Các thành tố hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tại Nam Định

Nghiên cứu - Trao đổi 09:13 | 23/09/2026
Doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đưa các thành tựu đổi mới vào sản xuất, dịch vụ và chuỗi giá trị địa phương.

ThS. Trần Đình Tuấn

NCS ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2021-2025 (nay là địa bàn thuộc tỉnh Ninh Bình), sử dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp khảo sát 200 người, tham vấn 20 chuyên gia qua 2 vòng Delphi và dữ liệu thứ cấp. Kết quả cho thấy, hệ sinh thái khởi nghiệp nhìn chung ở mức trung bình, trong đó tài chính là điểm nghẽn nổi bật (2,62/5); khả năng tiếp cận vốn đạt 2,88/5 và 56% người được khảo sát xác định thiếu vốn là rào cản. Chính sách được đánh giá tương đối rõ, trong khi kết nối giữa doanh nghiệp, chuyên gia và cố vấn cũng như ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Kết quả cho thấy, hiệu quả của hệ sinh thái phụ thuộc vào khả năng doanh nghiệp tiếp cận và phối hợp các nguồn lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Từ đó, nghiên cứu đề xuất tập trung vào hỗ trợ tài chính theo giai đoạn, tạo điều kiện tiếp cận khách hàng đầu tiên, phát triển dịch vụ trung gian và tăng cường liên kết viện, trường với doanh nghiệp.

Từ khóa: Hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận nguồn lực, Nam Định

Mã phân loại JEL: L26; O31; O38; R11

Abstract

The study analyzes the relationship between the startup ecosystem and innovation activities of small and medium sized enterprises in Nam Dinh Province, now part of Ninh Binh Province, during the 2021-2025 period. A mixed methods approach was employed, combining a survey of 200 respondents, consultations with 20 experts through two Delphi rounds, and secondary data analysis. The findings indicate that the startup ecosystem was generally at a moderate level, with finance emerging as a major bottleneck, scoring 2.62 out of 5. Access to capital scored 2.88 out of 5, while 56% of respondents identified insufficient capital as a major barrier. Policies were perceived as relatively clear, whereas linkages among enterprises, experts, and mentors, as well as the application of technology and innovation, remained limited. The findings suggest that the effectiveness of the ecosystem depends on enterprises’ ability to access and coordinate appropriate resources at different stages of development. Accordingly, the study proposes a focus on stage based financial support, facilitating access to first customers, developing intermediary support services, and strengthening linkages between research institutes, universities, and enterprises.

Keywords: Startup ecosystem, innovation, small and medium sized enterprises, resource access, Nam Dinh

GIỚI THIỆU

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo (ĐMST) và đưa các thành tựu đổi mới vào sản xuất, dịch vụ và chuỗi giá trị địa phương. Trong bối cảnh chuyển đổi số, xanh hóa và cạnh tranh dựa trên tri thức, năng lực cạnh tranh của DNNVV ngày càng phụ thuộc vào khả năng phát triển và đưa sản phẩm mới ra thị trường, cải tiến quy trình và đổi mới mô hình kinh doanh. Theo OECD/Eurostat (2018), đổi mới phải được thể hiện bằng sản phẩm mới hoặc được cải tiến đáng kể đã được đưa ra thị trường, hoặc quy trình kinh doanh mới hay được cải tiến đáng kể đã được đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, DNNVV thường thiếu vốn dài hạn, thông tin công nghệ, dịch vụ sở hữu trí tuệ, nhân lực nghiên cứu và khả năng tiếp cận khách hàng lớn. Cách tiếp cận hệ sinh thái khởi nghiệp nhấn mạnh sự tương tác giữa doanh nghiệp, chính quyền, trường đại học, nhà đầu tư, tổ chức hỗ trợ và thị trường (Isenberg, 2010; Spigel, 2017; Stam và van de Ven, 2021).

Tại Việt Nam, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo được thúc đẩy thông qua Quyết định số 844/QĐ-TTg và Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 . Tuy nhiên, bằng chứng về mối liên hệ giữa các thành tố của hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động ĐMST của DNNVV tại các địa phương ngoài những trung tâm công nghệ lớn vẫn còn hạn chế. Tỉnh Nam Định (cũ) là trường hợp phù hợp để nghiên cứu vấn đề này - địa phương có nền sản xuất đa dạng, sự hiện diện của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, trường đại học, cao đẳng, làng nghề cùng các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp. Tuy nhiên, tỉnh vẫn đối mặt với những hạn chế như: thiếu vốn rủi ro, dịch vụ trung gian chuyên nghiệp và cơ chế kết nối nguồn lực. Câu hỏi đặt ra là vì sao sự hiện diện của chính sách, hạ tầng và tri thức chưa tự động chuyển thành đổi mới ở cấp doanh nghiệp.

Nghiên cứu tập trung vào 4 nhóm thành tố: chính sách hỗ trợ, tài chính, hạ tầng - dịch vụ hỗ trợ và mạng lưới - liên kết viện trường. Các thành tố này được đối chiếu với mức độ ứng dụng công nghệ và ĐMST để nhận diện điểm nghẽn và cơ chế chuyển hóa nguồn lực. Trọng tâm phân tích là khả năng doanh nghiệp nhận biết, tiếp cận, phối hợp và sử dụng nguồn lực phù hợp với từng giai đoạn. Do dữ liệu hiện có không bao gồm dữ liệu vi mô cần thiết để ước lượng mô hình SEM, các kết quả được diễn giải như những bằng chứng chẩn đoán dựa trên sự hội tụ của nhiều nguồn dữ liệu, nhằm nhận diện các mối liên hệ và điểm nghẽn của hệ sinh thái, thay vì ước lượng và kiểm định các tác động nhân quả.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

Hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hệ sinh thái khởi nghiệp nhấn mạnh chất lượng của cấu trúc nguồn lực và quan hệ trong một lãnh thổ thay vì hỗ trợ từng doanh nghiệp riêng lẻ. Isenberg (2010, 2011) xác định các miền chính sách, tài chính, văn hóa, hỗ trợ, nhân lực và thị trường; Stam (2015) phân biệt điều kiện khung, điều kiện hệ thống, hoạt động khởi nghiệp và kết quả tạo giá trị; Spigel (2017) nhấn mạnh tính liên kết giữa các thuộc tính vật chất, xã hội và văn hóa. OECD (2025a, 2025b) tiếp cận hệ sinh thái theo đầu vào, đầu ra và mức cân bằng, qua đó lưu ý các cấu phần yếu có thể bị che khuất bởi điểm tổng hợp.

Đối với DNNVV, đổi mới được xem là kết quả ở cấp doanh nghiệp, trong khi hệ sinh thái tạo ra các điều kiện hỗ trợ ở cấp địa phương. Do đó, sự hiện diện của chính sách, trung tâm hỗ trợ hay các hoạt động khởi nghiệp không nhất thiết dẫn đến đổi mới ở cấp doanh nghiệp. Cơ chế trung gian cần được xem xét là khả năng doanh nghiệp nhận biết, tiếp cận, phối hợp và sử dụng các nguồn lực. Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận của Oslo Manual (2018) về đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình kinh doanh. Chỉ báo trực tiếp được sử dụng là mức độ ứng dụng công nghệ và ĐMST, được đối chiếu với khả năng tiếp cận vốn, đào tạo, kết nối, cơ sở hỗ trợ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Các thành tố và cơ chế phân tích

Chính sách hỗ trợ và đổi mới

Chính sách hỗ trợ có thể giảm chi phí thông tin, tuân thủ và rủi ro thử nghiệm thông qua tư vấn, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và hỗ trợ công nghệ. Hiệu quả phụ thuộc vào khả năng tiếp cận, điều kiện tham gia, thời gian xử lý và mức độ phù hợp với giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Do đó, nghiên cứu đối chiếu mức nhận biết và thực thi chính sách với mức độ ứng dụng công nghệ và đổi mới thay vì chỉ kiểm đếm văn bản hay sự kiện.

Tài chính và đổi mới

Đổi mới đòi hỏi chi phí trước khi tạo doanh thu, trong khi DNNVV thường thiếu tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng và năng lực trình bày dự án. Các nguồn vốn khác nhau thực hiện chức năng khác nhau theo từng giai đoạn. Thiếu vốn phù hợp có thể làm giảm số vòng thử nghiệm và trì hoãn thương mại hóa; hiệu quả của hệ sinh thái tài chính còn phụ thuộc vào chất lượng lựa chọn và hỗ trợ sau đầu tư (Samila và Sorenson, 2011).

Hạ tầng, ươm tạo và dịch vụ hỗ trợ

Hạ tầng hệ sinh thái gồm không gian làm việc, phòng thí nghiệm, thiết bị dùng chung, hạ tầng số, cơ sở ươm tạo và các dịch vụ chuyên môn. Các tổ chức trung gian có thể giảm chi phí thử nghiệm và bổ sung năng lực mà DNNVV khó tự xây dựng. Nghiên cứu về vườn ươm cho thấy, hiệu quả phụ thuộc vào mức phù hợp giữa dịch vụ và nhu cầu doanh nghiệp, không chỉ vào diện tích hay số lượt tham gia (Bruneel và cộng sự, 2012; Amezcua và cộng sự, 2013).

