Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nghiên cứu - Trao đổi 09:45 | 28/08/2026
Nghiên cứu kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại Đồng Nai, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý và các cơ sở giáo dục hoạch định giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hiệu quả.

Võ Anh Kiệt

Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai; Email: [email protected]

Trần Quang Bình

Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh; Email: [email protected]

Lê Thanh Hải

Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Cao đẳng Công thương Thành phố Hồ Chí Minh;

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu ứng dụng Thuyết hành vi có kế hoạch và Lý thuyết vốn nhân lực nhằm xác định và lượng hóa các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của 321 sinh viên thuộc 4 trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai. Qua phân tích Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính bội trên SPSS 26.0, kết quả cho thấy cả 6 nhân tố đều tác động thuận chiều đến Ý định khởi nghiệp. Mức độ ảnh hưởng giảm dần lần lượt là: Nhận thức kiểm soát hành vi, Giáo dục khởi nghiệp, Môi trường khởi nghiệp, Hỗ trợ từ gia đình, Chuẩn chủ quan và Thái độ đối với khởi nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao tinh thần khởi nghiệp cho người học thông qua việc củng cố năng lực cá nhân, đổi mới nội dung đào tạo và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện.

Từ khóa: Ý định khởi nghiệp, sinh viên, TP. Đồng Nai

Abstract

This study applies the Theory of Planned Behavior and Human Capital Theory to identify and quantify the factors influencing the entrepreneurial intentions of 321 students from four universities in Dong Nai City. Using Cronbach’s Alpha reliability testing, exploratory factor analysis (EFA), and multiple linear regression in SPSS 26.0, the results indicate that all six factors have positive effects on Entrepreneurial Intention. The level of influence, in descending order, is as follows: Perceived Behavioral Control, Entrepreneurship Education, Entrepreneurial Environment, Family Support, Subjective Norms, and Attitude toward Entrepreneurship. Based on these findings, the study proposes several managerial implications to foster entrepreneurial spirit among learners by strengthening individual capabilities, innovating training content, and building a comprehensive support ecosystem.

Keywords: Entrepreneurial intention, students, Dong Nai City

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khởi nghiệp đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc biệt trong kỷ nguyên hội nhập và chuyển đổi số, sinh viên được xem là lực lượng nòng cốt nhờ lợi thế về tri thức chuyên môn, khả năng tiếp cận công nghệ và tư duy đổi mới sáng tạo.

Dựa trên Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991), ý định chính là tiền đề cốt lõi dẫn dắt hành vi, chịu sự chi phối bởi thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Khung lý thuyết này đã được Liñán và Chen (2009) chứng minh là hoàn toàn phù hợp để giải mã ý định khởi nghiệp của giới trẻ. Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu (Phan Anh Tú, 2017; Nguyễn Xuân Hiệp và cộng sự, 2019; Võ Văn Hiền, 2021; Trần Thị Thanh Nhàn, 2022) đều khẳng định ý định lập nghiệp của sinh viên chịu tác động tổng hòa từ giáo dục, môi trường xung quanh và các nhân tố tâm lý hành vi.

TP. Đồng Nai là một trung tâm công nghiệp, dịch vụ và giáo dục lớn của vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn vẫn còn tương đối hạn chế, đặc biệt là các mô hình đánh giá tích hợp đồng thời các khía cạnh cá nhân, gia đình, nhà trường và môi trường xã hội. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại Đồng Nai, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý và các cơ sở giáo dục hoạch định giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hiệu quả.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Ý định khởi nghiệp thể hiện mức độ cam kết và sự sẵn sàng tâm lý của một cá nhân hướng tới việc tự lập doanh nghiệp trong tương lai. Theo Ajzen (1991), ý định đóng vai trò là lăng kính định hướng trực tiếp hành vi thực tế. Liñán và Chen (2009) mô tả ý định khởi nghiệp là khát vọng và quyết tâm lựa chọn con đường tự doanh thay vì làm thuê, trong khi Krueger (2000) nhấn mạnh ý định chính là cột mốc khởi đầu của chuỗi hành vi lập nghiệp.

Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB): được phát triển bởi Ajzen (1991), giải thích hành vi con người thông qua 3 thành tố cốt lõi: thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Mô hình này đã được kiểm chứng qua nhiều công trình là công cụ đắc lực để giải mã ý định khởi nghiệp của giới trẻ (Liñán và Chen, 2009; Maheshwari, 2021).

Lý thuyết vốn nhân lực: Kế thừa quan điểm của Becker (1964), lý thuyết này khẳng định các khoản đầu tư vào giáo dục, tri thức và kỹ năng đóng vai trò quyết định năng suất và thành công của cá nhân. Trong bối cảnh lập nghiệp, giáo dục khởi nghiệp chính là hình thức bồi dưỡng vốn nhân lực quan trọng giúp sinh viên gia tăng sự tự tin và nhạy bén nhận diện cơ hội kinh doanh.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước (Liñán và Chen, 2009; Maheshwari, 2021; Maheshwari và Kha, 2022; Nguyễn Quốc Cường và Nguyễn Minh Tú Anh, 2022; Bảo Quốc Lâm và Minh Phạm, 2023; Nguyễn Văn Định, 2022), nghiên cứu đề xuất mô hình gồm 6 nhân tố tác động đến Ý định khởi nghiệp (EI) của sinh viên gồm: Giáo dục khởi nghiệp (EE), Thái độ đối với khởi nghiệp (AT), Chuẩn chủ quan (SN), Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC), Hỗ trợ từ gia đình (FS) và Môi trường khởi nghiệp (EN) như Hình.

Hình: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết như sau:

H1: Giáo dục khởi nghiệp có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên.

H2: Thái độ đối với khởi nghiệp có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên.

H3: Chuẩn chủ quan có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên.

H4: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên.

H5: Hỗ trợ từ gia đình có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên.

H6: Môi trường khởi nghiệp có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp kết hợp giữa định tính và định lượng. Trong giai đoạn định tính, nhóm tác giả tiến hành thảo luận nhóm và tham vấn ý kiến chuyên gia để hoàn thiện bảng hỏi khảo sát. Trong giai đoạn định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp 321 sinh viên đang theo học tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai. Các biến được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ và được kế thừa từ các nghiên cứu: Ajzen (1991); Liñán và Chen (2009); Maheshwari (2021); Maheshwari và Kha (2022); Diệp Thanh Tùng và cộng sự (2020); Nguyễn Cường (2018).

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 thông qua kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến.

Dữ liệu thu thập hợp lệ được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 thông qua các bước kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đề xuất.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin mẫu khảo sát

Mẫu nghiên cứu gồm 321 phiếu khảo sát hợp lệ thu thập từ sinh viên các trường đại học tại TP. Đồng Nai. Cơ cấu mẫu thể hiện tính đại diện cao với sự phân bố đa dạng về nhân khẩu học và ngành học. Về giới tính, sinh viên nam chiếm 61,1% (196 sinh viên) và sinh viên nữ chiếm 38,9% (125 sinh viên). Về khối ngành đào tạo, nhóm ngành Kinh tế - Xã hội chiếm 51,4% (165 sinh viên), nhỉnh hơn không đáng kể so với nhóm ngành Tự nhiên - Kỹ thuật với 48,6% (156 sinh viên). Xét theo cơ sở đào tạo, Đại học Công nghệ Đồng Nai chiếm tỷ trọng lớn nhất với 35,5%, tiếp theo là Đại học Lạc Hồng (24,3%), Đại học Đồng Nai (21,8%) và Đại học Công nghệ Miền Đông (18,4%). Về năm học, sinh viên năm thứ 3 chiếm đa số với 34,6%, tiếp đến là sinh viên năm thứ 4 (28,3%), năm thứ 2 (27,1%) và năm thứ nhất (10,0%).

Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo

Độ tin cậy thang đo đánh giá dựa trên chuẩn chấp nhận lần lượt > 0,7 và > 0,3 theo Nguyễn Đình Thọ (2011).

Kết quả kiểm định (Bảng 1) đạt yêu cầu với Cronbach's Alpha từ 0,770-0,899 (EE = 0,899; PBC = 0,868; SN = 0,858; EN = 0,828; AT = 0,820 FS = 0,770; EI = 0,832) và hệ số tương quan biến - tổng dao động từ 0,541-0,789. Do đó, toàn bộ 26 biến quan sát được giữ lại không loại biến nào để chuyển sang phân tích EFA.

