Nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI thế hệ mới tại các địa phương ở Việt Nam: Tiếp cận từ dữ liệu bảng 15 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2023

Nghiên cứu - Trao đổi 09:01 | 28/08/2026
Trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và định hướng từ Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị, việc chuyển hướng sang FDI thế hệ mới - gắn liền với công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuẩn mực ESG - là lựa chọn mang tính chiến lược.

TS. Phan Thúy Thảo

Trường Đại học Thủy lợi; Email: thaopt@tlu.edu.vn

PGS.TS. Từ Quang Phương

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội,

Email: tuquangphuong06@gmail.com

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng và lượng hóa các nhân tố cấp tỉnh tác động đến thu hút FDI thế hệ mới tại Việt Nam giai đoạn 2010-2023. Sử dụng dữ liệu bảng của 15 địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút FDI, nghiên cứu ước lượng lần lượt các mô hình Pooled OLS, tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM) với sai số chuẩn mạnh theo cụm. Kết quả cho thấy, Mức độ tập trung kinh tế, Thu nhập bình quân đầu người và Hạ tầng công nghiệp có tác động thuận chiều, có ý nghĩa thống kê đến thu hút FDI thế hệ mới, trong khi Nguồn cung lao động phổ thông có tác động ngược chiều; Quy mô thị trường và Chỉ số PCI chưa cho thấy ý nghĩa thống kê rõ ràng. Kết quả phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình thu hút FDI dựa vào lao động giá rẻ sang dựa vào năng lực sản xuất và tập trung kinh tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách về phát triển nhân lực chất lượng cao, quy hoạch khu công nghiệp tập trung và đầu tư hạ tầng nhằm nâng cao năng lực thu hút FDI thế hệ mới cho các địa phương.

Từ khóa: FDI thế hệ mới, nhân tố cấp tỉnh, hạ tầng công nghiệp, tập trung kinh tế, dữ liệu bảng, PCI

Abstract

This study analyzes the current situation and quantifies provincial-level factors affecting the attraction of new-generation FDI in Viet Nam during the 2010-2023 period. Using panel data on FDI attraction from 15 leading provinces and centrally governed municipalities in Viet Nam, the study sequentially estimates Pooled OLS, fixed-effects (FEM), and random-effects (REM) models with cluster-robust standard errors. The results show that Economic concentration, Average per capita income, and Industrial infrastructure have positive and statistically significant effects on the attraction of new-generation FDI, while the Supply of low-skilled labor has a negative effect. Market size and the PCI do not show clear statistical significance. The findings reflect a shift from an FDI attraction model based on low-cost labor toward one based on production capacity and economic concentration. Accordingly, the study proposes policy implications for the development of high-quality human resources, the planning of concentrated industrial parks, and infrastructure investment to enhance localities' capacity to attract new-generation FDI.

Keywords: New-generation FDI, provincial-level factors, industrial infrastructure, economic concentration, panel data, PCI

GIỚI THIỆU

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam, với tổng vốn đăng ký lũy kế đạt trên 500 tỷ USD tính đến hết năm 2025 và vốn thực hiện năm 2025 ước đạt 23,5 tỷ USD (tăng 9,4% so với 2024) (Tổng cục Thống kê, 2025). Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh từ nhân công giá rẻ và ưu đãi thuế đang dần bộc lộ những giới hạn: giá trị gia tăng nội địa thấp, mức độ liên kết doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, hàm lượng công nghệ nguồn chưa cao và dòng vốn tập trung chủ yếu vào các công đoạn gia công, lắp ráp. Trước yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và định hướng từ Nghị quyết 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị, việc chuyển hướng sang FDI thế hệ mới - gắn liền với công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và chuẩn mực ESG - là lựa chọn mang tính chiến lược.

Sự cạnh tranh thu hút dòng vốn này ngày càng thể hiện rõ ở cấp địa phương. Các tỉnh/thành tiên phong như: Bắc Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Thái Nguyên, Quảng Ninh hay Long An đã bứt phá nhờ lợi thế về hạ tầng, nhân lực, mức độ tập trung kinh tế và chất lượng điều hành. Để khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước - vốn thường tiếp cận FDI như một tổng thể đồng nhất trên phạm vi cả nước - nghiên cứu hướng tới 3 mục tiêu: (1) xây dựng khung phân tích các yếu tố hấp dẫn cấp tỉnh đối với FDI thế hệ mới; (2) lượng hóa tác động của các yếu tố này dựa trên dữ liệu bảng giai đoạn 2010-2023 tại 15 địa phương dẫn đầu giai đoạn trước sáp nhập (nhóm địa phương tập trung phần lớn các dự án công nghệ cao, điện tử, bán dẫn và năng lượng tái tạo của cả nước); (3) đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp. Điểm mới của nghiên cứu nằm ở việc đưa ra bằng chứng thực nghiệm trên dữ liệu bảng của nhóm địa phương dẫn đầu về FDI thế hệ mới, qua đó góp phần làm rõ sự khác biệt trong cơ chế ảnh hưởng của các yếu tố cấp tỉnh so với mô hình thu hút FDI truyền thống.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Khái niệm

FDI thế hệ mới

Theo OECD (1996), FDI là hình thức đầu tư dài hạn phản ánh lợi ích lâu dài và quyền kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp tại nền kinh tế tiếp nhận. Khái niệm FDI thế hệ mới được nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có UNCTAD (2025), sử dụng để chỉ dòng vốn có hàm lượng công nghệ và tri thức cao, gắn với các ngành công nghiệp 4.0, kinh tế số, năng lượng tái tạo và dịch vụ giá trị gia tăng. Khác với FDI truyền thống vốn tìm kiếm lao động giá rẻ và tài nguyên, FDI thế hệ mới ưu tiên chất lượng nguồn nhân lực, năng lực hạ tầng sản xuất, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Khung lý thuyết

Nghiên cứu dựa trên 2 nền tảng lý thuyết bổ trợ. Lý thuyết chiết trung của Dunning (1993) cho rằng, quyết định FDI phụ thuộc vào nhóm lợi thế OLI: sở hữu (O), địa điểm (L) và nội bộ hóa (I). Trong đó, nhóm lợi thế địa điểm bao gồm: quy mô thị trường, chất lượng hạ tầng, nguồn lao động và môi trường thể chế trực tiếp lý giải sự lựa chọn giữa các địa phương. Lý thuyết kinh tế không gian của Krugman (1991) nhấn mạnh vai trò của tính kinh tế nhờ tập trung, những khu vực có mật độ hoạt động kinh tế cao tạo ra hiệu ứng lan tỏa, giảm chi phí giao dịch và củng cố lợi thế cạnh tranh, qua đó tự khuếch đại sức hút đối với các nhà đầu tư mới. Hai lý thuyết này cùng cung cấp cơ sở để lựa chọn và diễn giải các biến giải thích trong mô hình.

Tổng quan nghiên cứu

Asiedu (2002) chỉ ra thu nhập bình quân đầu người và độ mở thương mại có tác động thuận chiều, có ý nghĩa thống kê đến FDI ở các nước đang phát triển. Wheeler và Mody (1992) khẳng định, hạ tầng hỗ trợ sản xuất là yếu tố quyết định trong quyết định địa điểm đầu tư của các công ty đa quốc gia. Epaphra và Massawe (2017) bổ sung vai trò của quy mô thị trường, độ mở thương mại và chất lượng thể chế. Về mặt cơ chế, các nghiên cứu này ủng hộ luận điểm rằng, FDI hiện đại ngày càng nhạy cảm với chất lượng của yếu tố sản xuất hơn là chi phí lao động đơn thuần.