Mạng lưới và hợp tác viện - trường

Mạng lưới cung cấp tri thức, cố vấn, đối tác và khách hàng; trường đại học hỗ trợ qua đào tạo, nghiên cứu, nhân lực và thiết bị, còn doanh nghiệp lớn cung cấp bài toán và thị trường thử nghiệm. Theo Lý thuyết lan tỏa tri thức khởi nghiệp, tri thức chỉ tạo giá trị khi có cơ chế chuyển thành cơ hội kinh doanh (Acs và cộng sự, 2009). Vì vậy, nghiên cứu chú trọng vào các hình thưc liên kết thực chất, dự án hợp tác, nguyên mẫu và chuyển giao.

Các nội dung phân tích tương ứng được tổng hợp tại Bảng 1.

Bảng 1: Cấu trúc khái niệm của khung phân tích

Thành tố

Nguồn lực/chức năng

Cơ chế chuyển hóa

Dấu hiệu quan sát

Chính sách hỗ trợ

Thông tin, tư vấn, hỗ trợ pháp lý và công nghệ

Giảm chi phí tìm kiếm, tuân thủ và rủi ro thử nghiệm

Mức nhận biết, tiếp cận và giá trị nhận được

Tài chính phù hợp

Tài trợ thử nghiệm, tín dụng, vốn thiên thần/mạo hiểm

Duy trì thử nghiệm, kiểm chứng thị trường và thương mại hóa

Khả năng tiếp cận vốn và rào cản tài chính

Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ

Không gian, thiết bị, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, thiết kế

Giảm chi phí dùng chung; bổ sung năng lực chuyên môn

Mức sử dụng và chất lượng dịch vụ

Mạng lưới và viện-trường

Tri thức, cố vấn, đối tác và khách hàng

Tạo dự án hợp tác, nguyên mẫu và xác nhận thị trường

Kết nối thực chất và kết quả chuyển giao

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Quan hệ giữa các nội dung phân tích được minh họa tại Hình 1.

Hình 1: Khung phân tích nghiên cứu

Các thành tố hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tại Nam Định

Ghi chú: Khả năng tiếp cận - phối hợp nguồn lực là cơ chế giải thích; các mũi tên thể hiện quan hệ phân tích, không phải hệ số nhân quả đã kiểm định

Nguồn: Tác giả đề xuất

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế hỗn hợp hội tụ, trong đó các nguồn dữ liệu được phân tích độc lập và đối chiếu theo từng thành tố hệ sinh thái. Bộ đánh giá N = 450 phản ánh chất lượng các điều kiện khởi nghiệp; khảo sát N = 200 phản ánh hoạt động, khả năng tiếp cận và rào cản; Delphi hỗ trợ giá trị nội dung của bộ tiêu chí; tài liệu chính sách và bằng chứng trường hợp giúp giải thích cơ chế. Phạm vi nghiên cứu tại tỉnh Nam Định trong giai đoạn 2021-2025, trước khi hợp nhất với Ninh Bình và Hà Nam. Kết luận được xem là có độ vững chẩn đoán khi các nguồn bằng chứng cho kết quả cùng hướng.

Nguồn dữ liệu và mẫu

Các nội dung phân tích tương ứng được tổng hợp tại Bảng 2.

Bảng 2: Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu

Nguồn

Quy mô/phạm vi

Nội dung

Cách phân tích

Khảo sát thực trạng

N=200; 9 địa bàn; 121 DN/hộ kinh doanh

Hoạt động, tiếp cận, rào cản, hỗ trợ

Tần suất, tỷ lệ, điểm trung bình

Bộ đánh giá điều kiện

N=450; 9 chủ đề; Likert 1-5

Chất lượng điều kiện và khoảng cách

Trung bình, độ lệch chuẩn, xếp hạng

Tham vấn chuyên gia bằng phương pháp Delphi

Vòng 1: 15 phiếu; vòng 2: 20 phiếu

9 chủ đề, 56 tiêu chuẩn, 155 chỉ báo

Giá trị nội dung; Kendall’s W

Tài liệu thứ cấp

2021-2025; chính sách và chỉ số tỉnh

Công cụ, thực thi, bối cảnh và trường hợp

Phân tích nội dung, đối chiếu tam giác

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Khảo sát N = 200 gồm 121 đại diện doanh nghiệp/hộ kinh doanh (60,5%), 40 cán bộ (20,0%) và 39 thành viên cộng đồng (19,5%) tại 9 địa bàn. Bộ N = 450 đánh giá 9 điều kiện khởi nghiệp trên thang Likert 1-5. Khung tiêu chí được điều chỉnh qua Delphi 2 vòng, gồm 9 chủ đề, 56 tiêu chuẩn và 155 chỉ báo; số phiếu hợp lệ là 15 ở vòng 1 và 20 ở vòng 2. Mức đồng thuận vòng 2 đạt Kendall’s W = 0,520, p < 0,001. Dữ liệu được sử dụng ở dạng tổng hợp; hồ sơ không kèm ma trận câu trả lời vi mô theo từng doanh nghiệp.

Biến số và phương pháp phân tích

Điều kiện hệ sinh thái được phân tích bằng điểm trung bình của 9 chủ đề và khoảng cách đến mức tối đa 5. Hoạt động đổi mới được phản ánh trực tiếp qua chỉ báo “ứng dụng công nghệ và ĐMST”, đồng thời đối chiếu với vốn, đào tạo, cơ sở hỗ trợ, kết nối và hiệu quả mô hình. Bốn thành tố được so sánh theo 3 câu hỏi: điều kiện mạnh hay yếu, doanh nghiệp có tiếp cận được hay không, và bằng chứng quan sát có phù hợp với cơ chế lý thuyết hay không. Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả và đối chiếu tam giác; không ước lượng SEM do không có dữ liệu vi mô.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chất lượng các điều kiện hệ sinh thái

Các nội dung phân tích tương ứng được tổng hợp tại Bảng 3.

Bảng 3: Điểm 9 chủ đề điều kiện khởi nghiệp (N = 450)

Hạng

Chủ đề

Điểm TB

Độ lệch chuẩn

Khoảng cách đến 5

1

Chuyển giao R&D

3,19

0,61

1,81

2

Độ mở thị trường

3,17

0,59

1,83

3=

Hạ tầng thương mại - dịch vụ

3,15

0,57

1,85

3=

Cơ sở hạ tầng vật chất

3,15

0,57

1,85

5=

Giáo dục và đào tạo

3,14

0,59

1,86

5=

Chuẩn mực văn hóa - xã hội

3,14

0,56

1,86

7

Chính sách chính quyền

3,12

0,63

1,88

8

Chương trình hỗ trợ

3,10

0,60

1,90

9

Tài chính

2,62

0,63

2,38

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Quan hệ giữa các nội dung phân tích được minh họa tại Hình 2.

Hình 2: Điểm đánh giá 9 chủ đề điều kiện khởi nghiệp (N = 450)

Các thành tố hệ sinh thái khởi nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nghiên cứu tại Nam Định

Nguồn: Tác giả xử lý từ kết quả khảo sát của nghiên cứu

Điểm số dao động từ 2,62 đến 3,19. Tám chủ đề ngoài tài chính tập trung trong khoảng hẹp 3,10-3,19, phản ánh trạng thái trung bình và tương đối cân bằng. Tài chính thấp hơn chủ đề đứng ngay trên 0,48 điểm và có khoảng cách 2,38 điểm so với mức tối đa, do đó là điểm lệch nổi bật. Mức chuyển giao nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 3,19 đứng đầu nhưng vẫn chưa phải mức cao; khi đặt cạnh ứng dụng công nghệ 3,02, kết quả cho thấy, tri thức hiện diện chưa được chuyển hóa đầy đủ thành đổi mới tại doanh nghiệp.

Độ mở thị trường, hạ tầng thương mại - dịch vụ và hạ tầng vật chất đạt 3,15-3,17. Đây là nền tảng thuận lợi, nhưng chất lượng hệ sinh thái không thể suy ra từ hạ tầng hiện diện. Khả năng doanh nghiệp sử dụng được không gian, phòng thử nghiệm, dịch vụ tiêu chuẩn hoặc kênh phân phối mới là biến quyết định. Chính sách và chương trình đạt 3,12 và 3,10, thấp hơn mức nhận biết triển khai 3,39 trong N = 200. Khoảng cách này gợi ý rằng, chính sách nhìn thấy được nhiều hơn giá trị mà người dùng cảm nhận trong toàn bộ hành trình.

Biểu hiện đổi mới và các rào cản tiếp cận

Các nội dung phân tích tương ứng được tổng hợp tại Bảng 4.

Bảng 4: Điểm đánh giá thực trạng hoạt động và điều kiện tiếp cận (N = 200)

STT

Nội dung

Điểm TB

Nhận định

1

Phong trào khởi nghiệp diễn ra sôi động

3,02

Trung bình

2

Khát vọng khởi nghiệp

3,10

Trung bình

3

Chính sách hỗ trợ được triển khai tích cực

3,39

Cao nhất

4

Khả năng tiếp cận vốn

2,88

Thấp nhất

5

Đào tạo/tập huấn thường xuyên

3,10

Trung bình

6

Cơ sở vật chất/không gian hỗ trợ

3,19

Trung bình khá

7

Kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, cố vấn

2,98

Dưới trung bình

8

Ứng dụng công nghệ và ĐMST

3,02

Trung bình

9

Hiệu quả các mô hình hiện có

3,11

Trung bình

Điểm trung bình chung

3,09

Trung bình

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Ứng dụng công nghệ và ĐMST đạt 3,02/5, tương đương mức sôi động của phong trào và thấp hơn mức nhận biết triển khai chính sách 0,37 điểm. Đây là dấu hiệu của khoảng cách chuyển hóa: đầu vào chính sách và cơ sở vật chất đã được nhìn nhận, nhưng đổi mới thực tế chưa tăng tương ứng. Kết nối doanh nghiệp - chuyên gia - cố vấn 2,98 và tiếp cận vốn 2,88 là 2 mắt xích yếu nhất, phù hợp với cơ chế phân tích rằng nguồn lực chỉ tạo giá trị khi doanh nghiệp tiếp cận và phối hợp được.

Trong câu hỏi về rào cản, 56% người trả lời chọn thiếu vốn/nguồn tài chính, tiếp theo là thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý (24%), thiếu thông tin thị trường/công nghệ (16%), mặt bằng/hạ tầng (14%) và chính sách chưa đồng bộ hoặc khó tiếp cận (12%). Thiếu cố vấn và liên kết thị trường có tỷ lệ lựa chọn thấp hơn, nhưng không nên diễn giải là ít quan trọng: người trả lời có thể gộp chúng vào thiếu kinh nghiệm hoặc thông tin. Tỷ lệ lựa chọn nhiều phương án phản ánh mức độ được nhắc đến chứ không phải tác động biên độc lập.

Đối chiếu thành tố và cơ chế chuyển hóa

Các nội dung phân tích tương ứng được tổng hợp tại Bảng 5.

Bảng 5: Ma trận bằng chứng theo các thành tố phân tích

Thành tố

Bằng chứng chính

Diễn giải cơ chế

Đánh giá chẩn đoán

Chính sách

Chính sách 3,12; chương trình 3,10; triển khai 3,39

Tăng nhận biết và chính danh; hiệu quả phụ thuộc thủ tục và chuyển tuyến

Nền tảng trung bình; còn khoảng cách thực thi

Tài chính

Tài chính 2,62; tiếp cận 2,88; 56% thiếu vốn

Thiếu vốn đúng giai đoạn làm giảm số vòng thử nghiệm và khả năng thương mại hóa

Điểm nghẽn mạnh nhất

Hạ tầng - hỗ trợ

Hạ tầng 3,15; cơ sở hỗ trợ 3,19

Giảm chi phí chung nhưng thiếu thiết bị, tư vấn và hỗ trợ sau chương trình

Điều kiện cần; chuyển hóa chưa đầy đủ

Mạng lưới - viện trường

R&D 3,19; kết nối 2,98; đổi mới 3,02

Tri thức có tiềm năng nhưng thiếu cầu nối, dự án hợp tác và khách hàng thử nghiệm

Tiềm năng tích cực; nghẽn kết nối

Nguồn: Tác giả đối chiếu dữ liệu N = 200, N = 450 và bằng chứng định tính; không phải kết quả SEM

Đối với chính sách, đóng góp dễ nhận thấy nhất nằm ở tính chính danh, nhận biết và mở rộng cơ hội tham gia. Tuy nhiên, mức ứng dụng đổi mới chỉ đạt 3,02 và 12% vẫn nêu chính sách khó tiếp cận. Điều này cho thấy, ảnh hưởng của chính sách có thể bị suy giảm bởi thủ tục, thông tin phân tán và thiếu hỗ trợ nối tiếp. Hàm ý không phải ban hành thêm nhiều văn bản, mà là thiết kế quy trình một cửa và đo kết quả ở cấp doanh nghiệp.

Tài chính có bằng chứng hội tụ mạnh nhất theo chiều điểm nghẽn. Đây là chủ đề duy nhất dưới 3 trong N = 450; tiếp cận vốn thấp nhất trong N = 200; thiếu vốn là rào cản được đề cập nhiều nhất. Cơ chế hợp lý là DNNVV thiếu nguồn lực để làm nguyên mẫu, đạt tiêu chuẩn, thử kênh phân phối hoặc chịu thời gian hoàn vốn. Tuy vậy, nghiên cứu không thể lượng hóa nếu tăng một đơn vị tiếp cận vốn sẽ làm đổi mới tăng bao nhiêu; vốn cũng có thể kém hiệu quả nếu doanh nghiệp thiếu thị trường hoặc năng lực quản trị.

Đối với hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, cơ sở vật chất được đánh giá cao hơn đổi mới, chứng tỏ điều kiện cần đã hình thành nhưng chức năng chuyên sâu chưa đủ. Không gian làm việc chung hay sự kiện không thay thế phòng thử nghiệm, dịch vụ thiết kế, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ và cố vấn thương mại hóa. Giá trị của hạ tầng phụ thuộc tỷ lệ sử dụng, chất lượng dịch vụ và khả năng chuyển doanh nghiệp sang nguồn lực tiếp theo.

Mạng lưới và liên kết viện - trường biểu hiện nghịch lý tri thức - kết nối: chuyển giao R&D đạt điểm cao nhất trong bộ điều kiện, nhưng kết nối chỉ đạt 2,98 và đổi mới 3,02. Điều này phù hợp với lập luận rằng, trường đại học và viện nghiên cứu chỉ trở thành nguồn lực hệ sinh thái khi có bài toán doanh nghiệp, cơ chế sở hữu trí tuệ, ngân sách thử nghiệm, người trung gian và khách hàng. Kết quả cho thấy vai trò tích cực tiềm năng của liên kết, đồng thời chỉ ra mật độ quan hệ thực chất quan trọng hơn số thỏa thuận.

THẢO LUẬN

Đóng góp lý luận

Kết quả củng cố 3 luận điểm.

Thứ nhất, hệ sinh thái cần được đánh giá bằng chất lượng tiếp cận chứ không chỉ sự hiện diện: các cấu phần ở Nam Định chủ yếu quanh 3,10-3,19, nhưng đổi mới chỉ đạt 3,02 do điểm nghẽn về vốn và kết nối.

Thứ hai, các thành tố có tính bổ trợ: vốn cần đi cùng khách hàng và cố vấn; tri thức cần cơ chế thương mại hóa; chính sách cần tổ chức trung gian.

Thứ ba, một cấu phần yếu có thể giới hạn toàn hệ thống; điểm tài chính 2,62 nổi bật so với các cấu phần còn lại, phù hợp với quan điểm về điểm nghẽn và mức cân bằng của hệ sinh thái (Stam, 2015; Leendertse và cộng sự, 2022; OECD, 2025a).

Đổi mới của DNNVV tại địa phương không đồng nhất với khởi nghiệp công nghệ. Doanh nghiệp có thể đổi mới thông qua truy xuất nguồn gốc, vật liệu xanh, cải tiến quy trình, thiết kế sản phẩm, thương mại điện tử hoặc mô hình dịch vụ.

So sánh với nghiên cứu trước

Kết quả phù hợp với Isenberg (2011) và Spigel (2017) về vai trò đồng thời của chính sách, vốn, hỗ trợ và mạng lưới, đồng thời cụ thể hóa lập luận của Stam (2015) về cơ chế vận hành của hệ sinh thái. Dữ liệu tại Nam Định cho thấy “khả năng tiếp cận - phối hợp nguồn lực” là cơ chế trung tâm. Kết quả cũng tương đồng với nghiên cứu về vườn ươm, theo đó hiệu quả phụ thuộc vào gói dịch vụ phù hợp nhu cầu (Bruneel và cộng sự, 2012) và với Lý thuyết lan tỏa tri thức khi R&D cao nhưng mức đổi mới chỉ trung bình (Acs và cộng sự, 2009).

Trong bối cảnh cấp tỉnh, kết nối ngoại vùng có ý nghĩa đặc biệt. DNNVV không nhất thiết phải tiếp cận mọi nguồn lực trong tỉnh, nhưng cần cơ chế tiếp cận chuyên gia, công nghệ, vốn và khách hàng bên ngoài, đồng thời chuyển các nguồn lực đó thành việc làm, doanh thu và năng lực tại địa phương. Vì vậy, chất lượng hệ sinh thái không đồng nhất với mức tự cung tự cấp.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ sinh thái khởi nghiệp tại tỉnh Nam Định (cũ) đã hình thành nền tảng chính sách, đào tạo, cơ sở hỗ trợ và độ mở thị trường, nhưng mức chuyển hóa sang đổi mới của DNNVV còn hạn chế. Tài chính là điểm nghẽn nổi bật; kết nối doanh nghiệp - chuyên gia - cố vấn và khả năng biến R&D thành ứng dụng là 2 mắt xích yếu. Bằng chứng từ 3 nguồn dữ liệu phù hợp với cơ chế tiếp cận - phối hợp nguồn lực, nhưng không được diễn giải thành hệ số tác động hay quan hệ nhân quả đã kiểm định. Kết luận quan trọng nhất là giá trị hệ sinh thái không xuất phát từ số lượng thành tố, mà từ khả năng doanh nghiệp tiếp cận và phối hợp chúng đúng thời điểm.

Hàm ý chính sách và quản trị

Trên cơ sở các kết quả phân tích và những điểm nghẽn được nhận diện, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hệ sinh thái khởi nghiệp và hỗ trợ DNNVV tăng cường năng lực ĐMST, đặc biệt là trong bối cảnh địa phương đã hợp nhất với Ninh Bình và Hà Nam để trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh có địa bàn phát triển rộng hơn:

Đối với chính quyền địa phương, ưu tiên là chuyển từ hỗ trợ theo sự kiện sang quản trị hành trình doanh nghiệp; phát triển tài chính theo giai đoạn; tạo cơ chế khách hàng đầu tiên; mở rộng vai trò của trường đại học qua thiết bị, nhân lực, dự án hợp tác và quy tắc sở hữu trí tuệ rõ ràng. Trọng tâm đánh giá cần chuyển từ số hoạt động hỗ trợ sang kết quả thực tế ở cấp doanh nghiệp.

Đối với DNNVV, đổi mới cần được quản trị như danh mục thử nghiệm có mục tiêu, mốc tiến triển và dữ liệu. Doanh nghiệp cần xác định nguồn lực còn thiếu, tham gia mạng lưới theo nhu cầu và chuẩn hóa hồ sơ tài chính - công nghệ - thị trường; giá trị hỗ trợ chỉ được phản ánh khi tạo ra thay đổi về nguyên mẫu, quy trình, khách hàng, doanh thu, năng suất hoặc tài sản trí tuệ.

Tài liệu tham khảo:

1. Acs, Z. J., Audretsch, D. B., Braunerhjelm, P., & Carlsson, B. (2009). The knowledge spillover theory of entrepreneurship. Small Business Economics, 32(1), 15-30. https://doi.org/10.1007/s11187-008-9157-3

2. Amezcua, A. S., Grimes, M. G., Bradley, S. W., & Wiklund, J. (2013). Organizational sponsorship and founding environments: A contingency view on the survival of business-incubated firms, 1994-2007. Academy of Management Journal, 56(6), 1628-1654. https://doi.org/10.5465/amj.2011.0652

3. Bruneel, J., Ratinho, T., Clarysse, B., & Groen, A. (2012). The evolution of business incubators: Comparing demand and supply of business incubation services across different incubator generations. Technovation, 32(2), 110-121. https://doi.org/10.1016/j.technovation.2011.11.003

4. Isenberg, D. J. (2010). How to start an entrepreneurial revolution. Harvard Business Review, 88(6), 40-50.

5. Isenberg, D. J. (2011). The entrepreneurship ecosystem strategy as a new paradigm for economic policy: Principles for cultivating entrepreneurship. Babson Entrepreneurship Ecosystem Project.

6. Leendertse, J., Schrijvers, M., & Stam, E. (2022). Measure twice, cut once: Entrepreneurial ecosystem metrics. Research Policy, 51(9), 104336. https://doi.org/10.1016/j.respol.2021.104336

7. OECD (2025a). Entrepreneurial ecosystem diagnostics. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/7096961f-en

8. OECD (2025b). Data and methods for entrepreneurial ecosystem diagnostics. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/5173f4a2-en

9. OECD/Eurostat (2018). Oslo manual 2018: Guidelines for collecting, reporting and using data on innovation (4th ed.). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/9789264304604-en

10. Quốc hội (2017). Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ngày 12/6/2017.

11. Samila, S., & Sorenson, O. (2011). Venture capital, entrepreneurship, and economic growth. Review of Economics and Statistics, 93(1), 338-349. https://doi.org/10.1162/REST_a_00066

12. Spigel, B. (2017). The relational organization of entrepreneurial ecosystems. Entrepreneurship Theory and Practice, 41(1), 49-72. https://doi.org/10.1111/etap.12167

13. Stam, E. (2015). Entrepreneurial ecosystems and regional policy: A sympathetic critique. European Planning Studies, 23(9), 1759-1769. https://doi.org/10.1080/09654313.2015.1061484

14. Stam, E., & van de Ven, A. (2021). Entrepreneurial ecosystem elements. Small Business Economics, 56, 809-832. https://doi.org/10.1007/s11187-019-00270-6

15. Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/ 2016 phê duyệt Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST quốc gia đến năm 2025.

Ngày nhận bài: 18/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026

Các tin khác

Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách

Lao động phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025: Xu hướng, chất lượng việc làm và hàm ý chính sách

Lao động phi chính thức là một bộ phận quan trọng của thị trường lao động Việt Nam, góp phần tạo việc làm và sinh kế cho một bộ phận lớn người lao động, nhưng thường gắn với mức độ bảo vệ thấp hơn về quan hệ lao động, bảo hiểm xã hội, ổn định thu nhập và khả năng ứng phó với rủi ro.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics tại Bắc Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số và AI giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành logistics tại Bắc Ninh trong bối cảnh chuyển đổi số và AI giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngành logistics đóng vai trò là "mạch máu" của nền kinh tế, giúp các tổ chức kết nối các khâu sản xuất, phân phối và tiêu dùng.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu của sinh viên ngành Kinh tế và kinh doanh

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu của sinh viên ngành Kinh tế và kinh doanh

Trong bối cảnh kinh tế số hiện nay, dữ liệu được xem là nguồn tài nguyên mới, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ các mục đích của con người.
​​​​​​​Các yếu tố chuyển đổi số ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số của các công ty logistics tại TP. Hồ Chí Minh

​​​​​​​Các yếu tố chuyển đổi số ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số của các công ty logistics tại TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cách doanh nghiệp logistics tổ chức và quản trị nguồn nhân lực. Nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò của văn hóa số, lãnh đạo số, đào tạo năng lực số và hạ tầng số đối với hiệu quả quản trị nguồn nhân lực số, qua đó đề xuất hàm ý quản trị phù hợp cho doanh nghiệp logistics.
Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Đồng Nai từ góc nhìn lãnh đạo chuyển đổi

Đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Đồng Nai từ góc nhìn lãnh đạo chuyển đổi

Đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành điều kiện quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với biến động thị trường và tạo giá trị gia tăng bền vững.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gắn bó của nhân viên trong các doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gắn bó của nhân viên trong các doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường lao động, duy trì sự gắn bó của nhân viên là vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp FDI với yêu cầu cao về năng suất, hiệu quả và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực.
Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Phát triển tín dụng xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: Thực trạng và hàm ý chính sách

Các ngân hàng thương mại ngày càng quan tâm xây dựng chiến lược tài chính bền vững, triển khai chương trình tín dụng ưu tiên cho lĩnh vực xanh và từng bước áp dụng các tiêu chuẩn ESG trong quản trị rủi ro tín dụng.
Từ người tiêu dùng đến chủ thể kiến tạo thương hiệu: Vai trò của Gen Z và KOC/Creator trong sự chuyển đổi chiến lược Branding của doanh nghiệp

Từ người tiêu dùng đến chủ thể kiến tạo thương hiệu: Vai trò của Gen Z và KOC/Creator trong sự chuyển đổi chiến lược Branding của doanh nghiệp

Trong không gian số, quyền phát ngôn, quyền nhận xét và cả quyền diễn giải ý nghĩa thương hiệu đã dịch chuyển đáng kể về phía cộng đồng người dùng. Bối cảnh trên buộc nhiều thương hiệu rời bỏ lối làm thương hiệu một chiều để chuyển sang cách thức cùng người tiêu dùng dựng nên câu chuyện.
Quản lý và huy động nguồn lực vàng trong dân: Khơi thông nguồn vốn cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Quản lý và huy động nguồn lực vàng trong dân: Khơi thông nguồn vốn cho phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam

Khi tiết kiệm được giữ lâu dài dưới dạng vàng vật chất ngoài hệ thống tài chính, tài sản vẫn thuộc sở hữu của người dân nhưng khả năng trung gian hóa thành tín dụng hoặc vốn đầu tư bị hạn chế.
Quản lý tài sản công theo chi phí vòng đời: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho các đơn vị dự toán quân đội

Quản lý tài sản công theo chi phí vòng đời: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho các đơn vị dự toán quân đội

Tài sản công là nguồn lực nội sinh vô cùng quan trọng của đất nước, góp phần tham gia vào quá trình sản xuất và quản lý xã hội. Quản lý tài sản công sao cho hiệu quả luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội.