Quản lý tài sản công theo chi phí vòng đời: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho các đơn vị dự toán quân đội

Nghiên cứu - Trao đổi 08:31 | 23/09/2026
Tài sản công là nguồn lực nội sinh vô cùng quan trọng của đất nước, góp phần tham gia vào quá trình sản xuất và quản lý xã hội. Quản lý tài sản công sao cho hiệu quả luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội.

Nguyễn Phương Hoa

Học viện Kỹ thuật quân sự

Email: [email protected]

Tóm tắt

Tài sản công tại các đơn vị dự toán quân đội là cơ sở vật chất không thể thiếu trong thực hiện nhiệm vụ của mỗi đơn vị, gắn với đặc thù về an toàn, tiêu chuẩn kỹ thuật và tính bảo mật cao. Nghiên cứu nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài sản công theo chi phí vòng đời tại Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada và Trung Quốc nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho các đơn vị dự toán quân đội Việt Nam. Trên cơ sở phân tích mô hình quản lý tài sản công được áp dụng tại các nước, nghiên cứu cho thấy giá trị cốt lõi của quản lý vòng đời là khả năng liên kết các yếu tố như trạng thái kỹ thuật, tuổi thọ còn lại, tổng chi phí sở hữu, mức độ đáp ứng nhiệm vụ và nhu cầu vốn nhiều năm để ra quyết định. Nghiên cứu đề xuất nguyên tắc quyết định 2 tầng và 7 định hướng vận dụng thực tiễn, gồm: phân tầng tài sản, hồ sơ vòng đời, dữ liệu trạng thái, so sánh phương án, kế hoạch tái tạo trung hạn, quản lý danh mục và cơ chế rà soát - trách nhiệm - dữ liệu tích hợp.

Từ khóa: Chi phí vòng đời, đơn vị dự toán quân đội, quản lý tài sản công, quản lý vòng đời

Abstract

Public assets at military budget-funded units constitute indispensable physical resources for fulfilling each unit's missions and are associated with specific requirements regarding safety, technical standards, and a high level of confidentiality. This study examines experience in public asset management based on life-cycle costing in the United States, the United Kingdom, Canada, and China to draw lessons for military budget-funded units in Viet Nam. Based on an analysis of public asset management models applied in these countries, the study shows that the core value of life-cycle management lies in its ability to link factors such as technical condition, remaining useful life, total cost of ownership, mission capability, and multi-year funding needs to support decision-making. The study proposes a two-tier decision-making principle and seven practical directions, including asset classification, life-cycle records, condition data, option comparison, medium-term renewal planning, portfolio management, and integrated review, accountability, and data mechanisms.

Keywords: Life-cycle costing, military budget-funded units, public asset management, life-cycle management

GIỚI THIỆU

Tài sản công (TSC) là nguồn lực nội sinh vô cùng quan trọng của đất nước, góp phần tham gia vào quá trình sản xuất và quản lý xã hội. Quản lý TSC sao cho hiệu quả luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Đối với các đơn vị dự toán quân đội (ĐVDTQĐ), TSC là cơ sở vật chất không thể thiếu trong thực hiện nhiệm vụ của mỗi đơn vị gắn với đặc thù về an toàn, tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo mật cao. TSC trong các ĐVDTQĐ có giá trị lớn, chủ yếu được đầu tư từ ngân sách nhà nước. Do đó, quản lý TSC tại các ĐVDTQĐ cần bảo đảm chặt chẽ, thực hiện đúng các quy định về chi tiêu sử dụng ngân sách, mục tiêu tiết kiệm, chống lãng phí và hiệu quả. Một hệ thống quản lý tốt phải đồng thời đạt 3 yêu cầu: duy trì mức sẵn sàng và khả năng đáp ứng nhiệm vụ trong điều kiện an toàn, bảo mật; sử dụng nguồn lực ngân sách tiết kiệm, đúng mục đích và có trách nhiệm giải trình; đồng thời bảo đảm năng lực tài sản được duy trì bền vững qua các chu kỳ bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp, điều chuyển và thay thế. Bên cạnh đó, nhóm tài sản chuyên dùng có tuổi thọ dài, yêu cầu kỹ thuật cao và thị trường cung ứng hạn chế, quyết định hôm nay có thể tạo nghĩa vụ ngân sách trong nhiều năm sau. Do đó, hiệu quả quản lý cần được nhìn trên toàn vòng đời thay vì chỉ tại thời điểm mua sắm hoặc quyết toán năm.

Cách tiếp cận theo niên độ ngân sách và theo từng nghiệp vụ riêng lẻ dễ phát sinh các bất cập như: (i) giá mua ban đầu có thể được tối ưu trong khi chi phí vận hành, bảo dưỡng, phụ tùng, sửa chữa lớn hoặc lạc hậu công nghệ lại tăng về sau; (ii) hao mòn kế toán không phản ánh đầy đủ tình trạng kỹ thuật và tuổi thọ sử dụng còn lại, dẫn đến tình trạng tài sản chưa hết khấu hao nhưng đã suy giảm đáng kể khả năng đáp ứng nhiệm vụ, hoặc ngược lại; (iii) nhu cầu sửa chữa lớn và thay thế chỉ được nhận diện khi tài sản hỏng hoặc hết hạn, ngân sách bị động, dễ hình thành dồn tích nhu cầu vốn và làm giảm tính chủ động bảo đảm nhiệm vụ.

Các nghiên cứu về đầu tư quốc phòng cho thấy, cách tiếp cận chi phí vòng đời có thể khắc phục thiên lệch về giá mua ban đầu, tuy nhiên hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, năng lực phân tích, trách nhiệm quản trị và cơ chế gắn kế hoạch tài sản với ngân sách (Tysseland, 2008; Navarro-Galera và cộng sự, 2011; Duarte và cộng sự, 2025).

Ở Việt Nam, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định của Bộ Quốc phòng đã tạo nền tảng pháp lý trong quản lý TSC từ hình thành, sử dụng đến xử lý tài sản. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra đối với ĐVDTQĐ là tiếp tục nâng cao chất lượng ra quyết định: từ quản lý giao dịch sang quản trị năng lực tài sản; từ theo dõi nguyên giá và hao mòn sang kết hợp trạng thái kỹ thuật, tuổi thọ còn lại và chi phí; từ lập dự toán theo nhu cầu phát sinh sang dự báo nghĩa vụ bảo trì - tái tạo nhiều năm. Nghiên cứu phân tích kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada và Trung Quốc nhằm xác định cơ chế biến chi phí vòng đời trở thành công cụ quản trị hiệu quả và những nguyên tắc có thể kế thừa áp dụng cho các ĐVDTQĐ Việt Nam.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chi phí vòng đời (CVĐ) phản ánh tổng chi phí liên quan đến một tài sản hoặc hệ thống trong khoảng thời gian phân tích, từ hình thành, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa - nâng cấp đến kết thúc sử dụng, có xét giá trị thu hồi khi phù hợp. Khác với nguyên giá và hao mòn kế toán, CVĐ là công cụ so sánh phương án.

Có thể khái quát:

CVĐ = C0 + Σ(CVH + CBD + CSC + CNC + CRR) - VCL

Trong đó C0 là chi phí hình thành; CVH, CBD, CSC, CNC và CRR lần lượt là chi phí vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp và rủi ro có thể lượng hóa; VCL là giá trị còn lại hoặc giá trị thu hồi. Với thời gian phân tích dài, các dòng chi phí cần được quy đổi về cùng mặt bằng giá hoặc chiết khấu nhất quán.

Từ các nghiên cứu và chuẩn mực quản trị quốc tế, nghiên cứu sử dụng 4 trục phân tích: (i) phạm vi vòng đời và trách nhiệm xuyên suốt; (ii) dữ liệu về tình trạng, tuổi thọ còn lại và chi phí; (iii) so sánh phương án và rà soát định kỳ; (iv) cơ chế chuyển nhu cầu tài sản thành kế hoạch ngân sách trung - dài hạn. Đây là các điều kiện để CVĐ chuyển từ công cụ tính toán thành công cụ quản trị.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, gồm tổng quan tài liệu, phân tích so sánh thể chế và tổng hợp. Bốn quốc gia được lựa chọn vì có cơ chế quản lý vòng đời tương đối rõ, đại diện cho các cách liên kết khác nhau giữa tài sản, dữ liệu, trách nhiệm và ngân sách. Kết quả nghiên cứu dựa trên nguyên tắc chỉ kế thừa các nguyên lý quản trị có khả năng áp dụng thích hợp tại ĐVDTQĐ.

KINH NGHIỆM CỦA CÁC QUỐC GIA

Hoa Kỳ: Trách nhiệm xuyên suốt vòng đời và rà soát chi phí duy trì

Hoa Kỳ đưa CVĐ vào kiến trúc quản trị tài sản quốc phòng. Chỉ thị DoDI 5000.91 yêu cầu tổ chức bảo đảm sản phẩm từ sớm, duy trì kế hoạch bảo đảm vòng đời và xem xét đồng thời chi phí, hiệu năng, tiến độ và rủi ro; người quản lý chương trình và người quản lý bảo đảm sản phẩm tạo các đầu mối trách nhiệm xuyên vòng đời. Dữ liệu về độ tin cậy, mức sẵn sàng, khả năng bảo trì và chi phí vận hành - hỗ trợ được dùng để cập nhật phương án bảo đảm, thay vì chỉ phục vụ báo cáo sau sự kiện (U.S. DoD, 2021).

Cơ quan Kiểm toán Chính phủ Hoa Kỳ (2026) cho biết chi phí vận hành và hỗ trợ trong thực tiễn lịch sử chiếm khoảng 70% tổng CVĐ của hệ thống vũ khí; trong 36 cuộc rà soát công tác duy trì thuộc các năm tài khóa 2023-2024, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ xác định 14 hệ thống có mức tăng chi phí tới ngưỡng nghiêm trọng (U.S. Government Accountability Office, 2026). Bài học kinh nghiệm rút ra nằm ở 3 nguyên tắc: có đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp vòng đời; rà soát định kỳ dựa trên chi phí - trạng thái sẵn sàng - rủi ro; và chuyển kết quả rà soát thành điều chỉnh kế hoạch, ước tính và hành động khắc phục.

Vương quốc Anh: Biến dữ liệu hiện trạng thành nhu cầu vốn tương lai

Tiêu chuẩn chức năng của Chính phủ Anh về bất động sản GovS 004, phiên bản 2.2, đặt quản lý toàn vòng đời vào trung tâm quản lý TSC. Quyết định phải xem xét vòng đời, chi phí - lợi ích, dữ liệu tình trạng và các phương án thay thế; đơn vị khởi xướng chi tiêu phải cung cấp cho bộ phận tài chính hồ sơ CVĐ để lập ngân sách (UK Government Property Function, 2026). Chiến lược quản lý cơ sở vật chất yêu cầu khảo sát tình trạng, lập danh mục bảo trì dự kiến tối thiểu 5 năm và hồ sơ thay thế dài hạn (UK Government Property Function, 2022).

Giá trị nổi bật là cách biến dữ liệu kỹ thuật thành “đường cong nhu cầu vốn” trước khi tài sản hỏng: khảo sát tình trạng giúp nhận diện khối lượng bảo trì tồn đọng, mức ưu tiên sửa chữa, tuổi thọ cấu phần và thời điểm thay thế; kết quả sau đó trở thành đầu vào của quyết định tài chính. Quản lý tài sản và lập ngân sách vì vậy cùng dựa trên một nền dữ liệu, thay vì là 2 quy trình tách rời. Cách tiếp cận này phù hợp với nhà, công trình, phương tiện và thiết bị có thể đánh giá tình trạng định kỳ.

Canada: Gắn chi phí vòng đời với khả năng chi trả dài hạn

Canada nhấn mạnh khả năng chi trả trong toàn vòng đời. Hội đồng Ngân khố yêu cầu hồ sơ trình phê duyệt thể hiện tổng CVĐ, rủi ro tài chính, tác động dài hạn và nguồn lực cần thiết cho giai đoạn vận hành (Treasury Board of Canada Secretariat, 2026). Trong lĩnh vực quốc phòng, Kế hoạch đầu tư Quốc phòng yêu cầu các dự án vốn lớn ước tính chi phí phát triển hoặc mua sắm, vận hành, duy trì và xử lý; khung vốn được lập cho 20 năm nhưng dòng tiền vẫn quản lý theo từng năm (Department of National Defence Canada, 2018). Bài học ở đây là việc phân biệt 3 đại lượng: tổng nghĩa vụ CVĐ, nhu cầu tiền mặt từng năm và khả năng bố trí vốn dài hạn.

Canada đồng thời xây dựng năng lực chuyên môn về ước tính chi phí, phân tích rủi ro và độ nhạy. Bài học là CVĐ chỉ hữu ích khi kết quả định lượng đủ tin cậy và được chuyển thành căn cứ đánh giá khả năng chi trả, thứ tự ưu tiên vốn và các kịch bản ngân sách.

Trung Quốc: Toàn phạm vi - toàn vòng đời - toàn chi phí và chuẩn hóa dữ liệu

Điều lệnh Nội vụ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc năm 2025 yêu cầu các đơn vị thực hiện quản lý tài sản theo nguyên tắc “toàn phạm vi, toàn vòng đời, toàn chi phí và chuẩn hóa”, đồng thời tăng cường giám sát việc bảo đảm tài sản. Quy định yêu cầu mã hóa, gắn nhãn từ nguồn, đăng ký và hạch toán, không để tài sản ngoài sổ; xác định người sử dụng và người quản lý; duy trì tình trạng tốt; tổ chức nghỉ sử dụng, báo phế và chuyển giao tài sản dư thừa, nhàn rỗi kịp thời (Central Military Commission of China, 2025).

Nghiên cứu của Wang Yuan và cộng sự (2018) về hệ thống thông tin tài sản quân đội cho thấy logic tích hợp từ đề nghị mua, bàn giao, sửa chữa - bảo dưỡng đến thanh lý và truy xuất vòng đời. Kinh nghiệm Trung Quốc nhấn mạnh ở sự kết hợp 4 lớp: phạm vi tài sản, vòng đời, chi phí và trách nhiệm dữ liệu. Đặc biệt là việc kế thừa nguyên tắc “một tài sản - một dấu vết dữ liệu xuyên vòng đời - một trách nhiệm sử dụng và quản lý rõ ràng”, chứ không phải sao chép mô hình tổ chức hay cơ chế kiểm soát của nước này.

Bốn trường hợp cho thấy quản lý theo CVĐ gồm 3 vòng liên kết: Vòng kỹ thuật xác định trạng thái, tuổi thọ còn lại và rủi ro của tài sản; Vòng kinh tế so sánh chi phí - lợi ích - rủi ro giữa các phương án; Vòng ngân sách chuyển nhu cầu duy trì, tái tạo thành kế hoạch vốn nhiều năm. Hoa Kỳ nổi bật về trách nhiệm và rà soát; Vương quốc Anh về dữ liệu tình trạng và hồ sơ thay thế; Canada về khả năng chi trả và ước tính chi phí; Trung Quốc về quản lý toàn phạm vi và truy xuất dữ liệu. Thiếu một vòng, CVĐ dễ trở thành bảng tính độc lập hoặc quản lý vẫn quay về xử lý giao dịch hằng năm. Với tài sản quốc phòng, phương án có CVĐ thấp nhất chưa chắc phù hợp; trước hết phải đáp ứng ngưỡng nhiệm vụ, an toàn, kỹ thuật, tương thích và bảo mật, sau đó mới tối ưu chi phí và rủi ro.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mục tiêu quản lý TSC trong ĐVDTQĐ cần được đặt ra là: duy trì năng lực tài sản đáp ứng nhiệm vụ với mức rủi ro chấp nhận được và tổng CVĐ hợp lý, đồng thời bảo đảm kỷ luật ngân sách, bảo toàn TSC và khả năng tái tạo dài hạn. Trên tinh thần kế thừa có chọn lọc, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp theo hướng mở, áp dụng linh hoạt theo nhóm tài sản làm bài học kinh nghiệm cho các ĐVDTQĐ Việt Nam.

Thứ nhất, phân tầng tài sản để áp dụng mức độ quản lý vòng đời phù hợp. Không cần lập mô hình CVĐ chi tiết cho mọi tài sản. Có thể ưu tiên nhóm có giá trị lớn, tuổi thọ dài, chi phí duy trì cao, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ hoặc có rủi ro lạc hậu, phụ thuộc nguồn cung. Mỗi nhóm nên xác định “mức sẵn sàng yêu cầu”, tiêu chí an toàn, mức độ quan trọng đối với nhiệm vụ và thẩm quyền ra quyết định. Cách phân tầng giúp tập trung nguồn lực phân tích vào nơi CVĐ có giá trị quyết định lớn nhất, tránh biến quản lý vòng đời thành thủ tục hành chính mới.

Thứ hai, xây dựng hồ sơ quản lý vòng đời và chuẩn dữ liệu tối thiểu. Đối với tài sản thuộc nhóm ưu tiên, hồ sơ nên kết nối một mã nhận diện thống nhất với nguồn hình thành, nguyên giá, vị trí, người/đơn vị quản lý, tình trạng kỹ thuật, lịch sử sử dụng, bảo dưỡng - sửa chữa, chi phí phát sinh, tuổi thọ dự kiến, tuổi thọ còn lại, điều chuyển và xử lý. Cần định kỳ đối chiếu hiện vật - hồ sơ - kế toán - kỹ thuật; dữ liệu kỹ thuật và tài chính không nhất thiết nằm trong một hệ thống mở, nhưng phải có cơ chế liên kết theo phân quyền và cấp độ bảo mật. Chuyển đổi số chỉ nên triển khai sau khi chuẩn dữ liệu, trách nhiệm cập nhật và nguồn dữ liệu có thẩm quyền đã được xác định.

Thứ ba, hình thành quy trình ra quyết định “tiếp tục sử dụng - sửa chữa - đại tu hoặc tăng hạn - điều chuyển - thay thế - xử lý” theo 2 tầng. Tầng một sàng lọc bắt buộc: phương án không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, an toàn, kỹ thuật, tương thích hoặc bảo mật phải bị loại dù chi phí thấp. Tầng hai mới so sánh các phương án khả thi bằng CVĐ, thời gian ngừng hoạt động, rủi ro phụ tùng và công nghệ, giá trị còn lại và độ nhạy của giả định. Với tài sản giá trị lớn, cần ghi rõ giả định chi phí và ngưỡng quyết định để có thể rà soát; với tài sản thông thường, có thể dùng mẫu CVĐ đơn giản hóa. Cách này tránh cả 2 hướng quyết định cực đoan: tiếp tục sửa chữa vì “đã đầu tư nhiều” hoặc thay mới chỉ vì tài sản đã cũ về niên hạn.

Thứ tư, chuyển dữ liệu tình trạng thành hồ sơ nhu cầu bảo trì - tái tạo nhiều năm và gắn với kế hoạch ngân sách. Có thể thí điểm hồ sơ dự báo thay thế 3-5 năm cho nhóm tài sản trọng yếu và kéo dài khoảng dự báo khi dữ liệu đủ tin cậy. Hồ sơ cần thể hiện tài sản dự kiến sửa chữa lớn, tăng hạn hoặc thay thế; thời điểm; chi phí ước tính; mức ưu tiên nhiệm vụ; và phần nhu cầu chưa có nguồn. Từ đó có thể theo dõi “khoảng thiếu hụt vốn tái tạo” và “nghĩa vụ tái tạo bị trì hoãn” thay vì chờ tài sản hỏng mới lập nhu cầu. Bài học từ Canada và Vương quốc Anh không hàm ý phải lập quỹ vốn mới; điều cần kế thừa là nhận diện nghĩa vụ vốn tương lai và đưa vào cân đối trước khi trở thành nhu cầu cấp bách.

Thứ năm, chuyển từ quản lý từng tài sản sang quản lý danh mục và ưu tiên rủi ro. Ở cấp đơn vị, nên hình thành bảng điều hành theo nhóm tài sản, tối thiểu gồm: tình trạng, tuổi thọ còn lại, tỷ lệ sẵn sàng, thời gian ngừng hoạt động, chi phí duy trì, mức sử dụng, rủi ro lạc hậu/nguồn cung, năm dự kiến sửa chữa lớn/thay thế và trạng thái nguồn vốn. Danh mục cho phép nhận diện “làn sóng thay thế” tập trung trong một vài năm để chủ động giãn tiến độ, tăng hạn có chọn lọc, điều chuyển hoặc chuẩn hóa danh mục. Đồng thời, tài sản nhàn rỗi, ít sử dụng hoặc chờ xử lý cần được đưa vào diện rà soát riêng để giảm chi phí bảo quản và tránh kéo dài trạng thái không tạo giá trị nhiệm vụ.

Thứ sáu, thiết lập trách nhiệm xuyên vòng đời nhưng không nhất thiết tạo thêm chức danh. Bài học từ cơ chế người quản lý chương trình và người quản lý bảo đảm sản phẩm của Hoa Kỳ nằm ở nguyên tắc có đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp. Trong điều kiện Việt Nam, có thể giao rõ cơ quan hoặc cán bộ đầu mối theo nhóm tài sản, phối hợp giữa tài chính, hậu cần - kỹ thuật và đơn vị sử dụng; quyết định lớn phải thể hiện ai đề xuất, ai xác nhận tình trạng, ai thẩm định CVĐ, ai cân đối nguồn và ai theo dõi sau quyết định. Cơ chế này giúp giảm phân mảnh trách nhiệm giữa mua sắm, khai thác và xử lý.

Thứ bảy, xây dựng vòng phản hồi “đánh giá - ngân sách - thực hiện - kiểm tra - cập nhật” và nâng cao năng lực phân tích CVĐ. Nhóm tài sản trọng yếu nên được rà soát theo chu kỳ hoặc khi xuất hiện cảnh báo như chi phí sửa chữa tăng nhanh, mức sẵn sàng giảm, thiếu phụ tùng, thay đổi nhiệm vụ hoặc công nghệ lạc hậu. Kết quả kiểm tra, kiểm toán và thực tế vận hành phải được dùng để điều chỉnh định mức, tuổi thọ giả định, chi phí bảo dưỡng và hồ sơ thay thế. Đồng thời, cần bồi dưỡng năng lực ước tính chi phí, phân tích độ nhạy và đọc dữ liệu kỹ thuật cho đội ngũ liên ngành. Có thể thí điểm trên một số nhóm tài sản đại diện trước khi chuẩn hóa rộng hơn; chỉ tiêu nên tập trung vào mức sẵn sàng, thời gian ngừng hoạt động, bảo dưỡng đúng hạn, chi phí duy trì, chất lượng dữ liệu, tài sản chờ xử lý và độ chính xác của dự báo vốn.

Tóm lại, hướng cải cách có giá trị nhất không phải là bổ sung thêm thủ tục, mà là thay đổi chất lượng và thời điểm của quyết định: dự báo trước thay vì phản ứng; nhìn tổng nghĩa vụ vòng đời thay vì giá mua; gắn trạng thái tài sản với ngân sách; và tối ưu mức sẵn sàng nhiệm vụ với tổng chi phí hợp lý. Nếu được triển khai theo lộ trình, phân tầng tài sản và bảo đảm yêu cầu bảo mật, cách tiếp cận này có thể góp phần nâng cao tính chủ động, tiết kiệm và bền vững trong quản lý TSC tại các ĐVDTQĐ Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2017). Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 ngày 21/6/2017.

2. Bộ Quốc phòng (2024). Thông tư số 72/2024/TT-BQP ngày 18/10/2024 quy định, hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao và báo cáo tài sản cố định thuộc phạm vi Bộ Quốc phòng.

3. Central Military Commission of China (2025). Điều lệnh Nội vụ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, ban hành 14/2/2025. Bộ Quốc phòng Trung Quốc.

4. Department of National Defence Canada (2018). Defence Investment Plan 2018.

5. Duarte, A.H., Barbalho, S.C.M., Vieira, D.R. & Bravo, A. (2025). A quantitative and qualitative study of life cycle costing in defense projects and programs. Management Review Quarterly, 75(3), 2207-2233.

6. Navarro-Galera, A., Ortúzar-Maturana, R.I. & Muñoz-Leiva, F. (2011). The application of life cycle costing in evaluating military investments: An empirical study at an international scale. Defence and Peace Economics, 22(5), 509-543.

7. Treasury Board of Canada Secretariat (2026). Guidance for Drafters of Treasury Board Submissions.

8. Tysseland, B.E. (2008). Life cycle cost based procurement decisions: A case study of Norwegian Defence Procurement projects. International Journal of Project Management, 26(4), 366-375.

9. U.K. Government Property Function (2022). Facilities Management Strategy.

10. U.K. Government Property Function (2026). Government Functional Standard GovS 004: Property, Version 2.2.

11. U.S. Department of Defense (2021). DoD Instruction 5000.91: Product Support Management for the Adaptive Acquisition Framework.

12. U.S. Government Accountability Office (2026). Weapon System Sustainment: DOD Identified Critical Cost Growth, and the Army Should Take Action to Yield Cost Savings. GAO-26-108140.

13. Wang, Y., Sun, D., Zhang, L. & Hou, K. (2018). Nghiên cứu hệ thống quản lý thông tin tài sản quân đội dựa trên toàn vòng đời và toàn tài sản. Network Security Technology & Application, (09), 125-126.

Ngày nhận bài: 1/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 18/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026

Các tin khác

Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách

Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách

Lao động phi chính thức là một bộ phận quan trọng của thị trường lao động Việt Nam, góp phần tạo việc làm và sinh kế cho một bộ phận lớn người lao động, nhưng thường gắn với mức độ bảo vệ thấp hơn về quan hệ lao động, bảo hiểm xã hội, ổn định thu nhập và khả năng ứng phó với rủi ro.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics tại Bắc Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số và AI giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics tại Bắc Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số và AI giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngành logistics đóng vai trò là "mạch máu" của nền kinh tế, giúp các tổ chức kết nối các khâu sản xuất, phân phối và tiêu dùng.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu của sinh viên ngành Kinh tế và kinh doanh

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu của sinh viên ngành Kinh tế và kinh doanh

Trong bối cảnh kinh tế số hiện nay, dữ liệu được xem là nguồn tài nguyên mới, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ các mục đích của con người.
​​​​​​​Các yếu tố chuyển đổi số ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số của các công ty logistics tại TP. Hồ Chí Minh

​​​​​​​Các yếu tố chuyển đổi số ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số của các công ty logistics tại TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cách doanh nghiệp logistics tổ chức và quản trị nguồn nhân lực. Nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò của văn hóa số, lãnh đạo số, đào tạo năng lực số và hạ tầng số đối với hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số, qua đó đề xuất hàm ý quản trị phù hợp cho doanh nghiệp logistics.
Các thành tố hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tại Nam Định

Các thành tố hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tại Nam Định

Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đưa các thành tựu đổi mới vào sản xuất, dịch vụ và chuỗi giá trị địa phương.
Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Đồng Nai từ góc nhìn lãnh đạo chuyển đổi

Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Đồng Nai từ góc nhìn lãnh đạo chuyển đổi

Đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành điều kiện quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với biến động thị trường và tạo giá trị gia tăng bền vững.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gắn bó của nhân viên trong các doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gắn bó của nhân viên trong các doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường lao động, duy trì sự gắn bó của nhân viên là vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp FDI với yêu cầu cao về năng suất, hiệu quả và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực.
Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Các ngân hàng thương mại ngày càng quan tâm xây dựng chiến lược tài chính bền vững, triển khai chương trình tín dụng ưu tiên cho lĩnh vực xanh và từng bước áp dụng các tiêu chuẩn ESG trong quản trị rủi ro tín dụng.
Từ người tiêu dùng đến chủ thể kiến tạo thương hiệu: Vai trò của Gen Z và KOC/Creator trong sự chuyển đổi chiến lược Branding của doanh nghiệp

Từ người tiêu dùng đến chủ thể kiến tạo thương hiệu: Vai trò của Gen Z và KOC/Creator trong sự chuyển đổi chiến lược Branding của doanh nghiệp

Trong không gian số, quyền phát ngôn, quyền nhận xét và cả quyền diễn giải ý nghĩa thương hiệu đã dịch chuyển đáng kể về phía cộng đồng người dùng. Bối cảnh trên buộc nhiều thương hiệu rời bỏ lối làm thương hiệu một chiều để chuyển sang cách thức cùng người tiêu dùng dựng nên câu chuyện.
Quản lý và huy động nguồn lực vàng trong dân: Khơi thông nguồn vốn cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Quản lý và huy động nguồn lực vàng trong dân: Khơi thông nguồn vốn cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Khi tiết kiệm được giữ lâu dài dưới dạng vàng vật chất ngoài hệ thống tài chính, tài sản vẫn thuộc sở hữu của người dân nhưng khả năng trung gian hóa thành tín dụng hoặc vốn đầu tư bị hạn chế.