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo

Thang đo

Ký hiệu

Số biến

Cronbach's Alpha

Giáo dục khởi nghiệp

EE

4

0,899

Nhận thức kiểm soát hành vi

PBC

4

0,868

Chuẩn chủ quan

SN

4

0,858

Môi trường khởi nghiệp

EN

4

0,828

Thái độ đối với khởi nghiệp

AT

4

0,82

Hỗ trợ từ gia đình

FS

3

0,77

Ý định khởi nghiệp

EI

3

0,832

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả phân tích EFA

Kết quả Bảng 2 và 3 cho thấy các thang đo đạt yêu cầu về giá trị hội tụ và giá trị phân biệt:

Đối với các biến độc lập: Hệ số KMO = 0,808 (> 0,5) và kiểm định Bartlet có Sig. = 0,000 (< 0,05), qua đó xác nhận dữ liệu phù hợp. Mô hình rút trích được 6 nhân tố tại giá trị Eigenvalue = 1,428 (> 1) với tổng phương sai trích đạt 71,302%. Toàn bộ 23 biến quan sát được giữ lại do hệ số tải nhân tố (Factor Loading) đều > 0,5 và không có hiện tượng tải chéo.

Đối với biến phụ thuộc: Hệ số KMO = 0,710 cùng kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000 đáp ứng đủ điều kiện phân tích. Kết quả rút trích được 1 nhân tố với Eigenvalue = 2,247 (> 1), tổng phương sai trích là 74,891% và các hệ số tải nhân tố của 3 biến quan sát đều > 0,8, thể hiện giá trị hội tụ tốt.

Bảng 2: Kết quả phân tích EFA của các nhân tố độc lập

Nhân tố

1

2

3

4

5

6

EE2

0,851

EE1

0,851

EE3

0,846

EE4

0,811

PBC2

0,879

PBC3

0,828

PBC1

0,823

PBC4

0,745

SN1

0,873

SN2

0,861

SN3

0,817

SN4

0,727

EN1

0,882

EN3

0,755

EN2

0,750

EN4

0,697

AT4

0,798

AT3

0,794

AT2

0,788

AT1

0,778

FS3

0,841

FS2

0,807

FS1

0,786

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Bảng 3: Kết quả phân tích EFA của các nhân tố phụ thuộc

Nhân tố

EI2

0,894

EI1

0,860

EI3

0,841

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả phân tích tương quan và hồi quy

Kết quả phân tích tương quan Pearson (Bảng 4) cho thấy các biến độc lập đều có quan hệ thuận chiều và đạt ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc (Sig. < 0,01), đồng thời hệ số tương quan giữa các biến độc lập nằm trong mức an toàn để đưa vào hồi quy.

Kết quả phân tích hồi quy cụ thể:

Cất lượng mô hình: Hệ số R2 hiệu chỉnh = 0,643, thể hiện 64,3% sự biến thiên của Ý định khởi nghiệp được giải thích bởi 6 nhân tố. Kiểm định ANOVA đạt ý nghĩa thống kê (F = 97,004 và Sig. = 0,000).

Độ tin cậy của mô hình: Hệ số Durbin-Watson = 2,140 chứng tỏ không có hiện tượng tự tương quan chuỗi; hệ số phóng đại phương sai (VIF) dao động từ 1,145-1,345 (đều < 2), xác nhận mô hình hoàn toàn không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

Mức độ tác động: Toàn bộ 6 nhân tố đều tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp và đạt ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,01) xếp theo thứ tự mức độ ảnh hưởng từ mạnh đến yếu gồm: Nhận thức kiểm soát hành vi (beta = 0,272), Giáo dục khởi nghiệp (beta = 0,257), Môi trường khởi nghiệp (beta = 0,241), Hỗ trợ từ gia đình (beta = 0,208), Chuẩn chủ quan (beta = 0,183) và Thái độ đối với khởi nghiệp (beta = 0,175).

Kết luận giả thuyết: Toàn bộ các giả thuyết từ H1-H6 đều được chấp nhận.

Bảng 4. Kết quả phân tích hồi quy

Giả thuyết

Nhân tố

Beta chuẩn hóa

t

Sig.

VIF

Kết quả

H1

Giáo dục khởi nghiệp (EE)

0,257

6,679

0,000

1,32

Chấp nhận

H2

Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC)

0,272

7,310

0,000

1,24

Chấp nhận

H3

Chuẩn chủ quan (SN)

0,183

5,025

0,000

1,19

Chấp nhận

H4

Môi trường khởi nghiệp (EN)

0,241

6,213

0,000

1,35

Chấp nhận

H5

Thái độ đối với khởi nghiệp (AT)

0,175

4,899

0,000

1,15

Chấp nhận

H6

Hỗ trợ từ gia đình (FS)

0,208

5,814

0,000

1,15

Chấp nhận

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu

Kết quả nghiên cứu xác nhận 6 nhân tố gồm: Giáo dục khởi nghiệp, Nhận thức kiểm soát hành vi, Chuẩn chủ quan, Môi trường khởi nghiệp, Thái độ đối với khởi nghiệp và Hỗ trợ từ gia đình đều tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai. Trong đó, Nhận thức kiểm soát hành vi ảnh hưởng mạnh nhất, phản ánh rằng niềm tin vào năng lực tự thân và khả năng kiểm soát nguồn lực sẽ thúc đẩy dự định kinh doanh của người học (Ajzen, 1991; Liñán và Chen, 2009). Thêm vào đó, Giáo dục khởi nghiệp và Môi trường khởi nghiệp cũng có mức độ ảnh hưởng lớn, tương đồng với các công trình của Maheshwari (2021), Maheshwari và Kha (2022), Diệp Thanh Tùng và cộng sự (2020), nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lượng đào tạo và hệ sinh thái nhà trường.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 6 nhân tố trong mô hình đều có tác động tích cực đến Ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại TP. Đồng Nai xếp theo thứ tự mức độ ảnh hưởng giảm dần là: Nhận thức kiểm soát hành vi, Giáo dục khởi nghiệp, Môi trường khởi nghiệp, Hỗ trợ từ gia đình, Chuẩn chủ quan và Thái độ đối với khởi nghiệp. Kết quả nghiên cứu góp phần kiểm định tính phù hợp của Thuyết TPB trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn cho các trường đại học và cơ quan quản lý trong việc xây dựng các chính sách thúc đẩy tinh thần và ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Hàm ý quản trị

Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai như sau:

Một là, nâng cao nhận thức và năng lực tự thân: Tăng cường đào tạo các kỹ năng cốt lõi (lập kế hoạch, tài chính, quản trị rủi ro) qua các học phần và dự án thực tế để củng cố sự tự tin cho sinh viên.

Hai là, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo: Thiết kế chương trình gắn liền với thực tiễn, mời doanh nhân tham gia giảng dạy, tổ chức tham quan doanh nghiệp và hỗ trợ mô hình kinh doanh khả thi.

Ba là, phát triển môi trường khởi nghiệp trong trường học: Xây dựng hệ sinh thái nội bộ (trung tâm hỗ trợ, co-working space, vườn ươm) và kết nối chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp, quỹ đầu tư.

Bốn là, gia tăng sự đồng hành của gia đình: Đẩy mạnh truyền thông giúp phụ huynh thấu hiểu, qua đó cung cấp sự hỗ trợ về tinh thần lẫn nguồn lực để sinh viên theo đuổi kinh doanh.

Năm là, định hình thái độ tích cực: Lan tỏa những tấm gương thành công, chia sẻ kinh nghiệm thực tế và tạo không gian để sinh viên cởi mở hơn với các thách thức tự doanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Mặc dù đã hoàn thành các mục tiêu đề ra, song nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định: (i) phạm vi khảo sát giới hạn ở 321 sinh viên thuộc 4 trường đại học tại TP. Đồng Nai, dẫn đến khả năng khái quát hóa kết quả cho các vùng miền khác còn bị thu hẹp; (ii) mô hình mới chỉ dừng lại ở 6 nhân tố tác động, chưa tích hợp được các khía cạnh tiềm năng khác như: đặc điểm cá nhân, mức độ chấp nhận rủi ro, kinh nghiệm thực tế, năng lực đổi mới sáng tạo hoặc khả năng tiếp cận nguồn vốn; (iii) do sử dụng dữ liệu cắt ngang, nghiên cứu chưa thể hiện được sự biến động trong ý định khởi nghiệp của sinh viên qua các mốc thời gian.

Do đó, các hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng địa bàn và quy mô mẫu khảo sát tại nhiều trường đại học nhằm tăng tính đại diện. Bên cạnh đó, có thể phát triển mô hình bằng cách bổ sung các biến trung gian, biến điều tiết, đồng thời áp dụng các kỹ thuật phân tích tiên tiến như mô hình cấu trúc tuyến tính để đánh giá sâu sắc hơn mối quan hệ giữa các nhân tố.

Tài liệu tham khảo:

1. Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211.

2. Bảo Quốc Lâm & Minh Phạm (2023). The role of education in Vietnam students' e-entrepreneurial intention. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Kinh tế - Luật. DOI:10.32508/stdjelm.v7i1.1156

3. Becker, G. S. (1964). Human capital: A theoretical and empirical analysis, with special reference to education. University of Chicago Press, Chicago.

4. Diệp Thanh Tùng, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Thị Cẩm Phương, Nguyễn Thị Thúy Loan & Chong, S.-C. (2020). Enterprise development from students: The case of universities in Vietnam and the Philippines. The International Journal of Management Education, 18(2), 100333.

5. Krueger, N. F., Reilly, M. D. & Carsrud, A. L. (2000). Competing models of entrepreneurial intentions. Journal of Business Venturing, 15(5-6), 411–432. https://doi.org/10.1016/S0883-9026(98)00033-0.

6. Liñán, F. & Chen, Y. W. (2009). Development and cross-cultural application of a specific instrument to measure entrepreneurial intentions. Entrepreneurship Theory and Practice, 33(3), 593-617.

7. Maheshwari, G. (2021). Factors influencing entrepreneurial intentions the most for university students in Vietnam: Educational support, personality traits or TPB components? Education & Training, 63(7-8), 1138-1153. https://doi.org/10.1108/ET-02-2021-0074.

8. Maheshwari, G. & Kha, K. L. (2022). Investigating the relationship between educational support and entrepreneurial intention in Vietnam. The International Journal of Management Education, 20(2), 100553. https://doi.org/10.1016/j.ijme.2021.100553

9. Nguyễn Cường (2018). Demographic factors, family background and prior self-employment on entrepreneurial intention - Vietnamese business students are different: Why? Journal of Global Entrepreneurship Research, 8(1), 10. DOI 10.1186/s13731-017-0066-z

10. Nguyễn Đình Thọ (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh: Thiết kế và thực hiện. Nxb Lao động - Xã hội.

11. Nguyễn Văn Định, Lê Thị Mai Hương & Cao Thị Sen (2022). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Nam Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh - Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2).

12. Nguyễn Quốc Cường & Nguyễn Minh Tú Anh (2022). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kỹ thuật tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Công Thương, 58.

13. Nguyễn Xuân Hiệp, Trần Hà Thanh & Nguyễn Thị Yến Nhi (2019). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khối ngành kinh tế các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Tài chính – Marketing, 51.

14. Phan Anh Tú và Trần Quốc Huy (2017). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên. Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Cần Thơ. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 48, 96-103.

15. Trần Thị Thanh Nhàn (2022). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành Kinh tế tại Trường Đại học Quy Nhơn. Tạp chí Công Thương, 4.

16. Võ Văn Hiền & Lê Hoàng Vân Trang (2021). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Tiền Giang. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh - Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 16(2).

Ngày nhận bài: 6/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/8/2026; Ngày duyệt đăng: 26/8/2026

Các tin khác

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Vấn đề hiện thực hóa tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị về phát triển vùng động lực để đạt mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Chủ trương phát triển các vùng động lực trong giai đoạn tới đã được khẳng định; đồng thời các vùng động lực được kỳ vọng sẽ có đóng góp quan trọng trong giai đoạn phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam cho các mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045.
Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Giải pháp phát triển doanh nghiệp spin-off trong khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại trường đại học đa ngành

Doanh nghiệp spin-off là hướng đi tiềm năng để thương mại hóa kết quả nghiên cứu, song việc triển khai tại Việt Nam còn vướng mắc về pháp lý, tài chính và năng lực vận hành. Trên cơ sở phân tích thực tiễn và tham vấn chuyên gia, bài viết đề xuất quy trình phát triển doanh nghiệp spin-off và các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng tại trường đại học đa ngành.
Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Tác động của tăng trưởng kinh tế đô thị đến hiệu ứng đảo nhiệt tại TP. Hồ Chí Minh

Ứng dụng công nghệ viễn thám, bài viết phân tích biến động nhiệt độ bề mặt tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2024 và mối quan hệ giữa nhiệt độ bề mặt, độ che phủ thực vật với một số chỉ tiêu phát triển kinh tế đô thị. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp hài hòa tăng trưởng kinh tế với kiểm soát hiệu ứng đảo nhiệt và phát triển đô thị bền vững.
Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Mô phỏng bàn giao hồ sơ kế toán số: Khung phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên

Hồ sơ kế toán số được hình thành từ hóa đơn điện tử, phần mềm, dữ liệu ngân hàng và hệ thống quản trị tích hợp. Vì vậy, chất lượng bàn giao ảnh hưởng đến khả năng truy vết, tính liên tục của công việc và độ tin cậy của thông tin kế toán.
Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Công tác quản lý rừng ở khu vực biên giới tỉnh Nghệ An trong bối cảnh sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính: Nghiên cứu trường hợp xã Châu Khê

Quản lý tài nguyên rừng toàn cầu đang đứng trước một ngã rẽ mang tính quyết định, khi những áp lực về bảo vệ hệ sinh thái, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế cho các cộng đồng phụ thuộc vào rừng đang đan xen phức tạp.
Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Nâng cao tài sản thương hiệu thông qua truyền thông mạng xã hội và năng lực kết nối mạng lưới: Nghiên cứu tại Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Trong giáo dục đại học, tài sản thương hiệu ngày càng được quan tâm khi các trường đại học phải cạnh tranh trong thu hút người học và khẳng định vị thế. Việc lựa chọn trường không chỉ dựa trên chương trình đào tạo và học phí mà còn liên quan đến danh tiếng, môi trường học tập, triển vọng nghề nghiệp và những giá trị mà người học nhận được.
Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Mối quan hệ phi tuyến giữa chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Việt Nam

Bài viết kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa Bộ chỉ số DTI và Chỉ số PCI của các tỉnh, thành phố Việt Nam giai đoạn 2020-2024, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi số tại các địa phương.
Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Từ chất lượng dịch vụ đến sự sẵn lòng chi trả học phí: Vai trò khác biệt của sự hài lòng và cảm nhận công bằng học phí

Trong bối cảnh tự chủ đại học tại Việt Nam, sinh viên không chỉ quan tâm đến khả năng chi trả mà còn quan tâm đến chất lượng nhận được và tính hợp lý của mức phí. Vì vậy, vấn đề trọng tâm không chỉ là sinh viên có thể trả bao nhiêu, mà là điều gì khiến họ sẵn lòng duy trì hoặc gia tăng cam kết tài chính với cơ sở đào tạo.
Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Mô hình nghiên cứu tác động của thuộc tính xã hội và nhận thức về chính sách khuyến khích đến ý định mua xe điện: Vai trò trung gian của thái độ đối với xe điện

Sự phát triển của xe điện đang được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy giao thông bền vững và giảm các tác động môi trường của hoạt động vận tải. Tuy nhiên, sự mở rộng của thị trường xe điện không chỉ phụ thuộc vào đặc tính công nghệ hay giá cả sản phẩm mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ các yếu tố tâm lý – xã hội và môi trường chính sách
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển ngành của người học: Tiếp cận từ khung Đẩy - Kéo - Neo giữ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch

Giáo dục đại học Việt Nam đa dạng về trường, chương trình và ngành học đào tạo, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh. Người học có thể đánh giá và điều chỉnh lựa chọn ngành học.