Đề xuất mô hình quyết định vòng đời tài sản công gắn với lập ngân sách tái tạo
Nguyễn Phương Hoa
Học viện Kỹ thuật quân sự
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận xây dựng khái niệm, tổng hợp lý thuyết quản lý tài sản theo vòng đời, chi phí vòng đời, quản trị rủi ro và khung pháp lý Việt Nam để xây dựng mô hình quyết định vòng đời tài sản công gắn với lập ngân sách tái tạo gồm 2 tầng: Tầng tài sản - các phương án chỉ được so sánh về chi phí vòng đời còn lại sau khi vượt qua cổng điều kiện bắt buộc; Tầng danh mục - quyết định được chuyển thành hồ sơ tái tạo và nhu cầu vốn theo năm, qua đó nhận diện thiếu hụt ngân sách và tồn đọng nghĩa vụ. Dựa trên những điểm đặc thù, nghiên cứu đề xuất quy tắc ưu tiên khi ngân sách hạn chế và khung triển khai phù hợp với đơn vị dự toán quân đội.
Từ khóa: Chi phí vòng đời, ngân sách tái tạo, quản lý tài sản công, sửa chữa - tăng hạn, đơn vị dự toán quân đội
Abstract
The study adopts a conceptual development approach, synthesizing theories of life cycle asset management, life cycle costing, risk management, and Viet Nam’s legal framework to develop a life cycle decision-making model for public assets integrated with renewal budgeting. The model comprises two levels. At the asset level, alternatives are compared solely on the basis of their remaining life cycle costs after passing mandatory eligibility criteria. At the portfolio level, decisions are translated into renewal plans and annual funding requirements, thereby identifying budget shortfalls and outstanding financial obligations. Building on the specific characteristics of military budgetary units, the study proposes prioritization rules for situations of budget constraints and an implementation framework tailored to these units.
Keywords: Life cycle costing, renewal budgeting, public asset management, repair and service-life extension, military budgetary units
GIỚI THIỆU
Quản lý tài sản công (TSC) theo vòng đời đòi hỏi phải có quyết định kịp thời giữa các phương án: tiếp tục sử dụng, sửa chữa lớn, đại tu, tăng hạn, thay thế, điều chuyển hoặc xử lý. Nếu chỉ căn cứ chi phí trước mắt, cơ quan quản lý có thể kéo dài khai thác tài sản không còn đáp ứng yêu cầu hoặc sớm thay mới tài sản vẫn còn năng lực, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Trong quân đội, yêu cầu sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, độ tin cậy, an toàn, tính bảo mật cũng như khả năng bảo đảm kỹ thuật, sự sẵn có của vật tư thay thế, thời gian gián đoạn là những yếu tố được ưu tiên xem xét hơn là chi phí khi so sánh giữa các phương án.
Khung pháp lý hiện hành đã có những quy định về quản lý, sửa chữa và xử lý TSC; Nghị định số 98/2025/NĐ-CP (Chính phủ, 2025) quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên cho mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản; Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 (Quốc hội, 2025) và Nghị định số 73/2026/NĐ-CP (Chính phủ, 2026) tạo khuôn khổ kế hoạch tài chính - ngân sách nhiều năm. Đối với Bộ Quốc phòng, Thông tư số 72/2024/TT-BQP (Bộ quốc phòng, 2024) quy định chế độ quản lý, hao mòn, khấu hao và báo cáo đối với tài sản cố định chuyên dùng và tài sản phục vụ công tác quản lý, đồng thời loại trừ tài sản đặc biệt khỏi phạm vi điều chỉnh. Các quy định này đã tạo nền tảng pháp lý cho công tác quản lý TSC đơn vị dự toán (ĐVDT) quân đội. Tuy nhiên, để có quyết định về TSC, rất cần một công cụ phân tích tổng hợp kết nối các dữ liệu về trạng thái kỹ thuật, yêu cầu nhiệm vụ với nhu cầu vốn theo vòng đời nhằm đánh giá và lựa chọn được phương án phù hợp và tối ưu nhất.
Nghiên cứu tập trung giải quyết 3 vấn đề: (i) bảo đảm ràng buộc nhiệm vụ - an toàn - pháp lý - kỹ thuật - bảo mật được xét trước tối ưu chi phí; (ii) chuyển quyết định ở từng tài sản thành nhu cầu vốn danh mục mà không cộng trùng; (iii) xác lập thứ tự ưu tiên khi nguồn lực không đủ. Mục tiêu là hình thành một mô hình tinh gọn, có thể sử dụng như công cụ hỗ trợ lập kế hoạch và ra quyết định về TSC tại ĐVDT quân đội.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên 3 nền tảng: (i) Lý thuyết quản lý tài sản theo vòng đời và chi phí vòng đời, coi chi phí đầu tư ban đầu chỉ là một phần của tổng chi phí sở hữu. Các nhân tố vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, chi phí gián đoạn, rủi ro và giá trị còn lại đều ảnh hưởng đến hiệu quả dài hạn (Woodward, 1997; ISO, 2024a, 2024b); (ii) Lý thuyết quyết định bảo trì - đại tu - thay thế cho thấy thời điểm can thiệp, độ tin cậy và chất lượng bảo trì làm thay đổi chi phí vòng đời (Pascual và Ortega, 2006; Wang và cộng sự, 2023); (iii) quản trị danh mục và đầu tư công hiện đại yêu cầu gắn dữ liệu tài sản, hiệu năng, rủi ro với kế hoạch nguồn lực nhiều năm. Trong lĩnh vực quốc phòng, quản lý hỗ trợ sản phẩm theo vòng đời cũng gắn với các yếu tố như mức độ sẵn sàng, chi phí và rủi ro (Eltokhy và cộng sự, 2025; U.S. Department of Defense, 2021).
Khoảng trống ứng dụng của các cách tiếp cận trước đây chưa thể hiện rõ thứ tự “ràng buộc trước - tối ưu sau”, chưa có lớp chuyển dịch minh bạch từ quyết định kỹ thuật sang nhu cầu vốn danh mục và thiếu quy tắc ưu tiên khi ngân sách hạn chế. Bên cạnh đó, TSC trong quân đội còn phải tách tuổi kế toán khỏi thời hạn sử dụng hữu ích còn lại (Remaining Useful Life - RUL), đồng thời yêu cầu phân quyền dữ liệu giữa cơ quan sử dụng, cơ quan kỹ thuật, cơ quan tài chính phù hợp yêu cầu bảo mật.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận xây dựng lý thuyết, theo quy trình gồm: tổng hợp các nghiên cứu và tiêu chuẩn liên quan; trích xuất các biến cốt lõi gồm nhiệm vụ, an toàn, pháp lý, kỹ thuật, bảo mật, tình trạng, thời hạn sử dụng hữu ích còn lại, chi phí, rủi ro, thời điểm can thiệp và nguồn vốn; tổ chức thành mô hình 2 tầng; sau đó đối chiếu với ràng buộc pháp lý - tổ chức của ĐVDT quân đội. Các ngưỡng và trọng số không được ấn định cứng trong nghiên cứu này mà phải hiệu chỉnh theo từng nhóm tài sản bằng dữ liệu thí điểm.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý ỨNG DỤNG
Mô hình 2 tầng và quy tắc lựa chọn ở cấp tài sản
Mô hình gồm tầng tài sản và tầng danh mục với quy trình gồm 8 bước.
Tầng tài sản xác định phương án can thiệp phù hợp đối với từng tài sản.
Tầng danh mục tổng hợp thời điểm và quy mô nhu cầu tái tạo, trạng thái nguồn lực và khối lượng tồn đọng.
Hai tầng được nối bằng hồ sơ tái tạo (Renewal Profile - RP) với quy trình gồm 8 bước: (1) xác định yêu cầu nhiệm vụ, mức trọng yếu và ràng buộc; (2) lập hồ sơ hiện trạng, gồm: tình trạng kỹ thuật, lịch sử hỏng/sửa, khả năng bảo đảm kỹ thuật, chi phí và thời hạn sử dụng hữu ích còn lại do cơ quan kỹ thuật có thẩm quyền đánh giá; (3) dự báo nhu cầu ngân sách tối thiểu trong kế hoạch 5 năm; (4) xây dựng tập phương án (dùng - sửa - tăng hạn - thay); (5) áp dụng cổng điều kiện bắt buộc (nhiệm vụ - an toàn - pháp lý - kỹ thuật - bảo mật); (6) so sánh chi phí vòng đời còn lại và rủi ro của các phương án đã qua cổng điều kiện; (7) tổng hợp thành hồ sơ tái tạo và nhu cầu theo năm; (8) tích hợp kết quả vào quy trình kế hoạch, dự toán phù hợp nguồn và thẩm quyền, sau đó cập nhật cuốn chiếu. Kế hoạch ngân sách 5 năm là công cụ quản trị và dự báo, không phải cam kết chi ngân sách.
Nguyên tắc trung tâm là “ràng buộc trước, tối ưu sau”. Với tài sản i, tập khả thi Fᵢ chỉ gồm các phương án đồng thời đáp ứng điều kiện an toàn (AT), pháp lý/tiêu chuẩn (PL), nhiệm vụ (NV), kỹ thuật và khả năng bảo đảm kỹ thuật (KT), bảo mật/an ninh (BM):
Fᵢ = {j ∈ Jᵢ | ATᵢⱼ = PLᵢⱼ = NVᵢⱼ = KTᵢⱼ = BMᵢⱼ = 1} (1)
Phương án không vượt cổng phải bị loại dù có chi phí thấp. Đặc biệt, cơ quan tài chính không thay thế cơ quan kỹ thuật trong kết luận về tình trạng, khả năng sửa chữa hoặc tăng hạn. Chỉ các phương án thuộc Fᵢ mới được so sánh bằng chi phí vòng đời còn lại (Remaining Life-Cycle Cost - RLCC) trên cùng kỳ phân tích H:
RLCCij = COij + Σt=1H (C_OM + C_MR + C_DT + C_RR)ijt/(1 + r)t – RVij(1 + r)H (2)
Trong đó: C0 là chi phí can thiệp; C_OM là vận hành - bảo dưỡng; C_MR là sửa chữa lớn; C_DT là chi phí gián đoạn có thể lượng hóa; C_RR là chi phí rủi ro kỳ vọng; RV là giá trị còn lại/thu hồi, r là tỷ lệ chiết khấu; H là kỳ phân tích chung. Khi tuổi thọ phương án khác nhau, cần sử dụng chuỗi thay thế, giá trị cuối kỳ hoặc chi phí thường niên tương đương; giá và tỷ lệ chiết khấu phải nhất quán theo giá thực hoặc danh nghĩa. Các yếu tố như kết quả thực hiện nhiệm vụ, tính an toàn hoặc tính bảo mật không thể quy đổi đáng tin cậy thành tiền phải tiếp tục xử lý bằng cổng điều kiện hoặc ma trận rủi ro. Tỷ lệ chi phí sửa chữa so với thay thế chỉ nên là chỉ báo sàng lọc, không nên dùng một mức quy định chung cho mọi nhóm tài sản.
Bảng 1. Ma trận ra quyết định ở cấp tài sản
|
Tín hiệu chính |
Hướng quyết định |
Điều kiện bắt buộc |
Hàm ý ngân sách |
|---|---|---|---|
|
Tình trạng tốt, RUL đủ dài |
Tiếp tục sử dụng |
Đáp ứng nhiệm vụ, rủi ro chấp nhận được |
Bảo dưỡng định kỳ; theo dõi mốc đánh giá lại |
|
Khuyết tật có thể khắc phục |
Sửa chữa lớn |
RUL sau sửa đủ dài; kỹ thuật chấp thuận |
Đưa vào nhu cầu ngân sách năm; kiểm soát thời gian dừng |
|
Nền tảng còn tốt, có thể kéo dài khai thác |
Đại tu/tăng hạn |
Được cơ quan kỹ thuật có thẩm quyền chấp thuận |
Cập nhật RUL, mốc can thiệp và hồ sơ tái tạo |
|
Độ tin cậy giảm, lạc hậu hoặc RUL sau sửa ngắn |
Thay thế |
Phương án mới vượt cổng và có RLCC/rủi ro phù hợp hơn |
Chuẩn bị nguồn, thủ tục mua sắm và xử lý tài sản cũ |
Chuyển quyết định tài sản thành nhu cầu ngân sách
Sau khi lựa chọn phương án, mô hình chuyển sang tầng danh mục thông qua hồ sơ tái tạo - RP. Từ RP, nhu cầu tái tạo dự kiến theo năm (Projected Renewal Requirement - PRR) được tổng hợp theo nguyên tắc mỗi tài sản chỉ ghi nhận một phương án can thiệp chính trong cùng thời điểm, qua đó tránh cộng trùng:
PRRt = ΣiΣj∈R xijt Cijt, Σi∈R xijt ≤ 1 (3)
với R = {sửa chữa lớn, tăng hạn, thay thế}; xᵢⱼₜ: tài sản i thực hiện phương án j trong năm t; Cᵢⱼₜ là chi phí phương án.
Từ PRR có thể xác định nhu cầu tái tạo bình quân hàng năm - mức ngân sách bình quân cần chuẩn bị từ thời điểm lập kế hoạch đến năm thay thế dự kiến (Annual Renewal Requirement (ARR); khoảng thiếu hụt vốn (Funding Gap FGₜ = max(0, PRRₜ - Fₜ); tỷ lệ bao phủ nhu cầu tái tạo (Renewal Funding Coverage Ratio - RFCR) và khối lượng tái tạo bị trì hoãn (Deferred Renewal Backlog - DRB). Nguồn Fₜ chỉ nên bao gồm phần đã được bố trí hoặc có cơ sở phê duyệt đủ tin cậy; nhu cầu mới đề xuất không được coi là nguồn đã bảo đảm. DRB phải được theo dõi cùng nguyên nhân trì hoãn và mức rủi ro phát sinh, thay vì chỉ ghi nhận một số tiền tồn đọng.
Các chỉ báo trên không phải chuẩn mực kế toán, không thay khấu hao và không tạo ra một “quỹ tái tạo” độc lập. Chúng là lớp thông tin quản trị giúp nhận diện năm cao điểm nhu cầu vốn, mức thiếu hụt và nguy cơ dồn cục sửa chữa/thay thế để chuẩn bị nguồn lực sớm hơn.
Bảng 2: Hệ thống chỉ báo quản trị ngân sách tái tạo
|
Chỉ báo |
Bản chất |
Ý nghĩa quản trị |
Lưu ý sử dụng |
|---|---|---|---|
|
PRR |
Nhu cầu vốn theo năm |
Nhận diện năm cao điểm sửa lớn/tăng hạn/thay thế |
Tổng hợp từ phương án đã chọn; không thay khấu hao |
|
ARR |
Nhu cầu bình quân trong H năm |
Đo cường độ vốn trung hạn cần chuẩn bị |
Đây không phải khoản trích lập |
|
FG |
Thiếu hụt tuyệt đối |
Cảnh báo phần PRR chưa có nguồn đủ tin cậy |
Không phải căn cứ tự động để hoãn can thiệp bắt buộc |
|
RFCR |
Tỷ lệ bao phủ PRR |
So sánh mức độ chủ động nguồn lực giữa các năm |
Không phải ngưỡng pháp lý; không áp dụng khi PRR = 0 |
|
DRB |
Giá trị nhu cầu đã đến hạn nhưng chưa hoàn thành |
Theo dõi tích tụ nhu cầu và nguy cơ “dồn cục” |
Cần phân tách phần bắt buộc và phần có thể trì hoãn |
Khuyến nghị áp dụng tại đơn vị dự toán quân đội Việt Nam
Thứ nhất, xác định đúng phạm vi thí điểm. Nên bắt đầu với tài sản cố định chuyên dùng và tài sản phục vụ công tác quản lý không thuộc tài sản đặc biệt, có hồ sơ kỹ thuật và lịch sử chi phí đầy đủ. Đối với danh mục có yếu tố bí mật, tầng tài chính chỉ nên sử dụng mã tài sản, nhóm nhiệm vụ và số liệu tổng hợp; thông số kỹ thuật nhạy cảm phải được quản lý ở hệ thống hoặc cấp phân quyền phù hợp. Tài sản đặc biệt cần tuân theo chế độ riêng, không đưa cơ học vào mô hình dùng chung.
Thứ hai, chuẩn hóa dữ liệu trước khi chuẩn hóa công thức. Tối thiểu mỗi tài sản cần có mã định danh thống nhất, năm đưa vào sử dụng, trạng thái kỹ thuật, lịch sử hỏng, sửa, chi phí bảo dưỡng - sửa chữa, thời gian dừng, khả năng bảo đảm phụ tùng, giá thay thế tham chiếu, mức trọng yếu nhiệm vụ và thời hạn sử dụng hữu ích còn lại (RUL) do cơ quan kỹ thuật đánh giá. Không nên suy RUL trực tiếp từ tuổi kế toán hoặc thời gian tính hao mòn. Đây là điều kiện quyết định chất lượng của toàn bộ mô hình.
Thứ ba, phân vai rõ trong quy trình quyết định. Cơ quan xây dựng nhiệm vụ xác nhận yêu cầu năng lực và mức trọng yếu; cơ quan hậu cần - kỹ thuật đánh giá tình trạng, RUL, độ tin cậy, khả năng sửa chữa, tăng hạn và điều kiện bảo đảm kỹ thuật; cơ quan tài chính phân tích RLCC, khả năng nguồn và tác động ngân sách; người chỉ huy hoặc cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp. Cách phân vai này hạn chế việc tài chính “quyết định thay” kỹ thuật, đồng thời buộc quyết định kỹ thuật phải nhìn thấy hậu quả ngân sách.
Thứ tư, khi nguồn lực hạn chế, cần có sự ưu tiên theo tầng thay vì chấm một điểm tổng hợp duy nhất. Tầng 1 gồm các tài sản bắt buộc phải can thiệp do các tiêu chí về an toàn, pháp lý, tiêu chuẩn, đáp ứng nhiệm vụ hoặc rủi ro tồn dư không chấp nhận được; các hạng mục này không được trì hoãn chỉ vì RLCC cao. Tầng 2 gồm các tài sản trọng yếu có mức sẵn sàng thấp, ít khả năng thay thế hoặc điều chuyển, hậu quả gián đoạn lớn hoặc xác suất hỏng tăng nhanh. Tầng 3 gồm các tài sản mà việc can thiệp chủ yếu mang lại hiệu quả kinh tế nhưng vẫn có thể trì hoãn mà không vi phạm cổng điều kiện. Trong từng tầng mới sử dụng RLCC, thời gian dừng, khả năng dự phòng và chênh lệch chi phí để tinh chỉnh thứ tự.
Thứ năm, nên tách 3 lớp nhu cầu trong kế hoạch: duy trì thường xuyên cho bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ; tái tạo gồm sửa chữa lớn, tăng hạn và thay thế để duy trì năng lực hiện hữu; hiện đại hóa làm thay đổi công nghệ hoặc năng lực. Việc tách lớp giúp tránh trộn nhu cầu bảo đảm thường xuyên với đầu tư nâng cấp, đồng thời làm rõ nguồn chi, nhiệm vụ chi và thẩm quyền. Hồ sơ tái tạo 5 năm nên được cập nhật hằng năm và sử dụng như đầu vào cho lập kế hoạch/dự toán, không phải cam kết chi ngoài khuôn khổ Luật Ngân sách nhà nước và các quy định hiện hành.
Thứ sáu, triển khai theo nguyên tắc “thí điểm hẹp - kiểm định hồi cứu - chạy song song - mở rộng có điều kiện”. Giai đoạn đầu chọn một vài nhóm tài sản có dữ liệu tốt; dùng dữ liệu các năm trước để kiểm tra xem mô hình có nhận diện hợp lý thời điểm can thiệp và có nhạy quá mức với giả định chi phí, RUL hay không. Giai đoạn chạy song song, kết quả mô hình chỉ là khuyến nghị bên cạnh quy trình hiện hành. Chỉ mở rộng sau khi các tham số được hiệu chỉnh và trách nhiệm cập nhật dữ liệu, phê duyệt phương án được quy định rõ.
Hiệu quả thí điểm không nên chỉ đo bằng mức giảm chi phí. Các tiêu chí cần theo dõi gồm: sai số dự báo thời điểm và chi phí can thiệp; tỷ lệ nhu cầu đột xuất ngoài kế hoạch; biến động khoảng thiếu hụt và khối lượng tồn đọng; mức phù hợp giữa quyết định kỹ thuật với phân bổ nguồn; thời gian xử lý hồ sơ; số trường hợp phải điều chỉnh do dữ liệu không tin cậy và mức duy trì sẵn sàng đối với nhóm tài sản trọng yếu. Nếu mô hình giúp giảm nhu cầu đột xuất, nhận diện sớm năm cao điểm và làm rõ trách nhiệm ra quyết định mà không làm suy giảm yêu cầu nhiệm vụ, có thể xem xét mở rộng.
Mô hình không thay thế tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định về tăng hạn, chế độ kế toán, quy trình ngân sách hoặc quyết định của cấp có thẩm quyền. Theo hướng nghiên cứu này, tiếp theo cần sử dụng dữ liệu lịch sử để phân tích độ nhạy, đánh giá sai số RUL và so sánh chất lượng kế hoạch vốn trước - sau áp dụng.
KẾT LUẬN
Mô hình đề xuất tạo cầu nối giữa quyết định kỹ thuật ở cấp tài sản và chuẩn bị nguồn lực ở cấp danh mục. Giá trị cốt lõi của mô hình không nằm ở việc tìm một công thức thay thế quyết định của người chỉ huy, mà ở việc chuẩn hóa trình tự: trước hết kiểm tra nhiệm vụ, an toàn, pháp lý, kỹ thuật và bảo mật; sau đó mới so sánh chi phí vòng đời trong tập phương án khả thi; cuối cùng chuyển kết quả thành hồ sơ tái tạo, nhu cầu vốn và thông tin thiếu hụt, tồn đọng để phục vụ lập kế hoạch.
Đối với ĐVDT quân đội, để đảm bảo tính khả khi khi ứng dụng mô hình trong ra quyết định quản lý TSC cần chất lượng dữ liệu thật chính xác, được cập nhật tức thời và cơ chế phối hợp chuẩn xác giữa các chủ thể quản lý trong toàn bộ quy trình quản lý. Vì vậy, ưu tiên trước mắt là chuẩn hóa RUL và dữ liệu chi phí, phân vai cơ quan sử dụng - kỹ thuật - tài chính - chỉ huy, tách nhu cầu duy trì, tái tạo, hiện đại hóa, thiết lập hồ sơ tái tạo cuốn chiếu và áp dụng quy tắc ưu tiên theo tầng khi nguồn lực hạn chế. Thí điểm hẹp trên nhóm tài sản phù hợp, kiểm định hồi cứu và chạy song song với quy trình hiện hành là con đường khả thi để chuyển mô hình từ đề xuất nghiên cứu thành công cụ quản trị có giá trị thực tiễn.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Quốc phòng (2024). Thông tư số 72/2024/TT-BQP ngày 18/10/2024 quy định, hướng dẫn thực hiện chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao và báo cáo tài sản cố định trong Bộ Quốc phòng.
2. Chính phủ (2025). Nghị định số 98/2025/NĐ-CP ngày 6/5/2025 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước để mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị và các nhiệm vụ liên quan.
3. Chính phủ (2026). Nghị định số 73/2026/NĐ-CP ngày 10/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước.
4. Eltokhy, K., Feruglio, N., Miao, K., Navarro, A. và Tandberg, E. (2025). How to Improve Public Investment Management in Low-Income Countries. IMF How-To Note 2025/001. International Monetary Fund.
5. International Organization for Standardization - ISO (2024a). Asset management - Vocabulary, overview and principles (ISO Standard No. ISO 55000:2024).
6. International Organization for Standardization - ISO (2024b). Asset management - Asset management system - Requirements (ISO Standard No 55001:2024).
7. Pascual, R. và Ortega, J.H. (2006). Optimal replacement and overhaul decisions with imperfect maintenance and warranty contracts. Reliability Engineering & System Safety, 91(2), 241-248.
8. Quốc hội (2025). Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
9. U.S. Department of Defense (2021). DoD Instruction 5000.91: Product Support Management for the Adaptive Acquisition Framework. Washington, DC.
10. Wang, K.-J., Basuki, S.S.A. và Kurniati, N. (2023). A life-cycle asset management model by response surface method based optimization. International Journal of Production Economics, 263, 108957.
11. Woodward, D.G. (1997). Life cycle costing - Theory, information acquisition and application. International Journal of Project Management, 15(6), 335-344.
| Ngày nhận bài: 11/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 12/10/2026 |
Các tin khác
Phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng cá nhân trong hệ thống bán lẻ hiện đại: Tổng quan, khoảng trống và hướng phát triển
Tác động của dịch vụ giao thức ăn cho đơn hàng trực tuyến đến doanh số của các cơ sở kinh doanh ăn uống tại TP. Hồ Chí Minh
Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và sự hài lòng của người bệnh: Tiếp cận từ mô hình HEALTHQUAL tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh và Y học Lâm sàng - Bộ Quốc phòng
Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng lại ứng dụng di động trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp Gen Z tại Hà Nội
Tác động của lãnh đạo chuyển đổi đến hiệu quả công việc của nhân viên ngành du lịch
Ảnh hưởng của niềm tin thương hiệu và rủi ro cảm nhận đến hành vi mua sắm trực tuyến trên sàn thương mại điện tử của sinh viên
Chuyển đổi số, đổi mới xanh và logistics bền vững: Tổng quan hệ thống và đề xuất nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long
Giải pháp phát triển nông nghiệp gắn với du lịch trải nghiệm tại xã Châu Pha (TP. Hồ Chí Minh)