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Quốc Việt và cộng sự (2014), Trần Thị Thanh Hải (2017) chỉ ra chất lượng thể chế cấp tỉnh, thể hiện qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), có ảnh hưởng tích cực đến thu hút FDI vào các địa phương. Meyer và Nguyễn (2005) khẳng định các thể chế cấp cận quốc gia và sự sẵn có của nguồn lực khan hiếm có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định địa điểm của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Một số nghiên cứu gần đây làm rõ các nhân tố cấp tỉnh trong bối cảnh mới. Nguyen Phuong Le và cộng sự (2021) phân tích tác động của chỉ số PCI đến khả năng thu hút doanh nghiệp và FDI tại vùng Tây Nguyên, cho thấy PCI có tương quan chặt với số doanh nghiệp, quy mô lao động và vốn đầu tư, đồng thời khuyến nghị chính quyền địa phương cải thiện các chỉ số thành phần để nâng điểm PCI tổng hợp. Lê Thanh Hà (2023) nghiên cứu các yếu tố thu hút FDI tại Hà Nội giai đoạn 2018-2022 trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, kết luận rằng hạ tầng hiện đại, môi trường kinh tế ổn định và đặc điểm nguồn lao động là những lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Ngô Thanh Phú và Nguyễn Hồng Hà (2025) sử dụng dữ liệu bảng của 10 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2023 với các mô hình FEM, REM và FGLS, phát hiện độ mở kinh tế, số dự án FDI được cấp phép, tỷ lệ lao động qua đào tạo và hạ tầng công nghiệp tác động tích cực, trong khi quy mô lực lượng lao động phổ thông, tổng mức bán lẻ và tỷ lệ hộ nghèo tác động ngược chiều. Điểm chung nổi bật của các nghiên cứu này là sự dịch chuyển vai trò từ lợi thế số lượng lao động sang chất lượng lao động, hạ tầng và năng lực điều hành địa phương, phù hợp với logic của FDI thế hệ mới.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Kế thừa khung OLI, Lý thuyết kinh tế không gian và các nghiên cứu đi trước, nhóm tác giả đề xuất mô hình dữ liệu bảng với biến phụ thuộc là logarit tổng vốn FDI của tỉnh (Ln_FDI) và 6 biến giải thích cấp tỉnh. Dạng tổng quát của mô hình như sau:

Ln_FDIit = β0 + β1LAPSUPit + β2Ln_INCOMEit + β3Ln_AGGLOit

+ β4INFRAit + β5PCIit + β6Ln_TRSit + εit

Trong đó, it lần lượt ký hiệu tỉnh và năm; ε là sai số ngẫu nhiên. Các biến giải thích và kỳ vọng dấu được trình bày ở Bảng 1.

Bảng 1: Định nghĩa biến và giả thuyết nghiên cứu

Biến

Đo lường (đại diện)

Kỳ vọng

Giả thuyết

LAPSUP

Nguồn cung lao động: số lao động từ 15 tuổi trở lên.

+/–

H1

Ln_INCOME

Mức sống: log thu nhập bình quân đầu người/tháng.

+

H2

Ln_AGGLO

Tập trung kinh tế: log số dự án đầu tư vào tỉnh.

+

H3

INFRA

Hạ tầng công nghiệp: chỉ số sản xuất công nghiệp (gốc 2010).

+

H4

PCI

Năng lực cạnh tranh: điểm PCI tổng hợp 10 thành phần.

+

H5

Ln_TRS

Quy mô thị trường: log tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ.

+

H6

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả

Các giả thuyết nghiên cứu gồm:

H1: Nguồn cung lao động (chủ yếu là lao động phổ thông) tác động ngược chiều đến Kết quả thu hút FDI thế hệ mới tại cấp tỉnh.

H2: Thu nhập bình quân đầu người tác động thuận chiều đến Kết quả thu hút FDI thế hệ mới tại cấp tỉnh.

H3: Mức độ tập trung kinh tế tác động thuận chiều đến Kết quả thu hút FDI thế hệ mới tại cấp tỉnh.

H4: Hạ tầng công nghiệp tác động thuận chiều đến Kết quả thu hút FDI thế hệ mới tại cấp tỉnh.

H5: Chỉ số PCI tác động thuận chiều đến Kết quả thu hút FDI thế hệ mới tại cấp tỉnh.

H6: Quy mô thị trường tác động thuận chiều đến Kết quả thu hút FDI thế hệ mới tại cấp tỉnh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (Stratton, 2021), các tỉnh/thành phố được sàng lọc theo bộ tiêu chí: số dự án, tổng vốn đăng ký, vốn thực hiện, điểm PCI và số doanh nghiệp FDI, với điều kiện thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về thu hút FDI tính đến năm 2023 (nghiên cứu được thực hiện trước giai đoạn Việt Nam sát nhập tỉnh thành). Nghiên cứu chọn 15 tỉnh/thành phố thành công trong việc thu hút FDI thế hệ mới giai đoạn 2010-2023 bao gồm 6 địa phương khu vực Đồng bằng sông Hồng: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh; 3 tỉnh tại khu vực Đông Bắc Bộ: Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang; 5 tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ: TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh; 1 tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long: Long An.

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bảng cân bằng gồm 201 quan sát trong giai đoạn 2010-2023. Dữ liệu được tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê các năm và báo cáo PCI của VCCI.

Phương pháp ước lượng

Nghiên cứu lần lượt áp dụng 3 mô hình dữ liệu bảng: Pooled OLS, tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM). Việc lựa chọn mô hình phù hợp được thực hiện qua kiểm định F (giữa Pooled OLS và FEM) và kiểm định Hausman (giữa FEM và REM). Sau khi xác định mô hình, nghiên cứu kiểm tra các khuyết tật bằng kiểm định Breusch-Pagan (phương sai sai số thay đổi) và kiểm định Wooldridge (tự tương quan). Trường hợp mô hình vi phạm giả định phương sai không đổi, nghiên cứu áp dụng ước lượng sai số chuẩn mạnh theo cụm theo Arellano (1987) và Wooldridge (2002); phương pháp này giữ nguyên hệ số ước lượng nhưng hiệu chỉnh sai số, bảo đảm tính vững của suy diễn thống kê. Toàn bộ tính toán được thực hiện trên phần mềm STATA 26.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thống kê mô tả và kiểm định đa cộng tuyến

Bảng 2 trình bày thống kê mô tả của các biến trong mô hình.

Bảng 2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình

Biến

Số quan sát

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Lớn nhất

Nhỏ nhất

Ln_FDI

210

6,6406

1,3203

9,0676

1,2528

LAPSUP

210

0,5713

0,0465

0,6738

0,4527

Ln_INCOME

210

8,1676

0,4501

9,0238

7,0058

Ln_AGGLO

210

3,8775

1,4117

7,2189

0,0000

INFRA

210

111,2128

19,2052

322,8

85,7

PCI

210

62,9603

4,7191

75,0900

49,7700

Ln_TRS

210

11,1133

1,0846

13,8712

8,8979

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Biến phụ thuộc Ln_FDI có giá trị trung bình 6,64 với độ lệch chuẩn 1,32, dao động từ 1,25-9,07, phản ánh sự chênh lệch lớn về quy mô thu hút vốn giữa các địa phương. Mức độ tập trung kinh tế (Ln_AGGLO) biến động mạnh từ 0-7,22, cho thấy khoảng cách rõ rệt về số dự án giữa các tỉnh dẫn đầu và các tỉnh mới nổi. Chỉ số PCI trung bình đạt 62,96, biến động từ 49,77-75,09; trong khi hạ tầng công nghiệp (INFRA) có độ phân tán lớn nhất (độ lệch chuẩn 19,21, cực đại 322,8), phản ánh sự khác biệt đáng kể về năng lực sản xuất công nghiệp giữa các địa phương.

Bảng 3 trình bày ma trận hệ số tương quan giữa các biến kèm hệ số phóng đại phương sai (VIF).

Bảng 3: Ma trận hệ số tương quan và hệ số VIF

Ln_FDI

LAPSUP

Ln_INCOME

Ln_AGGLO

INFRA

PCI

Ln_TRS

VIF

Ln_FDI

1

LAPSUP

-0,3565

1

3,93

Ln_INCOME

0,6238

-0,4459

1

3,51

Ln_AGGLO

0,7492

-0,2235

0,5321

1

2,42

INFRA

0,0196

0,1530

-0,2284

-0,0798

1

1,12

PCI

0,3719

-0,4259

0,6560

0,2013

-0,0598

1

2,39

Ln_TRS

0,6558

-0,4794

0,7132

0,7375

-0,2370

0,3850

1

1,43

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Hệ số tương quan cao nhất giữa các cặp biến là 0,7492 (giữa Ln_AGGLO và Ln_FDI), thấp hơn ngưỡng 0,8 theo Farrar và Glauber (1967). Kết hợp kiểm định VIF cho giá trị lớn nhất 3,93 < 5 (Gujarati và Porter, 2009), có thể khẳng định mô hình không gặp hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng và không cần loại bỏ biến nào trước khi ước lượng.

Lựa chọn và kiểm định mô hình

Kiểm định F giữa Pooled OLS và FEM cho kết quả F(14,159) = 4,48 với p = 0,0000 < 0,05, dẫn tới bác bỏ giả thuyết H0 và lựa chọn FEM. Tiếp đó, kiểm định Hausman cho χ² = 8,01 với p = 0,2373 > 0,05, cho thấy không có tương quan giữa sai số cá thể và các biến giải thích, do đó mô hình REM phù hợp hơn FEM. Kiểm định Breusch-Pagan cho χ² = 30,27 (p = 0,0000) xác nhận mô hình gặp hiện tượng phương sai sai số thay đổi; trong khi kiểm định Wooldridge cho p = 0,1480 > 0,05, cho thấy không tồn tại tự tương quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu ước lượng lại REM với sai số chuẩn mạnh theo cụm nhằm khắc phục phương sai thay đổi. Kết quả cuối cùng được trình bày ở Bảng 4.

Bảng 4: Kết quả ước lượng mô hình REM với sai số chuẩn mạnh theo cụm

Biến độc lập

Hệ số

Thống kê z

Ý nghĩa

LAPSUP

-5,6524

-1,84

*

Ln_INCOME

0,9876

2,74

**

Ln_AGGLO

0,5677

3,62

***

INFRA

0,0099

8,22

***

PCI

-0,0236

-1,30

ns

Ln_TRS

-0,0520

-0,22

ns

Hằng số

0,5262

0,21

ns

N =195; Wald χ² = 203,31; Prob > χ² = 0,0000; R² = 0,6518

Ghi chú: * p < 0,10; ** p<0,01; *** p<0,001; ns: không có ý nghĩa thống kê.

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

Thảo luận kết quả

Mô hình có ý nghĩa thống kê tổng thể (Prob > χ² = 0,0000) và giải thích được 65,18% biến thiên của thu hút FDI thế hệ mới (R² = 0,6518).

Mức độ tập trung kinh tế (Ln_AGGLO): Biến này có hệ số dương lớn nhất (0,5677) và ý nghĩa cao nhất (mức 0,1%), ủng hộ mạnh giả thuyết H3. Khi số dự án đầu tư tăng 1%, thu hút FDI thế hệ mới tăng bình quân 0,57 %. Kết quả này phù hợp trọn vẹn với Lý thuyết kinh tế không gian của Krugman (1991): mật độ hoạt động kinh tế cao tạo hiệu ứng lan tỏa, sẵn có nguồn lực và giảm chi phí giao dịch, qua đó khuếch đại sức hút. Đây cũng chính là cơ chế lý giải sự trỗi dậy của các cụm công nghiệp như: Bắc Ninh, Bắc Giang hay Thái Nguyên đã phân tích ở trên.

Thu nhập bình quân đầu người (Ln_INCOME). Hệ số dương (0,9876) và có ý nghĩa ở mức 1%, ủng hộ giả thuyết H2. Thu nhập tăng phản ánh trình độ phát triển, sự ổn định và tiềm năng dài hạn của địa phương, những tín hiệu đặc biệt quan trọng đối với các dự án công nghệ cao, quy mô lớn đòi hỏi cam kết lâu dài. Phát hiện này thống nhất với Asiedu (2002) về vai trò của GDP bình quân đầu người đối với FDI ở các nước đang phát triển.

Hạ tầng công nghiệp (INFRA): Hệ số dương (0,0099) và có ý nghĩa ở mức 0,1%, ủng hộ giả thuyết H4. Năng lực sản xuất công nghiệp không chỉ đại diện cho hạ tầng vật chất mà còn thể hiện khả năng hỗ trợ chế tạo, lắp ráp và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu – yếu tố mà FDI thế hệ mới đặc biệt coi trọng. Kết quả tương đồng với Wheeler và Mody (1992), đồng thời cho thấy hạ tầng cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả năng lực tích hợp vào mạng lưới sản xuất quốc tế.

Nguồn cung lao động (LAPSUP): Đây là phát hiện đáng chú ý nhất: hệ số âm (-5,6524) và có ý nghĩa ở mức 10%, ủng hộ giả thuyết H1 theo chiều nghịch. Kết quả này gợi ý rằng, ở nhóm địa phương dẫn đầu về thu hút FDI thế hệ mới, nơi dòng vốn ngày càng dịch chuyển sang các lĩnh vực công nghệ cao, tự động hóa và dịch vụ giá trị gia tăng, sự dồi dào của lao động phổ thông không còn là lợi thế cạnh tranh nổi trội như trong mô hình thu hút FDI thâm dụng lao động trước đây. Tuy nhiên, do biến phụ thuộc được đo bằng tổng vốn FDI cấp tỉnh, kết luận này cần được hiểu như một xu hướng đặc trưng của nhóm địa phương nghiên cứu, hơn là bằng chứng trực tiếp về bản chất riêng của dòng vốn FDI thế hệ mới.

Quy mô thị trường (Ln_TRS) và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đều không có ý nghĩa thống kê, tức chưa đủ bằng chứng ủng hộ H5 và H6. Với Ln_TRS, kết quả đi ngược Lý thuyết OLI (Dunning, 1993) về động cơ tìm kiếm thị trường, song hoàn toàn hợp lý khi FDI thế hệ mới tại Việt Nam chủ yếu định hướng xuất khẩu (điện tử, ô tô, cơ khí) nên ít phụ thuộc vào tổng mức bán lẻ nội địa. Với PCI, do đây là chỉ số tổng hợp từ nhiều thành phần quản trị (minh bạch, chi phí thời gian, thiết chế pháp lý…) không phải tất cả đều liên quan trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư công nghệ cao, vốn quan tâm nhiều hơn đến ưu đãi thuế chuyên biệt và nhân lực chất lượng cao nên tác động tổng hợp trở nên mờ nhạt.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Kết luận

Sử dụng dữ liệu bảng của 15 tỉnh/thành phố dẫn đầu giai đoạn 2010-2023 và mô hình REM hiệu chỉnh sai số chuẩn mạnh theo cụm, nghiên cứu đã lượng hóa các nhân tố cấp tỉnh tác động đến thu hút FDI thế hệ mới. Kết quả khẳng định một sự chuyển dịch căn bản trong logic thu hút đầu tư: từ dựa vào lao động giá rẻ và quy mô thị trường nội địa sang tập trung vào năng lực sản xuất, hạ tầng công nghiệp, mức độ tập trung kinh tế và trình độ phát triển của địa phương. Đặc biệt, tác động ngược chiều của nguồn cung lao động phổ thông là bằng chứng thực nghiệm nổi bật cho thấy đặc thù của FDI thế hệ mới so với FDI truyền thống.

Hàm ý chính sách

Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất 5 nhóm hàm ý chính sách cho các địa phương và cơ quan quản lý.

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là yếu tố then chốt đáp ứng yêu cầu của các ngành điện tử, bán dẫn, ô tô, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Các địa phương cần tăng đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp, xây dựng trung tâm đào tạo chuyên sâu, triển khai mô hình “đào tạo kép” kết hợp lý thuyết tại trường và thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác với các tập đoàn FDI lớn như: Samsung, Intel, LG để thiết kế chương trình sát nhu cầu thực tế và cấp học bổng cho các ngành kỹ thuật cao.

Thứ hai, nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế địa phương. Cần đẩy mạnh phát triển các trung tâm kinh tế và tỉnh công nghiệp hóa; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa liên kết với doanh nghiệp FDI để hình thành chuỗi giá trị khép kín, gia tăng giá trị nội địa; phát triển đô thị thông minh và cải thiện dịch vụ công (y tế, giáo dục, giao thông) nhằm tạo môi trường sống hấp dẫn cho lao động và chuyên gia.

Thứ ba, quy hoạch khu công nghiệp theo hướng xanh và tập trung. Việc phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế và cụm sản xuất tập trung sẽ khai thác trực tiếp hiệu ứng tập trung kinh tế - nhân tố có tác động mạnh nhất theo kết quả nghiên cứu. Các khu công nghiệp cần được quy hoạch theo tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, ưu tiên các cụm liên kết ngành và khu chuyên ngành công nghệ cao, đồng thời đơn giản hóa thủ tục và duy trì ưu đãi thuế dài hạn để cạnh tranh với Thái Lan, Indonesia.

Thứ tư, đầu tư mạnh cho hạ tầng công nghiệp và logistics. Cần nâng cấp năng lực sản xuất, ứng dụng công nghệ tiên tiến (tự động hóa, IoT, in 3D); bảo đảm nguồn điện ổn định với tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng cao; phát triển cao tốc, cảng nước sâu (như Lạch Huyện) và trung tâm phân phối hiện đại để giảm chi phí vận chuyển và tăng kết nối với thị trường toàn cầu.

Thứ năm, chọn lọc dự án theo chất lượng và giám sát hiệu quả. Cần xây dựng cơ chế đánh giá, lựa chọn dự án FDI dựa trên tiêu chí đóng góp công nghệ, việc làm chất lượng cao và bảo vệ môi trường, tránh tình trạng “chạy theo số lượng”; đồng thời tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao giá trị gia tăng mà FDI mang lại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu giới hạn ở 15 địa phương dẫn đầu nên tính khái quát cho toàn bộ 63 (nay là các đơn vị hành chính sau sáp nhập) tỉnh/thành còn hạn chế; biến đại diện cho FDI thế hệ mới dựa trên tổng vốn FDI cấp tỉnh mà chưa tách riêng phần vốn công nghệ cao. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mẫu, tách PCI thành các chỉ số thành phần, bổ sung biến vốn con người chất lượng cao và áp dụng các kỹ thuật xử lý nội sinh (như GMM hệ thống) để củng cố tính vững của kết luận.

Tài liệu tham khảo:

1. Asiedu, E. (2002). On the Determinants of Foreign Direct Investment to Developing Countries: Is Africa Different? World Development, 30(1), 107-119. https://doi.org/10.1016/S0305-750X(01)00100-0

2. Bộ Chính trị (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

3. Dunning, J. H. (1993). Multinational Enterprises and the Global Economy. Wokingham: Addison-Wesley.

4. Epaphra, M. & Massawe, J. (2017). The Effect of Corruption on Foreign Direct Investment: A Panel Data Study. Turkish Economic Review, 4(1), 19-54. https://ideas.repec.org/a/ksp/journ2/v4y2017i1p19-54.html

5. Gujarati, D. N. & Porter, D. C. (2009). Basic Econometrics (5th ed.). New York: McGraw-Hill.

6. Krugman, P. (1991). Increasing Returns and Economic Geography. Journal of Political Economy, 99(3), 483-499. https://doi.org/10.1086/261763

7. Lê Thanh Hà (2023). Factors Affecting the Attraction of Foreign Direct Investment in Hanoi - Vietnam. Business and Economic Research, 13(4), 168-175. https://doi.org/10.5296/ber.v13i4.21521

8. Meyer, K. E. & Nguyen, H. V. (2005). Foreign Investment Strategies and Sub-national Institutions in Emerging Markets: Evidence from Vietnam. Journal of Management Studies, 42(1), 63-93. https://doi.org/10.1111/j.1467-6486.2005.00489.x

9. Ngô Thanh Phú và Nguyễn Hồng Hà (2025). Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI: Nghiên cứu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. https://kinhtevadubao.vn/cac-nhan-to-anh-huong-den-thu-hut-von-fdi-nghien-cuu-tai-vung-dong-bang-song-cuu-long-31126.html

10. Nguyen Phuong Le, Luu Van Duy & Vasa, L. (2021). Effect of Provincial Competitiveness Index on Enterprise Attraction in the Central Highlands, Vietnam. PLOS ONE, 16(9), e0256525. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0256525

11. Nguyễn Quốc Việt, Chu Thị Nhường, Trần Thị Giáng Quỳnh & Phạm Thị Hiền (2014). Đánh giá tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh tới khả năng thu hút FDI vào các địa phương tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội - Kinh tế và Kinh doanh, 30(1), 53-62. https://js.vnu.edu.vn/EAB

12. OECD (1996). Benchmark Definition of Foreign Direct Investment, 3rd Edition. Paris.

13. Stratton, S.J. (2021) Population Research: Convenience Sampling Strategies. Cambridge University Press, Cambridge. https://doi.org/10.1017/S1049023X21000649

14. Tổng cục Thống kê (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024.

15. UNCTAD (2025). World Investment Report 2025. Geneva: United Nations Conference on Trade and Development. https://unctad.org/publication/world-investment-report-2025

16. VCCI & USAID (2024). Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2023. https://pcivietnam.vn

17. Wheeler, D. & Mody, A. (1992). International Investment Location Decisions: The Case of U.S. Firms. Journal of International Economics, 33(1-2), 57-76. https://doi.org/10.1016/0022-1996(92)90050-T

Ngày nhận bài: 4/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/8/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026

Các tin khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ thu tiền bình quân của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết tại Việt Nam

Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng chuyển hóa doanh thu thành dòng tiền của doanh nghiệp xây dựng. Trong bối cảnh rủi ro khoản phải thu gia tăng, nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến DSO của doanh nghiệp kỹ thuật xây dựng niêm yết tại Việt Nam, qua đó hỗ trợ kiểm soát dòng tiền và giảm áp lực tài trợ vốn lưu động.
Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Tác động của chất lượng dịch vụ bán hàng phát trực tiếp đến hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Các nghiên cứu marketing trực tuyến gần đây chỉ ra rằng chất lượng của các dịch vụ bán hàng phát trực tiếp (livestream) trên các nền tảng thương mại điện tử có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định mua hàng của một bộ phận lớn khách hàng trực tuyến. Hành vi mua hàng này được thúc đẩy bởi một loạt các cơ chế phát trực tiếp chất lượng cao được tạo ra bởi các công ty bán hàng trực tuyến trên các nền tảng thương mại điện tử hiện nay.
Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Phân khúc khách hàng thương mại điện tử bằng mô hình học máy không giám sát K-means kết hợp RFM nhằm tối ưu chiến lược marketing số

Việc thấu hiểu nhu cầu và đặc điểm của khách hàng là yếu tố quan trọng, giúp doanh nghiệp triển khai các chiến lược tiếp thị cá nhân hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ. Phân khúc khách hàng được xem là một trong những phương pháp phân tích thị trường quan trọng, cho phép phân chia tập khách hàng thành các nhóm có những đặc điểm và hành vi tương đồng.
Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt

Vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt trong ổn định và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp định hướng thị trường: Minh chứng từ Công ty Cổ phần Hòa Việt

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh doanh bền vững và thực hiện các cam kết SDGs, Net Zero đến năm 2050, yêu cầu tái cấu trúc các chuỗi giá trị nông nghiệp theo hướng liên kết, tích hợp và định hướng thị trường ngày càng trở nên cấp thiết.
Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Cơ cấu thu ngân sách nhà nước và vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế ngoài nhà nước

Trong sự vận động của kinh tế vĩ mô, thu ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là nguồn lực tài chính cho chi tiêu công, mà còn là một "phong vũ biểu" nhạy cảm, phản ánh trực tiếp sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp và hiệu quả của các chính sách điều hành tài khóa.
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn TP. Đồng Nai

Nghiên cứu kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học tại Đồng Nai, làm cơ sở khoa học để các nhà quản lý và các cơ sở giáo dục hoạch định giải pháp thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp hiệu quả.
Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam

Độ tin cậy logistics và ý định tiếp tục tham gia thương mại điện tử xuyên biên giới của SMEs Việt Nam: Bằng chứng từ chuỗi cung ứng Trung Quốc -Việt Nam

Thương mại điện tử xuyên biên giới ngày càng trở thành một kênh quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường với chi phí gia nhập thấp.
Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến

Thiết kế thang đo nghiên cứu mối quan hệ giữa đánh giá đáng tin cậy trực tuyến và hành vi mua sắm trực tuyến

Sự phát triển của thương mại điện tử đã làm thay đổi hành vi mua sắm của người tiêu dùng và đặt ra yêu cầu nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định mua hàng trong môi trường số.
Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Tổng quan năng lực chuyển đổi số và phát triển bền vững logistic/chuỗi cung ứng bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, logistics đã trở thành ngành dịch vụ nền tảng kết nối sản xuất, lưu thông, thương mại điện tử và xuất nhập khẩu.
​​​​​​​Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh

​​​​​​​Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc sử dụng thông tin kế toán có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định quản trị của hộ kinh doanh. Nghiên cứu làm rõ mức độ sử dụng, các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác thông tin kế toán của hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh.