Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước
Phan Thị Lan Phương
Trường Đại học Văn Hiến
Email: Phuongptl@vhu.edu.vn
Tóm tắt
Nghiên cứu tập trung phân tích đa chiều về thực trạng thu ngân sách nhà nước tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2020 đến tháng 7/2026. Dựa trên dữ liệu thực chứng, nghiên cứu làm nổi bật sự định hình lại các động lực nội sinh, trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã vươn lên xác lập vị thế dẫn dắt. Đồng thời, làm rõ những vấn đề mang tính vĩ mô thông qua tính chu kỳ của dòng thu từ tài sản (đặc biệt là bất động sản) tác động đến thu ngân sách. Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn và rủi ro mang tính cấu trúc này, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất, hướng tới mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu và ổn định vĩ mô bền vững trong kỷ nguyên phục hồi.
Từ khoá: Cơ cấu thu ngân sách, động lực nội sinh, khu vực ngoài nhà nước, chu kỳ tài sản, chính sách tài khóa, Việt Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sự vận động của kinh tế vĩ mô, thu ngân sách nhà nước (NSNN) không chỉ đơn thuần là nguồn lực tài chính cho chi tiêu công, mà còn là một “phong vũ biểu” nhạy cảm, phản ánh trực tiếp sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp và hiệu quả của các chính sách điều hành tài khóa. Giai đoạn 2020-2024, mặc dù nền kinh tế Việt Nam phải vận động trong bối cảnh nhiều khó khăn và bất định do tác động với các cú sốc nội và ngoại sinh, thu NSNN vẫn đảm bảo duy trì tăng trưởng và từ năm 2025 tiếp tục được củng cố nhờ sự mở rộng của nguồn thu nội địa. Đáng chú ý, khu vực kinh tế ngoài nhà nước ngày càng thể hiện rõ vai trò gánh đỡ nguồn thu, góp phần bù đắp sự chững lại của một số khu vực truyền thống và tạo thêm dư địa cho việc củng cố nền tảng tài khóa trong nước. Dữ liệu giai đoạn này đã cho thấy một hiện tượng đáng chú ý về sự chuyển dịch cơ cấu nguồn thu tại Việt Nam. Mức độ tập trung nguồn thu khổng lồ trên một mặt phản ánh hệ thống tài chính đang thực hiện tốt vai trò huy động nguồn lực, nhưng mặt khác lại đặt ra bài toán về tính bền vững khi sự đóng góp giữa các khu vực kinh tế có sự phân hóa sâu sắc.
Bức tranh ngân sách giai đoạn này còn được khắc họa bởi vai trò “đầu tàu” của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, xác lập vị thế là khu vực đóng góp lớn nhất trong các khối doanh nghiệp. Qua đó, minh chứng rõ nét cho khả năng thích ứng của khu vực tư nhân, đồng thời cũng phản ánh những thay đổi trong hành vi đầu tư của toàn xã hội trước các biến động của thị trường vốn và chính sách tiền tệ.
Từ những biến động trên, việc đi sâu phân tích thực trạng biến động cơ cấu thu NSNN và nhận diện vai trò động lực của khu vực kinh tế ngoài nhà nước giai đoạn 2020-2025 và 7 tháng đầu năm 2026 trở thành một đòi hỏi cấp thiết. Nghiên cứu tập trung làm rõ sự dịch chuyển các luồng thu giữa các thành phần kinh tế và nền kinh tế thực. Qua đó, nhận diện các điểm nghẽn trong luân chuyển dòng vốn và đề xuất các hàm ý chính sách giúp nâng cao hiệu quả nuôi dưỡng nguồn thu, hướng tới mục tiêu ổn định vĩ mô bền vững trong kỷ nguyên phục hồi.
THỰC TRẠNG BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU THU NGÂN SÁCH
Những kết quả đạt được
Giai đoạn 2020-2024 đóng vai trò như một “phép thử áp lực” khắc nghiệt đối với hệ thống tài chính công của Việt Nam, phản chiếu trực tiếp sự định hình lại các động lực nội sinh và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Bức tranh tài khóa trong nửa thập kỷ qua chứng kiến một pha tăng trưởng bứt phá về quy mô, từ mốc 1.510.579 tỷ đồng vào năm 2020 và vượt ngưỡng 2 triệu tỷ đồng vào năm 2024 (đạt sơ bộ 2.043.686 tỷ đồng) (Cục Thống kê, 2026). Tuy nhiên, điểm cốt lõi của chu kỳ này nằm ở sự dịch chuyển chất lượng dòng thu. Nền kinh tế đã bước đầu xác lập được “độ sâu tài khóa” độc lập khi nguồn thu nội địa không ngừng mở rộng, vươn lên chiếm lĩnh 83,7% tổng cơ cấu vào năm 2024, thay thế cho sự giảm sút của các nguồn thu mang tính tài nguyên như dầu thô, vốn đã giảm mạnh từ đỉnh 78.137 tỷ đồng (năm 2022) xuống chỉ còn 58.646 tỷ đồng (Cục Thống kê, 2026). Sự chuyển giao này minh chứng cho nỗ lực tái cấu trúc thành công, giúp ngân khố quốc gia thoát khỏi rủi ro chu kỳ giá hàng hóa toàn cầu. Đến năm 2025 và 7 tháng đầu năm 2026, xu hướng mở rộng nguồn thu nội địa tiếp tục được củng cố. Thu nội địa năm 2025 đạt 2.308,4 nghìn tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2026a). Riêng 7 tháng đầu năm 2026, Cục Thuế cho biết, tổng thu ngân sách do cơ quan Thuế quản lý ước đạt tới 1.621.813 tỷ đồng, hoàn thành 72,3% dự toán pháp lệnh và tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, thu nội địa tiếp tục giữ vai trò trụ cột kinh tế khi đạt 1.585.399 tỷ đồng, đạt 72,1% dự toán và tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước (Trung Kiên, 2026). Điều này cho thấy nguồn thu trong nước tiếp tục là nền tảng vững của ngân sách. Sự duy trì và củng cố này không chỉ phản ánh quy mô thu nội địa được mở rộng mà còn cho thấy vai trò ngày càng rõ của khu vực kinh tế ngoài nhà nước trong việc gánh đỡ nguồn thu, nhất là khi một số nguồn thu truyền thống và khu vực doanh nghiệp nhà nước có xu hướng tăng chậm hơn. Diễn biến về quy mô và cơ cấu nguồn thu trong giai đoạn cập nhật được khái quát tại Hình.
Hình: Một số chỉ tiêu thu NSNN năm 2025 và 7 tháng đầu năm 2026
![]() |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Đi sâu vào cấu trúc lõi của các trụ cột sản xuất kinh doanh, sự gia tăng của thu từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước đã tạo ra một cuộc “chuyển giao” thực sự trong định vị đóng góp ngân sách. Thu từ khu vực tư nhân nội địa đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ từ 247.134 tỷ đồng vào năm 2020, dòng thu từ khu vực công thương nghiệp, dịch vụ ngoài nhà nước đã vọt lên 391.957 tỷ đồng vào năm 2024, tương đương mức tăng trưởng xấp xỉ 58,6% (Cục Thống kê, 2026). Hiện tượng này không chỉ minh chứng cho tính linh hoạt và năng lực tối ưu hóa vốn của khối tư nhân, mà còn khẳng định đây là “vùng đệm” hiệu quả nhất của nền kinh tế trong việc thẩm thấu các chính sách nới lỏng tiền tệ và các gói hỗ trợ tài khóa của Chính phủ. Dữ liệu 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy thu từ khu vực sản xuất kinh doanh đóng góp gần 55% tổng thu do cơ quan thuế quản lý và tăng 17,9% so với cùng kỳ (Bộ Tài chính, 2026b).
Song song với động lực từ sản xuất thực, sự vận động của dòng vốn trên thị trường tài sản cũng để lại dấu ấn đậm nét lên cấu trúc thu ngân sách, bộc lộ tính chu kỳ mạnh mẽ. Mối liên thông mật thiết giữa tín dụng ngân hàng, thị trường vốn và ngân sách được thể hiện qua luồng thu từ nhà đất. Khi van tín dụng bị thắt chặt và thanh khoản thị trường trái phiếu đóng băng, nguồn thu này đã giảm mạnh từ 255.386 tỷ đồng (2022) xuống mức đáy 202.468 tỷ đồng (2023). Ngược lại, ngay khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt, dòng tiền đã bộc lộ trạng thái phòng thủ và đầu cơ, đẩy nguồn thu bất động sản bật tăng lên 290.798 tỷ đồng trong năm 2024 (Cục Thống kê, 2026). Sự trồi sụt thất thường này, kết hợp với đà tăng trưởng bền bỉ của thuế thu nhập cá nhân (từ 115.150 lên 186.345 tỷ đồng) (Cục Thống kê, 2026), phản ánh rõ nét hành vi tái phân bổ tài sản của dân cư và sự dồn ứ thanh khoản vào các kênh trú ẩn vật lý thay vì chảy xuyên suốt vào hệ thống sản xuất. Diễn biến năm 2025 tiếp tục cho thấy độ biến động của nguồn thu liên quan đến đất đai: thu tiền sử dụng đất đạt 498,6 nghìn tỷ đồng, trong khi thuế thu nhập cá nhân đạt 235,1 nghìn tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2026a). Quy mô này bổ sung nguồn lực cho ngân sách nhưng cũng đặt ra yêu cầu phân biệt nguồn thu ổn định với nguồn thu chịu ảnh hưởng mạnh của chu kỳ tài sản.
Đáng chú ý, dù nền tảng nội địa ngày càng vững chắc, độ mở kinh tế quá lớn vẫn khiến bức tranh ngân sách chịu những tổn thương ngoại biên đáng kể. Dòng thu cân đối từ xuất nhập khẩu đã trải qua nhịp gãy đổ nghiêm trọng từ 285.898 tỷ đồng (2022) xuống 219.651 tỷ đồng (2023) trước khi có dấu hiệu phục hồi vào năm 2024 (Cục Thống kê, 2026). Cú sốc này đồng pha với chu kỳ đứt gãy đơn hàng toàn cầu và trạng thái găm giữ ngoại tệ phòng thủ của các doanh nghiệp trong nước trước áp lực tỷ giá. Đồng thời, chi phí duy trì thanh khoản cho khu vực ngoại thương thông qua nghiệp vụ hoàn thuế giá trị gia tăng liên tục duy trì ở mức âm sâu, ước tính sơ bộ năm 2024 xuống tới âm 156.908 tỷ đồng (Cục Thống kê, 2026). Về bản chất kinh tế học, đây chính là hình thức cơ quan điều hành phải sử dụng một phần “túi tiền quốc gia” để bơm thanh khoản trực tiếp, trợ lực cho khu vực xuất khẩu vượt qua chu kỳ suy thoái. Năm 2025, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 318,8 nghìn tỷ đồng và số hoàn thuế giá trị gia tăng đạt 150,7 nghìn tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2026a). Đến 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 659,6 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ (Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, 2026). Ngoại thương phục hồi rõ, nhưng nguồn thu từ khu vực này vẫn nhạy cảm với thương mại và tỷ giá.
Thực trạng biến động cấu trúc thu ngân sách giai đoạn 2020-2025 và 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy 4 điểm nhấn như sau:
Một là, quy mô và cơ cấu thu NSNN tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng vai trò của nguồn thu nội địa. Diễn biến này củng cố nền tảng tài khóa trong nước và giảm mức độ phụ thuộc tương đối vào các nguồn thu biến động như dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu.
Hai là, khu vực kinh tế ngoài nhà nước tiếp tục giữ vị trí đáng chú ý trong quá trình mở rộng cơ sở thu. Giai đoạn 2020–2025 cho thấy tốc độ tăng thu của khu vực này vượt hai khu vực doanh nghiệp còn lại, và 7 tháng đầu năm 2026 khu vực sản xuất kinh doanh nói chung vẫn đóng góp gần 55% tổng thu do cơ quan thuế quản lý (Bộ Tài chính, 2026b).
Ba là, các khoản thu liên quan đến đất đai và tài sản vẫn có tính chu kỳ rõ nét. Sau mức tăng của thu nhà, đất năm 2024, thu tiền sử dụng đất năm 2025 đạt 498,6 nghìn tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2026a). Nguồn thu này bổ sung đáng kể cho ngân sách nhưng cũng làm nổi bật yêu cầu tăng các nguồn thu thường xuyên, bền vững hơn từ sản xuất kinh doanh và thu nhập.
Bốn là, các cú sốc bên ngoài vẫn tác động đến nguồn thu từ khu vực đối ngoại. Sự phục hồi thương mại hỗ trợ nguồn thu nhưng không loại bỏ rủi ro từ tỷ giá và thị trường thế giới. Hoàn thuế giá trị gia tăng cần được nhìn nhận là cơ chế hoàn thuế, đồng thời hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp đủ điều kiện.
Một số tồn tại, hạn chế
Từ sự phân tích về biến động của các luồng thu, có thể nhận diện một số rủi ro và hạn chế trong cấu trúc ngân sách hiện nay:
Thứ nhất, rủi ro từ sự gia tăng mạnh của các khoản thu liên quan đến đất đai. Nguồn thu này tạo dư địa ngân sách trong ngắn hạn, nhưng có thể biến động theo chu kỳ thị trường. Vì vậy, tính bền vững của cơ cấu thu cần dựa nhiều hơn vào các nguồn thu thường xuyên từ sản xuất, kinh doanh và thu nhập.
Thứ hai, nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu vẫn nhạy cảm với biến động bên ngoài. Thu cân đối từ xuất nhập khẩu năm 2025 đạt 318,8 nghìn tỷ đồng (Bộ Tài chính, 2026a); 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 28,1% so với cùng kỳ (Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, 2026). Mặc dù diễn biến này tích cực, độ mở lớn của nền kinh tế khiến dự toán thu vẫn chịu ảnh hưởng của nhu cầu thế giới, tỷ giá và chính sách thương mại.
Thứ ba, yêu cầu nuôi dưỡng nguồn thu từ khu vực sản xuất, kinh doanh. Số liệu 2020-2024 cho thấy thu từ doanh nghiệp Nhà nước tăng chậm hơn khu vực ngoài nhà nước (Cục Thống kê, 2026); dữ liệu 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy khu vực sản xuất kinh doanh nói chung vẫn đóng góp gần 55% tổng thu do cơ quan thuế quản lý (Bộ Tài chính, 2026b). Điều này đặt ra yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh, mở rộng cơ sở thu trên nền tảng tăng trưởng thực và nâng cao mức độ tuân thủ.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Giai đoạn 2020-2025 và 7 tháng đầu năm 2026 cho thấy những biến động về cơ cấu và tăng trưởng nguồn thu ngân sách. Mặc dù hệ thống tài chính công vẫn duy trì được “độ sâu” khi thu nội địa chiếm tỷ trọng cao, song sự trồi sụt của nguồn thu nhà đất, sự chững lại của khu vực doanh nghiệp nhà nước và nguồn thu xuất nhập khẩu đang đặt ra yêu cầu đối với chất lượng điều hành tài khóa. Vì vậy, tối ưu hóa cơ cấu thu và kiểm soát rủi ro vĩ mô cần thực hiện đồng bộ.
Theo đó, cần nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nguồn thu và khơi thông dòng vốn vào khu vực sản xuất thực. Các cơ quan quản lý tiếp tục sử dụng linh hoạt công cụ tài khóa, nhưng chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng tăng trưởng. Chính sách tài khóa cần phối hợp chặt với chính sách tiền tệ để định hướng dòng vốn vào khu vực ngoài Nhà nước, hạn chế thanh khoản dồn vào tài sản đầu cơ, nhất là bất động sản.
Đồng thời, cần phát triển hệ sinh thái thuế số theo chiều sâu nhằm củng cố nền tảng thu bền vững. Thay vì mở rộng diện thu cơ học, ngành thuế cần đầu tư hạ tầng công nghệ, tăng tính minh bạch và nâng cao sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế. Đây là cơ sở để duy trì nguồn thu từ khu vực công thương nghiệp, dịch vụ tư nhân, đồng thời đưa dòng tiền ngoài hệ thống vào khu vực tài chính chính thức, qua đó tăng sức chống chịu của nền kinh tế.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài chính (2026a). Báo cáo công khai số liệu thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2025. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính.
2. Bộ Tài chính (2026b). Báo cáo tình hình thực hiện công tác tài chính - ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2026. Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính.
3. Cục Thống kê (2026). Niên giám Thống kê và Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2020 – 2024. Nxb Thống kê.
Trung Kiên (2026). Thu ngân sách 7 tháng vượt mốc 1,6 triệu tỷ đồng. Chuyên trang Thuế và Hải quan Online, Tạp chí Kinh tế - Tài chính. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn/thu-ngan-sach-7-thang-vuot-moc-1-6-trieu-ty-dong-164212.html
5. Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (2026). Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7: Xuất nhập khẩu ước đạt 659,6 tỷ USD, tăng 28,1%. Cổng thông tin Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính.
| Ngày nhận bài: 30/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/8/2026; Ngày duyệt đăng: 27/8/2026 |
Các tin khác
Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử
Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số
Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai
Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023
Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến
Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục
