình ảnh xe máy điện, các lý do ủng hộ và các rào cản có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ và ý định chấp nhận phương tiện điện. Tương tự, Nguyen-Viet và cộng sự, (2025) cho thấy động cơ lợi ích, chuẩn mực và trải nghiệm hưởng thụ có khả năng thúc đẩy ý định mua xe 2 bánh điện tại các thị trường mới nổi, trong đó có TP. Hồ Chí Minh. Đáng chú ý, Tran (2026) xác nhận rằng nhận thức về đổi mới và nhận thức môi trường làm gia tăng giá trị xanh cảm nhận, từ đó thúc đẩy ý định mua xe 2 bánh điện của người tiêu dùng Việt Nam.
Mặc dù bằng chứng thực nghiệm ngày càng phong phú, nhưng kết quả nghiên cứu vẫn cho thấy ý định mua phương tiện điện được hình thành bởi nhiều cơ chế khác nhau, từ nhận thức môi trường, giá trị cảm nhận đến hình ảnh sản phẩm, động cơ và rào cản chuyển đổi. Vì vậy, vẫn cần tiếp tục kiểm định các yếu tố thúc đẩy ý định mua xe máy điện dưới góc độ tiêu dùng xanh trong từng bối cảnh đô thị cụ thể. Khoảng trống này đặc biệt có ý nghĩa tại TP. Hồ Chí Minh, nơi mật độ sử dụng xe 2 bánh cao và quá trình chuyển đổi giao thông xanh đang được đẩy mạnh. Các nghiên cứu về tiêu dùng xanh tại Việt Nam cũng cho thấy mối quan tâm môi trường và nhận thức về ảnh hưởng của người tiêu dùng có thể góp phần hình thành thái độ và ý định mua xanh (Hoang và Tung, 2024).
Về thực tiễn, Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội đã tạo khuôn khổ cho TP. Hồ Chí Minh thí điểm các cơ chế đặc thù trong quản lý đô thị, tài nguyên, môi trường và đổi mới sáng tạo. Thành phố cũng đã nghiên cứu các chương trình chuyển đổi phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang phương tiện điện, trong đó có đề xuất chuyển đổi khoảng 400.000 xe 2 bánh của tài xế công nghệ và giao hàng sang xe điện. Những chuyển động chính sách này làm cho việc nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng trở nên đặc biệt cần thiết.
Từ khoảng trống nghiên cứu và yêu cầu thực tiễn trên, nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua xe máy điện của người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh dưới góc độ tiêu dùng xanh. Kết quả kỳ vọng bổ sung bằng chứng cho nghiên cứu hành vi người tiêu dùng xanh trong thị trường mới nổi, đồng thời cung cấp hàm ý cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong thúc đẩy chuyển đổi từ xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang phương tiện điện.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và logic của Lý thuyết suy luận hành vi (BRT) của Westaby (2005). TPB cho rằng ý định là tiền đề quan trọng của hành vi, trong khi BRT nhấn mạnh đồng thời các lý do thúc đẩy và cản trở một quyết định. Trong bối cảnh xe máy điện, các nghiên cứu gần đây cho thấy ý định chuyển đổi chịu ảnh hưởng đồng thời của nhận thức môi trường, giá trị và chi phí cảm nhận, hình ảnh sản phẩm/thương hiệu và các rào cản sử dụng (Nguyen-Phuoc và cộng sự, 2025; Van Nguyen và cộng sự, 2026). Vì vậy, nghiên cứu xem xét 5 yếu tố gồm: Nhận thức môi trường, Quan tâm môi trường, Sẵn lòng chi trả xanh, Rào cản tiếp cận sản phẩm và Thương hiệu xanh đối với Ý định mua xe máy điện.
Nhận thức môi trường và ý định mua xe máy điện
Nhận thức môi trường phản ánh mức độ người tiêu dùng hiểu được hậu quả môi trường của hoạt động tiêu dùng và lợi ích của các lựa chọn bền vững. Trong bối cảnh Việt Nam, Tran (2026) cho thấy nhận thức môi trường làm gia tăng giá trị xanh cảm nhận và trực tiếp thúc đẩy ý định mua xe hai bánh điện. Giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất:
H1: Nhận thức môi trường tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện.
Quan tâm môi trường và ý định mua xe máy điện
Quan tâm môi trường thể hiện mức độ lo ngại của cá nhân đối với ô nhiễm, biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên. Bằng chứng gần đây cho thấy đây là một trong những tiền tố quan trọng của thái độ và ý định lựa chọn xe điện. Nghiên cứu trên 706 người tại 5 thành phố lớn của Việt Nam cũng cho thấy quan tâm môi trường góp phần hình thành nhận thức về hậu quả môi trường (Kottala và cộng sự, 2025). Giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H2: Quan tâm môi trường tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện.
Sẵn lòng chi trả xanh và ý định mua xe máy điện
Sẵn lòng chi trả xanh phản ánh mức độ người tiêu dùng chấp nhận hy sinh tài chính để lựa chọn sản phẩm mang lại lợi ích môi trường. Đối với phương tiện điện, quyết định mua chịu ảnh hưởng đáng kể bởi sự đánh đổi giữa giá trị nhận được và chi phí phải bỏ ra. Van Nguyen và cộng sự (2026) cho thấy chi phí cảm nhận làm suy giảm phản ứng tích cực đối với xe máy điện. Nghiên cứu gần đây về Việt Nam cho thấy thông tin về chi phí vận hành và tổng chi phí sở hữu có thể làm tăng đáng kể khả năng lựa chọn xe máy điện (Nguyen và cộng sự, 2026). Giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất:
H3: Sẵn lòng chi trả xanh tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện.
Rào cản tiếp cận sản phẩm và ý định mua xe máy điện
Rào cản tiếp cận bao gồm khó khăn trong tìm kiếm sản phẩm, mạng lưới phân phối, sạc pin, đổi pin và sự thuận tiện khi sử dụng. Truong và cộng sự (2024) cho thấy các điều kiện hạ tầng và thị trường có thể hình thành những rào cản tâm lý làm giảm ý định chấp nhận xe điện tại TP. Hồ Chí Minh. Nguyen-Phuoc và cộng sự (2025) cũng xác nhận các lý do chống lại việc chuyển sang xe máy điện làm giảm ý định chấp nhận. Nghiên cứu mới nhất tại Việt Nam tiếp tục cho thấy cải thiện khả năng sạc và đổi pin có thể làm tăng xác suất lựa chọn xe máy điện (Nguyen và cộng sự, 2026). Giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:
H4: Rào cản tiếp cận sản phẩm tác động tiêu cực đến Ý định mua xe máy điện.
Thương hiệu xanh và ý định mua xe máy điện
Thương hiệu xanh phản ánh nhận thức của người tiêu dùng về uy tín, hình ảnh và cam kết môi trường của thương hiệu. Trong thị trường xe điện Việt Nam, niềm tin và các yếu tố gắn với thương hiệu xanh có khả năng củng cố ý định mua (Le và Nguyen, 2025). Giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất:
H5: Thương hiệu xanh tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện.
Mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở các lý thuyết trên và lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, mô hình nghiên cứu được đề xuất như Hình.
Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất
![]() |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn định tính và định lượng. Ở giai đoạn định tính, mô hình và thang đo được xây dựng trên cơ sở tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước về tiêu dùng xanh và ý định chấp nhận xe máy điện. Sau đó, thảo luận với 10 chuyên gia được thực hiện nhằm hiệu chỉnh nội dung thang đo cho phù hợp với bối cảnh TP. Hồ Chí Minh. Kết quả định tính giữ lại 5 yếu tố gồm: Nhận thức môi trường (NT), Quan tâm môi trường (QT), Sẵn lòng chi trả xanh (GX), Rào cản tiếp cận sản phẩm (DT) và Thương hiệu xanh (TH).
Ở giai đoạn định lượng, nghiên cứu khảo sát 330 người tiêu dùng, sau quá trình sàng lọc thu được 311 quan sát hợp lệ để phân tích. Dữ liệu được xử lý thông qua thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính với sai số chuẩn vững để kiểm định các giả thuyết. Biến phụ thuộc là Ý định mua xe máy điện (YD), 5 biến độc lập là NT, QT, GX, DT và TH. Tổng hợp thang đo thuộc các nhân tố trong mô hình nghiên cứu tại Bảng 1.
Bảng 1: Các thang đo thuộc các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
| Nhân tố | Mã hóa | Thang đo | Nguồn |
|---|---|---|---|
| Ý định mua xe máy điện (YD) | YD1 | Tôi có ý định mua xe máy điện trong thời gian tới. | Wang H.J, (2017) |
| YD2 | Tôi sẽ cân nhắc mua xe máy điện khi có nhu cầu mua hoặc thay thế phương tiện. | ||
| YD3 | Tôi ưu tiên xem xét xe máy điện khi lựa chọn phương tiện trong tương lai. | ||
| YD4 | Tôi sẵn sàng lựa chọn xe máy điện thân thiện với môi trường. | ||
| Nhận thức môi trường (NT) | NT1 | Tôi hiểu biết về các vấn đề môi trường. | Zhao và cộng sự (2014) |
| NT2 | Tôi có kiến thức về tái chế và bảo vệ môi trường. | ||
| NT3 | Tôi biết cách lựa chọn các sản phẩm có thể tái chế. | ||
| NT4 | Tôi hiểu các thông tin và ký hiệu liên quan đến môi trường trên sản phẩm. | ||
| NT5 | Tôi nhận thức được sự cần thiết của việc lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường. | ||
| Quan tâm môi trường (QT) | QT1 | Tôi cho rằng quá trình phát triển hiện nay đang gây sức ép lên môi trường. | Zhao và cộng sự (2014) |
| QT2 | Tôi lo ngại về các vấn đề ô nhiễm môi trường. | ||
| QT3 | Tôi cho rằng cân bằng của môi trường tự nhiên rất dễ bị phá vỡ. | ||
| QT4 | Tôi cho rằng cải thiện môi trường cần sự tham gia của cộng đồng. | ||
| Sẵn sàng chi trả xanh (GX) | GX1 | Tôi sẵn sàng trả nhiều hơn cho sản phẩm có chất lượng và lợi ích môi trường tốt hơn. | Hossain và Khan (2018) |
| GX2 | Tôi chấp nhận trả thêm cho các sản phẩm được sản xuất hoặc cung ứng theo hướng thân thiện với môi trường. | ||
| GX3 | Tôi sẵn sàng chi trả cho những sản phẩm ít gây tác động tiêu cực đến môi trường. | ||
| Rào cản tiếp cận sản phẩm (DT) | DT1 | Tôi cảm thấy bất tiện khi tìm kiếm xe máy điện thay thế xe sử dụng động cơ đốt trong. | Gleim và cộng sự (2013) |
| DT2 | Tôi cho rằng xe máy điện chưa dễ dàng tiếp cận tại các điểm bán mà tôi thường lựa chọn. | ||
| DT3 | Tôi gặp khó khăn trong việc xác định nơi có thể mua hoặc trải nghiệm xe máy điện. | ||
| Thương hiệu xanh (TH) | TH1 | Tôi nhận biết các thương hiệu xe máy điện có định hướng xanh tại Việt Nam. | Nguyễn Đan Thi (2013) |
| TH2 | Tôi có thiện cảm với những thương hiệu thể hiện trách nhiệm đối với môi trường. | ||
| TH3 | Các đặc tính thân thiện với môi trường của sản phẩm ảnh hưởng đến lựa chọn thương hiệu của tôi. | ||
| TH4 | Tôi đánh giá cao các thương hiệu xe máy điện có hình ảnh thân thiện với môi trường. |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha
Độ tin cậy của thang đo được đánh giá bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Tổng cộng 23 biến quan sát thuộc 6 thang đo gồm: Ý định mua xe máy điện, Nhận thức môi trường, Quan tâm môi trường, Sẵn lòng chi trả xanh, Rào cản tiếp cận sản phẩm và Thương hiệu xanh được đưa vào kiểm định. Kết quả Bảng 2 cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy, với Cronbach’s Alpha của các thang đo dao động từ 0,775-0,919. Vì vậy, các biến quan sát đạt yêu cầu để tiếp tục thực hiện phân tích EFA.
Bảng 2: Tổng hợp hệ số Cronbach’s Alpha
| Nhân tố | Số biến ban đầu | Cronbach’s Alpha | Số biến hợp lệ |
|---|---|---|---|
| Nhận thức môi trường (NT) | 5 | 0,919 | 5 |
| Thương hiệu xanh (TH) | 4 | 0,896 | 4 |
| Quan tâm môi trường (QT) | 4 | 0,914 | 4 |
| Sẵn sàng chi trả xanh (GX) | 3 | 0,829 | 3 |
| Rào cản tiếp cận sẩn phẩm (DT) | 3 | 0,851 | 3 |
| Ý định mua xe máy điện (YD) | 4 | 0,775 | 4 |
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của tác giả
Phân tích nhân tố EFA
Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy một điểm dừng tại dòng thứ năm với giá trị riêng là 1,772 > 1, điều này cho thấy rằng các biến được đưa vào phân tích được sắp xếp thành 5 nhóm nhân tố. Ngoài ra, tổng phương sai trích tại dòng thứ năm là 75,877% .
Kết quả xoay nhân tố cho thấy 19 biến được đưa vào phân tích sắp xếp cụ thể thành 5 nhóm nhân tố.
Phân tích sự tương quan tuyến tính giữa các biến
Qua phân tích, đánh giá độ tin cậy của thang đo và giá trị của thang đo, nghiên cứu xác định được 5 nhân tố tác động đến Ý định mua xe máy điện.
Giá trị Sig. các yếu tố đều bằng 0,000 < 0,05, tức các biến độc lập có tương quan với biến phụ thuộc Ý định mua xe máy điện, đủ điều kiện để tiến hành chạy mô hình hồi quy tuyến tính.
Phân tích hồi quy và kiểm định mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính bội để đánh giá sự tác động của các biến độc lập NT, QT, GX, DT, TH đến biến phụ thuộc là YD.
Kết quả phân tích cho giá trị R2 hiệu chỉnh bằng 0,523, cho thấy các biến độc lập đưa vào phân tích hồi quy ảnh hưởng 52,3% sự biến thiên của biến phụ thuộc, còn lại 47,7% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
Giá trị Durbin-Watson để đánh giá hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc nhất, giá trị DW = 1,548, nằm trong khoảng từ 1,5-2,5 nên kết quả không vi phạm giả định tự tương quan chuỗi bậc nhất.
Kết quả phân tích hồi quy tại Coeficients cho thấy, giá trị Sig. của các yếu tố NTtb, QTtb, GXtb, DTtb, THtb đều nhỏ hơn 0,05; tức các yếu tố này có ý nghĩa thống kê, có sự tác động lên yếu tố YDtb.
Như vậy, sau khi thực hiện phân tích nghiên cứu định lượng, 5 yếu tố tác động tích cực đến Ý định mua xe máy điện của người dân TP. Hồ Chí Minh là: Nhận thức môi trường, Sự quan tâm đến môi trường, Rào cản tiếp cận sản phẩm, Sẵn lòng chi trả và Thương hiệu xanh đều có mối quan hệ cùng chiều với Ý định mua xe máy điện, thể hiện qua phương trình hồi quy:
YDtb = 0,24*NTtb + 0,235*DTtb + 0,231*THtb + 0,169*GXtb + 0,131*QTtb + ei
Kết quả phân tích giả định phương sai phần dư không thay đổi cho kết quả giá trị Sig. tương quan giữa phần dư chuẩn hóa (ABSRES) với các biến độc lập đều lớn hơn 0,05, như vậy không có hiện tượng phương sai thay đổi xảy ra.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 5 yếu tố đều có ý nghĩa thống kê đối với ý định mua xe máy điện tại TP. Hồ Chí Minh. Mức tác động lần lượt gồm: Nhận thức môi trường (β = 0,240), Rào cản tiếp cận sản phẩm (β = 0,235), Thương hiệu xanh (β = 0,231), Sẵn lòng chi trả xanh (β = 0,169) và Quan tâm môi trường (β = 0,131). Đáng chú ý, Rào cản tiếp cận sản phẩm có hệ số dương, trái với kỳ vọng lý thuyết, cho thấy trong bối cảnh TP. Hồ Chí Minh, sự quan tâm và trải nghiệm tìm kiếm xe điện có thể đồng thời làm gia tăng ý định mua.
Từ kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp cần ưu tiên nâng cao hình ảnh thương hiệu xanh, truyền thông rõ lợi ích môi trường, mở rộng điểm bán và trải nghiệm sản phẩm. Đồng thời, cần xây dựng chính sách giá, hỗ trợ tài chính và chi phí sử dụng phù hợp nhằm gia tăng mức sẵn lòng chi trả. Cơ quan quản lý nên tăng cường truyền thông về giao thông xanh, hỗ trợ phát triển hạ tầng sạc và tạo điều kiện cho người tiêu dùng tiếp cận xe máy điện thuận lợi hơn.
Tài liệu tham khảo:
1. Ajzen, I. (1991). The Theory of Planned Behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50, 179-211, https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-t
2. Han, C.-S., Hsu, Y.-M., & Hsu, H.-J. (2024). Charging forward: Unveiling the dynamics of consumer EV adoption in Asia'stransition to green mobility. Asia Pacific Journal of Marketing and Logistics. https://doi.org/10.1108/APJML-03-2024-0346
3. Hoang, D. V., & Tung, L. T. (2024). Environmental concern, perceived marketplace influence and green purchase behavior: The moderation role of perceived environmental responsibility. International Journal of Sociology and Social Policy, 44(11/12), 1024-1039.
4. Kottala, S. Y., Chanagala, S., Balaji, C., Reddy, V. V. N., & Babu, G. N. P. V. (2025). Exploring electric vehicle consumer behavior: Impact of digital innovation, environmental concern, perceived value, and social influence on purchase intentions. Frontiers in Sustainable Cities, 7, Article 1655074. https://doi.org/10.3389/frsc.2025.1655074
5. Nguyen, H. T. T., Akimov, A., & Tran, N. V. (2026). Can educational and policy interventions enhance EV adoption in Vietnam? Consumer insights. Energy Policy, 216, Article 115370. https://doi.org/10.1016/j.enpol.2026.115370
6. Nguyen-Phuoc, D. Q., Truong, T. M., Nguyen, N. N. A., Luu, T. T., & Su, D. N. (2025). Intention to adopt electric motorcycles in developing markets: Examining the role of image, motivators and barriers through the behavioral reasoning theory framework. Transportation Research Part F: Traffic Psychology and Behaviour, 109, 840–859. https://doi.org/10.1016/j.trf.2025.01.005
7. Nguyen-Viet, B., Nguyen, A. T. L., & Phan Thu, H. N. (2025). Toward sustainable development: Electric two-wheeler adoption in emerging markets. Research in Transportation Business & Management, 62, Article 101468. https://doi.org/10.1016/j.rtbm.2025.101468
8. Tran, N. K. H. (2026). Integrating innovation and environmental awareness: A path to green purchase intention for electric two-wheelers. Travel Behaviour and Society, 43, Article 101164. https://doi.org/10.1016/j.tbs.2025.101164
9. Truong, N., Trencher, G., Yarime, M., Barrett, B., & Matsubae, K. (2024). Barriers to the adoption of electric cars and electric motorcycles in Vietnam. Transportation Research Part D: Transport and Environment, 131, Article 104204. https://doi.org/10.1016/j.trd.2024.104204
10. Van Nguyen, B., Nguyen-Phuoc, D. Q., Vo, N. D. Q., Su, D. N., & Oviedo-Trespalacios, O. (2026). How value, cost, and emotions drive electric motorcycle adoption in Vietnam: A cognitive–affective–conative approach. Research in Transportation Business & Management, 64, Article 101534. https://doi.org/10.1016/j.rtbm.2025.101534
11. Westaby (2005). Behavioral reasoning theory: Identifying new linkages underlying intentions and behavior, 98(2), 97–120. doi:10.1016/j.obhdp.2005.07.003.
| Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026 |
Các tin khác
SPS/TBT, truy xuất nguồn gốc và thích ứng trong xuất khẩu sầu riêng Việt Nam sang Trung Quốc
Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tích hợp công nghệ số BIM-ERP và chỉ số bền vững ESG trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam
Thực thi chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Cảnh quan ngôn ngữ và giá trị thương hiệu điểm đến: Nghiên cứu trường hợp đường Hải Thượng Lãn Ông tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của chuyển đổi số đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tài chính bao trùm và tiếp cận công nghệ số của các nhóm yếu thế ở Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách
Hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp tư vấn thiết kế xây dựng quy mô nhỏ và vừa tại Việt Nam: Đề xuất khung phân tích tích hợp
Ảnh hưởng của xu hướng mua sắm giải trí trên nền tảng TikTok đến hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng
Ứng dụng Random Forest phân tích tác động trễ của giá năng lượng đến giá carbon tại Hệ thống thương mại phát thải châu Âu và hàm ý cho Việt Nam
