Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách

Nghiên cứu - Trao đổi 11:37 | 23/09/2026
Lao động phi chính thức là một bộ phận quan trọng của thị trường lao động Việt Nam, góp phần tạo việc làm và sinh kế cho một bộ phận lớn người lao động, nhưng thường gắn với mức độ bảo vệ thấp hơn về quan hệ lao động, bảo hiểm xã hội, ổn định thu nhập và khả năng ứng phó với rủi ro.

ThS. Nguyễn Thị Ngân Hà

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính

Email: [email protected]

Tóm tắt

Lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thị trường lao động Việt Nam dù quá trình chính thức hóa đã có chuyển biến tích cực. Trên cơ sở dữ liệu Điều tra Lao động việc làm năm 2021 và 2025, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh để phân tích sự thay đổi về quy mô, tỷ lệ lao động phi chính thức và một số chiều cạnh chất lượng việc làm thông qua thu nhập, thời gian làm việc, khác biệt thành thị - nông thôn và giới tính. Kết quả cho thấy tỷ lệ lao động phi chính thức giảm từ 68,5% xuống 63,1%, nhưng quy mô vẫn trên 33 triệu người. Thu nhập bình quân tăng đáng kể song năm 2025 chỉ bằng khoảng 56,9% thu nhập của lao động chính thức; lao động nữ phi chính thức tiếp tục gặp bất lợi về thu nhập. Khoảng cách về tỷ lệ làm việc trên 48 giờ/tuần thu hẹp rõ, nhưng chưa đủ để khẳng định chất lượng việc làm đã cải thiện toàn diện. Bài viết đề xuất chuyển trọng tâm chính sách từ giảm tỷ lệ phi chính thức đơn thuần sang nâng thu nhập, mở rộng bảo vệ xã hội và tạo động lực chính thức hóa phù hợp với từng nhóm lao động.

Từ khóa: An sinh xã hội, chất lượng việc làm, chính thức hóa, lao động phi chính thức,thu nhập.

Abstract

Informal employment remains a major component of Viet Nam’s labour market despite recent progress in formalization. Drawing on data from the 2021 and 2025 Labour Force Surveys, this study employs descriptive statistical and comparative methods to examine changes in the size and share of informal employment, as well as selected dimensions of job quality, including earnings, working hours, urban-rural disparities, and gender differences.The informal employment rate fell from 68.5% to 63.1%, yet the number of informal workers remained above 33 million. Average earnings increased considerably, but in 2025 informal workers earned only about 56.9% of formal workers’ earnings, while informal female workers remained particularly disadvantaged. The gap in the share of wage workers working more than 48 hours per week narrowed substantially, but this alone does not indicate a comprehensive improvement in job quality. The paper recommends shifting policy from simply reducing informality toward improving earnings, social protection and incentives for sustainable formalization.

Keywords: Social protection, job quality, formalization, informal labor, income

GIỚI THIỆU

Lao động phi chính thức (LĐPCT) là một bộ phận quan trọng của thị trường lao động Việt Nam, góp phần tạo việc làm và sinh kế cho một bộ phận lớn người lao động, nhưng thường gắn với mức độ bảo vệ thấp hơn về quan hệ lao động, bảo hiểm xã hội, ổn định thu nhập và khả năng ứng phó với rủi ro. Theo cách tiếp cận thống kê đang được sử dụng tại Việt Nam, LĐPCT được xác định dựa trên đặc điểm của việc làm và không đồng nhất với khu vực kinh tế phi chính thức. Giai đoạn 2021-2025, số LĐPCT giảm từ khoảng 33,63 triệu người xuống 33,14 triệu người, trong khi tỷ lệ LĐPCT giảm từ 68,5% xuống 63,1%; đồng thời, số lao động chính thức tăng từ khoảng 15,44 triệu người lên 19,34 triệu người. Những thay đổi này cho thấy quá trình chính thức hóa có chuyển biến, nhưng quy mô LĐPCT vẫn rất lớn.

Các nghiên cứu trước đã làm rõ nhiều đặc điểm và yếu tố liên quan đến LĐPCT tại Việt Nam. McCaig và Pavcnik (2015) phân tích quá trình chuyển dịch giữa việc làm phi chính thức và chính thức, cho thấy khả năng chuyển đổi khác nhau giữa các nhóm lao động. O’Higgins và Viegelahn (2021) hệ thống hóa xu hướng, đặc điểm và các yếu tố quyết định tình trạng việc làm phi chính thức, đồng thời nhấn mạnh tính không đồng nhất của nhóm lao động này. Ở góc độ giới, Anh và cộng sự (2022) cho thấy bất bình đẳng thu nhập giữa nam và nữ là một vấn đề đáng chú ý trong nhóm LĐPCT. Những nghiên cứu này tạo nền tảng quan trọng để nhận diện đặc điểm, động lực và bất lợi của LĐPCT ở Việt Nam.

Tuy nhiên, vẫn cần có thêm các phân tích cập nhật đến năm 2025 để xem xét sự thay đổi của LĐPCT trong bối cảnh thị trường lao động gần đây. Đặc biệt, cần làm rõ liệu sự giảm tỷ lệ LĐPCT có đi kèm với sự thu hẹp đáng kể về quy mô hay không, và quan trọng hơn, liệu quá trình này có đồng thời gắn với cải thiện một số chiều cạnh của chất lượng việc làm, nhất là thu nhập và thời gian làm việc. Khoảng trống này có ý nghĩa thực tiễn vì tỷ lệ phi chính thức giảm chưa nhất thiết đồng nghĩa với điều kiện việc làm của nhóm LĐPCT còn lại được cải thiện tương ứng.

Trên cơ sở đó, bài viết phân tích sự thay đổi của LĐPCT tại Việt Nam giữa 2 thời điểm 2021 và 2025 trên 2 phương diện: quy mô, tỷ lệ và cơ cấu theo khu vực, giới tính; đồng thời xem xét một số chiều cạnh chất lượng việc làm thông qua thu nhập bình quân từ công việc chính và tỷ lệ lao động làm công hưởng lương làm việc trên 48 giờ/tuần. Bài viết hướng tới làm rõ xu hướng chính thức hóa, mức độ cải thiện chất lượng việc làm và từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách theo hướng nâng cao thu nhập, tăng cường bảo vệ người lao động và thúc đẩy chính thức hóa bền vững.

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng số liệu Điều tra Lao động việc làm năm 2021 và năm 2025, Báo cáo Tổng quan về lao động có việc làm phi chính thức ở Việt Nam của Tổng cục Thống kê (GSO) và các nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Theo Tổng cục Thống kê, người lao động có việc làm phi chính thức (còn gọi là LĐPCT) là những người làm các công việc mà theo luật định hoặc trên thực tế không được pháp luật lao động bảo vệ, không phải đóng thuế thu nhập hoặc không được hưởng các chế độ bảo trợ xã hội và chế độ việc làm khác (như không được thông báo trước về việc sa thải, không được trợ cấp thôi việc, không được trả lương hàng năm hoặc không được nghỉ phép khi ốm đau…). Công việc đó thường không được khai báo, có tính chất tạm thời hoặc ngắn hạn, có số giờ làm việc hay mức lương dưới ngưỡng quy định, đôi khi không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật. Theo định nghĩa này, người lao động tự làm và người chủ cơ sở được xác định là LĐPCT khi cơ sở làm việc của họ thuộc khu vực phi chính thức. Tất cả lao động gia đình không được trả công trả lương đều được xác định là LĐPCT. Lao động làm công hưởng lương không có hợp đồng lao động, không được người chủ sử dụng lao động chi trả bảo hiểm xã hội hoặc không có các cam kết nào đảm bảo các phúc lợi xã hội trong lĩnh vực lao động cũng được xác định là LĐPCT bất kể họ làm trong cả cơ sở thuộc khu vực chính thức hay phi chính thức.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả và so sánh giữa hai thời điểm năm 2021 và năm 2025. Các chỉ tiêu gồm quy mô, tỷ lệ LĐPCT theo giới tính và thành thị - nông thôn; thu nhập bình quân tháng từ công việc chính; tỷ lệ lao động làm công hưởng lương làm việc trên 48 giờ/tuần. Các chỉ tiêu được so sánh bằng chênh lệch tuyệt đối, điểm phần trăm, tỷ lệ và mức tăng danh nghĩa; trong đó thu nhập chưa điều chỉnh theo biến động giá. Do sử dụng thống kê mô tả tại hai thời điểm, kết quả phản ánh sự khác biệt và xu hướng, không nhằm xác định quan hệ nhân quả.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Xu hướng và quy mô LĐPCT giai đoạn 2021-2025

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về LĐPCT theo khu vực và giới tính năm 2021, năm 2025

Đơn vị: Triệu người, %

Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách

Nguồn: Cục Thống kê (2026b), Tổng cục Thống kê (2022b)

Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ LĐPCT giảm 5,4 điểm phần trăm, từ 68,5% xuống 63,1%, trong khi quy mô chỉ giảm khoảng 0,49 triệu người, từ 33,63 triệu xuống 33,14 triệu người. Trái lại, lao động chính thức tăng từ khoảng 15,44 triệu lên 19,34 triệu người. Diễn biến này cho thấy sự cải thiện về tỷ lệ phi chính thức gắn nhiều hơn với sự gia tăng việc làm chính thức, trong khi quy mô việc làm phi chính thức chưa thu hẹp tương ứng. Với hơn 33 triệu LĐPCT năm 2025, tính phi chính thức vẫn là một đặc điểm đáng chú ý của thị trường lao động Việt Nam. Xét theo giới, tỷ lệ phi chính thức của nam giảm từ 71,6% xuống 66,5%, của nữ từ 65,0% xuống 59,3%.

Tuy nhiên, tỷ lệ thấp hơn ở nữ không đồng nghĩa với chất lượng việc làm cao hơn. ILO và ILSSA (2024) chỉ ra những bất lợi của phụ nữ trong việc làm phi chính thức, trong đó có thu nhập và gánh nặng công việc chăm sóc không được trả công. Vì vậy, tiến trình chính thức hóa cần được đánh giá đồng thời với các chiều cạnh về thu nhập, điều kiện làm việc và mức độ bảo vệ người lao động.

Một số chiều cạnh của chất lượng việc làm của LĐPCT

Thu nhập và khoảng cách thu nhập

Bảng 2: Thu nhập bình quân tháng từ công việc chính của lao động phi chính thức theo khu vực và giới tính năm 2021, năm 2025

Đơn vị: Triệu đồng/người/tháng, %

Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách
Nguồn: Cục Thống kê (2026b), Tổng cục Thống kê (2022b)

Thu nhập bình quân tháng từ công việc chính của LĐPCT tăng từ 4,45 triệu đồng năm 2021 lên 6,49 triệu đồng năm 2025, tương ứng tăng danh nghĩa khoảng 45,7%. Tuy nhiên, mức thu nhập năm 2025 chỉ bằng 56,9% của lao động chính thức, cho thấy khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm vẫn xa đáng kể. Đáng chú ý, chênh lệch thu nhập còn thể hiện rõ theo giới: năm 2025, lao động nam phi chính thức đạt 7,73 triệu đồng/tháng, so với 4,92 triệu đồng của nữ; theo đó, thu nhập của nữ chỉ bằng khoảng 63,6% của nam và 47,4% của nữ lao động chính thức.

Kết quả này tương đồng với Anh và cộng sự (2022) khi chỉ ra sự hiện diện của bất bình đẳng thu nhập theo giới trong LĐPCT. Đồng thời, chênh lệch thu nhập giữa LĐPCT giữa thành thị và nông thôn tăng từ 0,94 triệu đồng năm 2021 lên 1,55 triệu đồng năm 2025, cho thấy sự cải thiện về mức thu nhập danh nghĩa chưa đồng đều giữa các nhóm lao động; giới tính và khu vực cư trú tiếp tục là những chiều cạnh cần được lưu ý khi đánh giá chất lượng việc làm phi chính thức.

Thời gian làm việc

Bảng 3. Tỷ lệ lao động làm công hưởng lương làm việc trên 48 giờ/tuần

Đơn vị: %

Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách
Nguồn: Cục Thống kê (2026b), Tổng cục Thống kê (2022b)

Năm 2021, tỷ lệ lao động làm công hưởng lương phi chính thức làm việc trên 48 giờ/tuần là 35,6%, cao hơn 10,1 điểm phần trăm so với lao động chính thức (25,5%). Đến năm 2025, khoảng cách này thu hẹp còn 2,3 điểm phần trăm, khi tỷ lệ tương ứng là 32,4% và 30,1%. Tuy nhiên, sự thu hẹp khoảng cách không hoàn toàn phản ánh sự cải thiện của nhóm phi chính thức, bởi tỷ lệ làm việc trên 48 giờ của nhóm này chỉ giảm 3,2 điểm phần trăm, trong khi nhóm chính thức lại tăng 4,6 điểm phần trăm. Vì vậy, kết quả chủ yếu cho thấy sự hội tụ về thời gian làm việc giữa hai nhóm, chưa đủ cơ sở để kết luận khoảng cách về chất lượng việc làm đã được thu hẹp một cách toàn diện.

THẢO LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Thứ nhất, quá trình chính thức hóa có tiến triển nhưng LĐPCT vẫn mang tính cơ cấu, khi tỷ lệ giảm 5,4 điểm phần trăm trong giai đoạn 2021-2025 nhưng quy mô vẫn trên 33 triệu người. Kết quả này phù hợp với nhận định của ILO (2025) rằng việc làm phi chính thức tại Việt Nam đã giảm nhưng vẫn ở mức cao ở một số nhóm lao động.

Thứ hai, chính thức hóa về số lượng chưa đồng nghĩa với cải thiện tương ứng về chất lượng việc làm, khi năm 2025 thu nhập LĐPCT chỉ bằng 56,9% lao động chính thức.

Thứ ba, chất lượng việc làm còn phân tầng theo giới và không gian, thể hiện qua bất lợi thu nhập của lao động nữ và chênh lệch giữa thành thị - nông thôn.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Thứ nhất, với quy mô LĐPCT vẫn trên 33 triệu người năm 2025, chính sách cần chuyển trọng tâm từ giảm tỷ lệ phi chính thức đơn thuần sang thúc đẩy chính thức hóa gắn với nâng cao chất lượng việc làm, thông qua cải thiện kỹ năng, năng suất và khả năng tiếp cận việc làm chính thức. Cách tiếp cận này phù hợp với khuyến nghị của ILO về kết hợp chính thức hóa với đào tạo, phát triển năng suất và hỗ trợ người lao động.

Thứ hai, khi thu nhập của LĐPCT năm 2025 chỉ bằng 56,9% lao động chính thức, cần coi cải thiện thu nhập và khả năng tiếp cận an sinh xã hội là tiêu chí quan trọng của quá trình chính thức hóa.

Thứ ba, chênh lệch giữa thành thị - nông thôn đòi hỏi chính sách việc làm, đào tạo kỹ năng và hỗ trợ chuyển đổi việc làm phù hợp với đặc điểm từng khu vực; ILO cũng xác định lao động nông thôn là nhóm cần được chú trọng trong chiến lược chính thức hóa.

Thứ tư, bất lợi thu nhập của lao động nữ phi chính thức cho thấy cần lồng ghép giới trong chính sách đào tạo, việc làm và an sinh xã hội, tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận việc làm ổn định và được bảo vệ tốt hơn.

KẾT LUẬN

Giai đoạn 2021-2025 ghi nhận chuyển biến tích cực trong quá trình chính thức hóa thị trường lao động Việt Nam khi tỷ lệ LĐPCT giảm từ 68,5% xuống 63,1%, trong khi việc làm chính thức gia tăng. Tuy nhiên, quy mô LĐPCT vẫn trên 33 triệu người, cho thấy tính phi chính thức vẫn là một đặc điểm đáng chú ý của thị trường lao động. Đồng thời, chất lượng việc làm chưa cải thiện đồng đều: năm 2025, thu nhập bình quân của LĐPCT chỉ bằng 56,9% lao động chính thức; lao động nữ phi chính thức và lao động nông thôn còn thể hiện những bất lợi về thu nhập. Khoảng cách về tỷ lệ làm việc trên 48 giờ/tuần giữa lao động làm công hưởng lương chính thức và phi chính thức đã thu hẹp, nhưng riêng chỉ tiêu này chưa đủ để khẳng định chất lượng việc làm đã cải thiện toàn diện.

Kết quả trên cho thấy tiến trình chính thức hóa cần được đánh giá đồng thời trên phương diện quy mô và chất lượng việc làm, phù hợp với cách tiếp cận của ILO về tính đa chiều và không đồng nhất của việc làm phi chính thức. Đóng góp của bài viết là cập nhật bằng chứng đến năm 2025 và đặt sự thay đổi về mức độ phi chính thức trong mối liên hệ với một số chiều cạnh chất lượng việc làm. Tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu sử dụng thống kê mô tả tại hai thời điểm và một số chỉ tiêu về thu nhập, thời gian làm việc nên chưa phản ánh đầy đủ các chiều cạnh của chất lượng việc làm và không cho phép xác định quan hệ nhân quả. Đây là những vấn đề cần tiếp tục làm rõ trong các nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu tham khảo:

1. Anh, D. V. P., Hue, H. T., Huy, N. Q., Hien, P. T. T., Huyen, N. T. T., & Anh, P. N. (2022). Gender income inequality among Vietnamese informal workers in the context of COVID-19. VNU Journal of Economics and Business, 2(5), 11–21. https://doi.org/10.57110/jeb.v2i5.4783

2. Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025.

3. Cục Thống kê (2026b). Điều tra lao động việc làm năm 2025.

4. Huynh, C. M., & Tran, N. H. (2025). Foreign direct investment, economic growth, governance quality and the informal economy: Empirical insights from an emerging economy. International Economics, 183, 100619. https://doi.org/10.1016/j.inteco.2025.100619

5. International Labour Organization. (2025). Phi chính thức tại Việt Nam: Xu hướng, động lực và hàm ý. https://doi.org/10.54394/PEZL2270

6. International Labour Organization, & Institute of Labour Science and Social Affairs. (2024). Việc làm phi chính thức tại Việt Nam qua lăng kính giới.

7. McCaig, B., & Pavcnik, N. (2015). Informal employment in a growing and globalizing low-income country. American Economic Review, 105(5), 545–550. https://doi.org/10.1257/aer.p20151051

8. O’Higgins, N., & Viegelahn, C. (2021). Informal employment in Viet Nam: Trends and determinants. International Labour Organization.

9. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.

10. Quốc hội (2025). Luật Việc làm số 74/2025/QH15.

11. Tổng cục Thống kê (2022a). Điều tra lao động việc làm năm 2021.

12. Tổng cục Thống kê (2022b). Tổng quan về lao động có việc làm phi chính thức ở Việt Nam.

Các tin khác

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics tại Bắc Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số và AI giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics tại Bắc Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số và AI giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngành logistics đóng vai trò là "mạch máu" của nền kinh tế, giúp các tổ chức kết nối các khâu sản xuất, phân phối và tiêu dùng.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu của sinh viên ngành Kinh tế và kinh doanh

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu của sinh viên ngành Kinh tế và kinh doanh

Trong bối cảnh kinh tế số hiện nay, dữ liệu được xem là nguồn tài nguyên mới, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ các mục đích của con người.
​​​​​​​Các yếu tố chuyển đổi số ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số của các công ty logistics tại TP. Hồ Chí Minh

​​​​​​​Các yếu tố chuyển đổi số ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số của các công ty logistics tại TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cách doanh nghiệp logistics tổ chức và quản trị nguồn nhân lực. Nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò của văn hóa số, lãnh đạo số, đào tạo năng lực số và hạ tầng số đối với hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số, qua đó đề xuất hàm ý quản trị phù hợp cho doanh nghiệp logistics.
Các thành tố hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tại Nam Định

Các thành tố hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tại Nam Định

Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đưa các thành tựu đổi mới vào sản xuất, dịch vụ và chuỗi giá trị địa phương.
Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Đồng Nai từ góc nhìn lãnh đạo chuyển đổi

Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Đồng Nai từ góc nhìn lãnh đạo chuyển đổi

Đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành điều kiện quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với biến động thị trường và tạo giá trị gia tăng bền vững.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gắn bó của nhân viên trong các doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gắn bó của nhân viên trong các doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường lao động, duy trì sự gắn bó của nhân viên là vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp FDI với yêu cầu cao về năng suất, hiệu quả và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực.
Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Các ngân hàng thương mại ngày càng quan tâm xây dựng chiến lược tài chính bền vững, triển khai chương trình tín dụng ưu tiên cho lĩnh vực xanh và từng bước áp dụng các tiêu chuẩn ESG trong quản trị rủi ro tín dụng.
Từ người tiêu dùng đến chủ thể kiến tạo thương hiệu: Vai trò của Gen Z và KOC/Creator trong sự chuyển đổi chiến lược Branding của doanh nghiệp

Từ người tiêu dùng đến chủ thể kiến tạo thương hiệu: Vai trò của Gen Z và KOC/Creator trong sự chuyển đổi chiến lược Branding của doanh nghiệp

Trong không gian số, quyền phát ngôn, quyền nhận xét và cả quyền diễn giải ý nghĩa thương hiệu đã dịch chuyển đáng kể về phía cộng đồng người dùng. Bối cảnh trên buộc nhiều thương hiệu rời bỏ lối làm thương hiệu một chiều để chuyển sang cách thức cùng người tiêu dùng dựng nên câu chuyện.
Quản lý và huy động nguồn lực vàng trong dân: Khơi thông nguồn vốn cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Quản lý và huy động nguồn lực vàng trong dân: Khơi thông nguồn vốn cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Khi tiết kiệm được giữ lâu dài dưới dạng vàng vật chất ngoài hệ thống tài chính, tài sản vẫn thuộc sở hữu của người dân nhưng khả năng trung gian hóa thành tín dụng hoặc vốn đầu tư bị hạn chế.
Quản lý tài sản công theo chi phí vòng đời: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho các đơn vị dự toán quân đội

Quản lý tài sản công theo chi phí vòng đời: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho các đơn vị dự toán quân đội

Tài sản công là nguồn lực nội sinh vô cùng quan trọng của đất nước, góp phần tham gia vào quá trình sản xuất và quản lý xã hội. Quản lý tài sản công sao cho hiệu quả luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội.