Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 17:30 | 26/05/2026
Nghiên cứu xác định các nhân tố tài chính và vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết, cung cấp bằng chứng thực nghiệm để đề xuất hàm ý quản trị phù hợp cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Nguyễn Thị Thùy Linh

Trường Kinh tế tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một

PGS. TS. Trần Ngọc Hùng (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

PGS. TS. Nguyễn Văn Chiến

Trường Kinh tế tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một

Tóm tắt

Nghiên cứu nhận diện và lượng hóa các yếu tố quyết định thanh khoản ngắn hạn của 15 doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2018-2025, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng 120 quan sát. Quy trình ước lượng theo trình tự Pooled OLS - FEM - REM - FGLS; các kiểm định chẩn đoán xác nhận phương sai sai số thay đổi và tự tương quan bậc nhất, buộc phải sử dụng FGLS làm kết quả chính thức. Kết quả hồi quy FGLS cho thấy, Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và Vốn lưu động thuần tác động cùng chiều có ý nghĩa đến Hệ số thanh toán hiện hành, trong khi Đòn bẩy tài chính là nhân tố cản trở thanh khoản mạnh nhất. Quy mô doanh nghiệp, Khả năng sinh lợi, Vòng quay vốn lưu động và Lạm phát không có ý nghĩa thống kê; hệ số của Khả năng sinh lợi và Lạm phát mang dấu trái chiều so với kỳ vọng ban đầu, phản ánh đặc thù tái đầu tư và biên độ lạm phát hẹp trong giai đoạn nghiên cứu. Kết quả cung cấp gợi ý thực tiễn cho nhà quản trị của doanh nghiệp thực phẩm niêm yết.

Từ khóa: Khả năng thanh toán, doanh nghiệp thực phẩm niêm yết, dữ liệu bảng, Việt Nam

Abstract

This study identifies and quantifies the determinants of short-term liquidity for 15 food companies listed on the Ho Chi Minh Stock Exchange (HOSE) during 2018-2025, yielding a balanced panel dataset of 120 observations. The estimation procedure followed the sequence of Pooled OLS, FEM, REM, and FGLS. Diagnostic tests confirmed heteroskedasticity and first-order autocorrelation, requiring the use of FGLS as the final estimation method. The FGLS regression results indicate that the proportion of current assets and net working capital has a significant positive impact on the current ratio, while financial leverage is the strongest factor hindering liquidity. Firm size, profitability, working capital turnover, and inflation are statistically insignificant. The coefficients of profitability and inflation exhibit signs opposite to the initial expectations, reflecting the characteristics of reinvestment behavior and the narrow inflation range during the study period. The findings provide practical implications for financial managers of listed food enterprises.

Keywords: Liquidity, listed food enterprises, panel data, Viet Nam

GIỚI THIỆU

Trong hệ thống chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp, thanh khoản giữ vị trí trung tâm bởi nó phản chiếu tức thời năng lực thực hiện cam kết tài chính mà không cần bán tháo tài sản hay huy động vốn khẩn cấp. Đối với các công ty niêm yết, mức thanh khoản còn gắn liền với xếp hạng tín nhiệm, chi phí huy động vốn trên thị trường và kỳ vọng của cổ đông. Khi môi trường kinh doanh đặc trưng bởi sức ép chi phí đầu vào tăng cao, chuỗi cung ứng bất ổn và lãi suất biến động, duy trì một vùng đệm thanh khoản đủ mạnh trở thành bài toán sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào có tham vọng tăng trưởng dài hạn.

Ngành thực phẩm mang đặc thù cấu trúc vốn lưu động phức tạp với chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài do hàng tồn kho lớn và thời hạn thu tiền bán hàng kéo dài, trong khi nghĩa vụ thanh toán cho nhà cung cấp nguyên liệu thường có áp lực cao. Điều này tạo ra “vùng mỏng” về thanh khoản ngay cả ở những doanh nghiệp đang tăng trưởng doanh thu mạnh. Thực tiễn thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn gần đây ghi nhận nhiều trường hợp doanh nghiệp thực phẩm niêm yết chịu căng thẳng dòng tiền nghiêm trọng, điển hình là Angimex với hệ số thanh toán hiện hành (CR) rơi xuống mức 0,12 và tỷ lệ nợ vượt quá tổng tài sản vào năm 2025, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhận diện và đo lường các nhân tố chi phối khả năng thanh toán của nhóm doanh nghiệp này.

Mặc dù các nghiên cứu về thanh khoản doanh nghiệp tại Việt Nam ngày càng phong phú, song các công trình hiện có phần lớn tiếp cận ở góc độ liên ngành hoặc tập trung vào lĩnh vực xây dựng, bất động sản và vận tải biển (Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Nam Tài, 2018). Bằng chứng thực nghiệm riêng cho nhóm doanh nghiệp thực phẩm niêm yết vẫn còn khan hiếm. Ngoài ra, chuỗi số liệu 2018-2025 bao gồm 3 sự kiện kinh tế quan trọng: đại dịch COVID-19, làn sóng tăng giá nguyên liệu đầu vào toàn cầu và chu kỳ thắt chặt tiền tệ, làm thay đổi đáng kể hành vi tài chính doanh nghiệp và đòi hỏi cần kiểm định lại mô hình bằng dữ liệu cập nhật.

Nghiên cứu này hướng đến 2 mục tiêu chính: (1) xác định các nhân tố tài chính và vĩ mô ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết; (2) cung cấp bằng chứng thực nghiệm để đề xuất hàm ý quản trị phù hợp cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Từ góc nhìn Lý thuyết tài chính doanh nghiệp, thanh khoản thể hiện sự cân bằng giữa tài sản có thể chuyển hóa thành tiền mặt và các cam kết tài chính đáo hạn trong ngắn hạn. Brigham và Ehrhardt (2017) tiếp cận thanh khoản như một thước đo tổng hợp phản ánh đồng thời rủi ro tài chính ngắn hạn và dài hạn; Kieso và cộng sự (2018) nhấn mạnh rằng, chính tỷ lệ tài sản thanh khoản trong cơ cấu bảng cân đối kế toán quyết định khả năng thực thi nghĩa vụ nợ đúng hạn.

Nghiên cứu này dựa trên 3 lý thuyết nền tảng:

Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Modigliani và Miller, 1963) lập luận rằng khi tỷ lệ nợ vượt ngưỡng tối ưu, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ tích lũy và bào mòn năng lực thanh toán;

Lý thuyết trật tự phân hạng (Myers và Majluf, 1984) dự đoán xu hướng tích lũy vốn lưu động từ lợi nhuận giữ lại, qua đó củng cố vị thế thanh khoản;

Lý thuyết quản trị vốn lưu động (Deloof, 2003; Almeida và cộng sự, 2004) chỉ ra rằng cấu trúc tài sản ngắn hạn và hiệu quả chu kỳ chuyển đổi tiền mặt vận hành trực tiếp trạng thái thanh khoản.

Giả thuyết nghiên cứu

Quy mô doanh nghiệp (SIZE)

Doanh nghiệp có quy mô lớn hơn gắn liền với uy tín tín dụng cao hơn, khả năng đàm phán điều khoản vay ưu đãi và danh mục nguồn vốn đa dạng, tạo điều kiện nâng cao thanh khoản. Gill và Mathur (2011) xác nhận mối quan hệ thuận chiều này trên mẫu doanh nghiệp dịch vụ Canada; Trần Văn Hải (2021) ghi nhận kết quả tương tự trên dữ liệu doanh nghiệp niêm yết Việt Nam. Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:

H1: Quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến Khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết.

Cấu trúc tài sản (AS)

Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản phản ánh mức độ thanh khoản tiềm năng của bảng cân đối. Theo Lý thuyết quản trị vốn lưu động, doanh nghiệp giữ nhiều tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong chu kỳ ngắn sẽ có biên độ an toàn rộng hơn trước các nghĩa vụ nợ ngắn hạn (Deloof, 2003). Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Nam Tài (2018) xác nhận tác động dương này trên mẫu doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết Việt Nam. Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:

H2: Cấu trúc tài sản có tác động cùng chiều đến Khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết.

Đòn bẩy tài chính (DR)

Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản đo lường mức độ phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài. Khi đòn bẩy tăng, doanh nghiệp phải dành phần dòng tiền ngày càng lớn hơn cho nghĩa vụ trả gốc và lãi định kỳ, co hẹp khoảng trống ứng phó thanh khoản (Ross và cộng sự, 2019). Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn chỉ ra rằng vượt qua ngưỡng nợ tối ưu sẽ khuếch đại chi phí kiệt quệ tài chính và làm suy yếu thêm vị thế thanh khoản, điều đã được chứng minh thực nghiệm bởi Opler và cộng sự (1999) cũng như Isshaq và Bokpin (2009). Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:

H3: Đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến Khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết.

Khả năng sinh lợi (ROA)

Theo Lý thuyết trật tự phân hạng, doanh nghiệp có lợi nhuận ổn định ưu tiên tái tài trợ từ nguồn nội bộ, tích lũy dự trữ tài sản ngắn hạn và củng cố vị thế thanh khoản. Ở cấp độ vận hành, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận sẽ bổ sung trực tiếp vào tiền và tương đương tiền, giúp doanh nghiệp sẵn sàng đáp ứng nghĩa vụ nợ khi đến hạn (Brigham và Ehrhardt, 2017). Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Nam Tài (2018) xác nhận tác động dương của ROA đến thanh khoản trên mẫu doanh nghiệp thực phẩm và doanh nghiệp niêm yết Việt Nam. Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:

H4: Khả năng sinh lợi có tác động cùng chiều đến Khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết.

Vốn lưu động thuần (NWC)

NWC phản ánh phần dư tài sản có thể chuyển hóa thành tiền sau khi trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn. Dù giữa CR và NWC có quan hệ đại số trực tiếp, song ở góc độ kinh tế, NWC lớn đóng vai trò như tấm đệm hấp thụ cú sốc thanh khoản, đặc biệt khi nghĩa vụ nợ đến hạn đột ngột (Almeida và cộng sự, 2004; Nguyễn Đình Thiên, 2014). Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:

H5: Vốn lưu động thuần có tác động cùng chiều đến Khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết.

Vòng quay vốn lưu động (WC_TURN)

Chính sách vốn lưu động tinh gọn duy trì vốn lưu động thuần thấp để tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn sẽ đẩy vòng quay vốn lưu động lên cao. Tuy nhiên, NWC nhỏ đồng nghĩa với CR thấp, tức đệm thanh khoản mỏng và doanh nghiệp dễ tổn thương hơn trước các cú sốc dòng tiền. Nói cách khác, WC_TURN cao phản ánh việc thiếu hụt dự trữ tài sản ngắn hạn, dẫn đến giảm CR. Deloof (2003) xác nhận mối quan hệ nghịch chiều này giữa WC_TURN và CR trên mẫu doanh nghiệp sản xuất. Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:

H6: Vòng quay vốn lưu động có tác động ngược chiều đến Khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết.

Lạm phát (INF)

Lạm phát tác động đến thanh khoản qua 2 kênh. Kênh chi phí chỉ ra rằng lạm phát cao làm tăng chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí lãi vay, làm suy giảm dòng tiền hoạt động và khả năng thanh toán (Kieschnick và cộng sự, 2013). Ngược lại, kênh phòng thủ chỉ ra rằng, trong môi trường lạm phát, doanh nghiệp thực phẩm có xu hướng tích trữ hàng tồn kho để phòng ngừa, làm tăng tài sản ngắn hạn và đẩy CR lên trong ngắn hạn. Từ đó, giả thuyết được đưa ra như sau:

H7: Lạm phát có tác động ngược chiều đến Khả năng thanh toán của doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân bằng thu thập từ 15 công ty thực phẩm niêm yết liên tục trên HOSE giai đoạn 2018-2025, cho tổng cộng 120 quan sát năm - công ty. Mẫu bao gồm các doanh nghiệp lớn (Vinamilk, Masan, Sabeco, Habeco, Minh Phú, KIDO) và các doanh nghiệp vừa (Sao Ta, Nafoods, Vissan, Angimex). Nguồn dữ liệu tài chính chính được trích xuất từ báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm, được đối chiếu và bổ sung qua cơ sở dữ liệu FiinPro và trang thông tin chính thức của từng doanh nghiệp. Số liệu lạm phát được thu thập từ Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê).

Mô hình nghiên cứu được thiết lập như sau:

CR_it = β₀ + β₁SIZE_it + β₂AS_it + β₃DR_it + β₄ROA_it + β₅NWC_it + β₆WC_TURN_it + β₇INF_t + ε_it

Trong đó, các biến được mô tả chi tiết tại Bảng 1.

Bảng 1: Mô tả biến và kỳ vọng dấu

Biến

Đo lường

Kỳ vọng dấu

Cơ sở lý thuyết

CR

Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn

-

Biến phụ thuộc

SIZE

Ln (Tổng tài sản)

+

Lợi thế tiếp cận vốn

AS

Tài sản ngắn hạn/Tổng tài sản

+

Lý thuyết quản trị vốn lưu động

DR

Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản

Lý thuyết đánh đổi

ROA

Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản

+

Lý thuyết trật tự phân hạng

NWC

Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn

+

Lý thuyết quản trị vốn lưu động

WC_TURN

Doanh thu thuần/Vốn lưu động

-

Lý thuyết quản trị vốn lưu động

INF

Tỷ lệ lạm phát hằng năm (%)

-

Kênh chi phí đầu vào và vốn

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước

Quy trình ước lượng thiết kế theo 4 bước: Pooled OLS làm nền tảng so sánh; FEM và REM kiểm soát hiệu ứng riêng theo doanh nghiệp. Lựa chọn mô hình dựa trên kiểm định F (Baltagi, 2005), kiểm định Breusch-Pagan LM (Breusch và Pagan, 1980) và kiểm định Hausman (1978). Nhằm giải quyết triệt để các khuyết tật của dữ liệu bảng (phương sai sai số thay đổi và tự tương quan), mô hình ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) được áp dụng để đưa ra kết quả kết luận cuối cùng (Greene, 2012).

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thống kê mô tả

Kết quả thống kê mô tả tại Bảng 2 cho thấy, hệ số thanh toán hiện hành (CR) trung bình của mẫu là 1,748 > 1, hàm ý rằng xét trung bình các doanh nghiệp vẫn đảm bảo được khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, khoảng biến thiên rất rộng, từ 0,118 (Angimex, 2025) đến 4,039 (Vinacafé Biên Hòa, 2022) phản ánh sự phân hóa sâu sắc giữa doanh nghiệp mạnh và doanh nghiệp đang gặp khó khăn tài chính nghiêm trọng. Tỷ trọng tài sản ngắn hạn (AS) bình quân đạt 0,624, phù hợp với đặc thù ngành thực phẩm cần duy trì hàng tồn kho và khoản phải thu lớn. Tỷ lệ nợ (DR) bình quân là 0,471, nhưng Angimex có DR = 1,364 cho thấy nợ vượt quá tổng tài sản. Khả năng sinh lời (ROA) bình quân đạt 7,51% nhưng có doanh nghiệp lỗ nặng (ROA = -0,251). Đặc biệt, vòng quay vốn lưu động (WC_TURN) có độ lệch chuẩn (27,40) lớn hơn nhiều so với trung bình (0,85) và xuất hiện giá trị âm tới -275,24 khi vốn lưu động thuần (NWC) âm (Dabaco, 2023), cảnh báo sớm về vấn đề kỹ thuật của biến này trong hồi quy.

Bảng 2: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu

Biến

Số quan sát

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Nhỏ nhất

Lớn nhất

CR

120

1,7480

0,7122

0,1178

4,0388

SIZE

120

29,5736

1,3289

27,0376

31,7269

AS

120

0,6238

0,1602

0,1596

0,8473

DR

120

0,4711

0,1853

0,2052

1,3644

ROA

120

0,0751

0,0868

−0,2506

0,3382

NWC

120

2,84E+12

5,74E+12

−1,76E+13

1,91E+13

WC_TURN

120

0,8466

27,4040

−275,24

33,25

INF

120

3,0800

0,5277

1,84

3,63

Nguồn: Tác giả tính toán từ Stata 17 (2026)

Tương quan và kiểm định đa cộng tuyến

Kết quả tương quan Pearson (Bảng 3) cho thấy, DR có tương quan nghịch mạnh nhất với CR (r = -0,830*), tiếp theo là AS (r = +0,631*), ROA (r = +0,565*) và NWC (r = +0,516*), phù hợp với kỳ vọng lý thuyết của H2, H3, H4, H5. WC_TURN có tương quan dương với CR (r = +0,135, không có ý nghĩa), thấp hơn nhiều so với dự báo lý thuyết; điều này phản ánh một phần tác động của các giá trị ngoại lai trong biến này. INF có tương quan âm rất yếu (r = -0,053). Kiểm định VIF cho thấy giá trị cao nhất là 2,31 (biến DR) và trung bình VIF = 1,61, khẳng định mô hình không gặp vấn đề đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Bảng 3: Tương quan với biến phụ thuộc và hệ số VIF

Biến

Tương quan với CR

VIF

Nhận xét

SIZE

−0,1183

1,50

Không có ý nghĩa

AS

0,6314*

1,83

Tác động thuận sơ bộ

DR

−0,8303*

2,31

Tác động nghịch mạnh nhất

ROA

0,5650*

1,93

Tác động thuận sơ bộ

NWC

0,5162*

1,63

Tác động thuận sơ bộ

WC_TURN

0,1349

1,08

Tương quan yếu, dương

INF

−0,0533

1,02

Tương quan rất yếu

Ghi chú: * mức ý nghĩa 5%.

Nguồn: Tác giả tính toán từ Stata 17 (2026)

Lựa chọn mô hình và kiểm định khuyết tật

Kết quả Bảng 4 với kiểm định F cho F(14,98) = 6,13 (p = 0,000), bác bỏ Pooled OLS ủng hộ FEM. Kiểm định Breusch-Pagan LM cho chibar2(01) = 35,39 (p = 0,000), bác bỏ Pooled OLS ủng hộ REM. Kiểm định Hausman cho chi2(6) = 10,52 (p = 0,104, không đủ cơ sở bác bỏ H0, REM được chọn. Tuy nhiên, Modified Wald test phát hiện phương sai sai số thay đổi (chi2 = 843,85; p = 0,000) và Wooldridge test phát hiện tự tương quan bậc nhất (F = 17,022; p = 0,001). Do cả 2 khuyết tật đều tồn tại, FGLS được sử dụng làm mô hình kết luận.

Bảng 4: Kết quả lựa chọn mô hình và kiểm định khuyết tật

Kiểm định

Giá trị thống kê

p-value

Kết luận

F (FEM so với OLS)

F(14,98) = 6,13

0,000

Bác bỏ OLS, ủng hộ FEM

Breusch-Pagan LM (REM so với OLS)

chibar2(01) = 35,39

0,000

Bác bỏ OLS, ủng hộ REM

Hausman (FEM so với REM)

chi2(6) = 10,52

0,104

Chọn REM

Modified Wald (phương sai thay đổi)

chi2(15) = 843,85

0,000

Có phương sai thay đổi

Wooldridge (tự tương quan)

F(1,14) = 17,022

0,001

Có tự tương quan bậc 1

Nguồn: Tác giả tính toán từ Stata 17 (2026)

Kết quả hồi quy FGLS và thảo luận

Bảng 5: Kết quả hồi quy FGLS

Biến

Hệ số

Sai số chuẩn

z

|z|

Kết luận

SIZE

-0,0467

0,0358

-1,30

0,192

Không có ý nghĩa

AS

1,4607

0,2561

5,70

0,000***

Tác động dương ✓

DR

-2,1140

0,2358

-8,96

0,000***

Tác động âm ✓

ROA

-0,1627

0,4317

-0,38

0,706

Không có ý nghĩa

NWC

1,55E-14

6,33E-15

2,45

0,014**

Tác động dương ✓

WC_TURN

-0,00016

0,00029

-0,54

0,590

Không có ý nghĩa

INF

0,0263

0,0221

1,19

0,233

Không có ý nghĩa

Hằng số

2,9976

1,1145

2,69

0,007***

Có ý nghĩa

Ghi chú: *** p < 0,001; ** p < 0,05.

Nguồn: Tác giả tính toán từ Stata 17 (2026)

Kết quả hồi quy FGLS (Bảng 5) và tổng hợp kiểm định giả thuyết (Bảng 6) cho thấy, AS (H2 chấp nhận): β = 1,461 (z = 5,70; p < 0,001). Mỗi điểm phần trăm tăng thêm trong tỷ trọng tài sản ngắn hạn làm cải thiện đáng kể hệ số thanh toán hiện hành - cơ sở tài sản có thể chuyển hóa thành tiền mặt nhanh hơn sẽ tạo ra khả năng đáp ứng nợ ngắn hạn cao hơn, nhất quán với Brigham và Ehrhardt (2017) và Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Nam Tài (2018).

DR (H3 chấp nhận): β = -2,114 (z = -8,96; p < 0,001) - biến có cường độ tác động lớn nhất trong mô hình. Mỗi đơn vị tăng thêm trong tỷ lệ nợ làm CR giảm hơn 2 đơn vị, phản ánh cơ chế nghĩa vụ trả gốc và lãi định kỳ liên tục co hẹp biên độ an toàn thanh khoản. Angimex với DR = 1,364 và CR = 0,118 là minh chứng cực đoan nhất trong mẫu. Kết quả tương thích với Opler và cộng sự (1999), Isshaq và Bokpin (2009).

NWC (H5 chấp nhận): β = 1,55E-14 (z = 2,45; p = 0,014). Hệ số nhỏ theo giá trị tuyệt đối phản ánh đơn vị VND quy mô lớn; ý nghĩa kinh tế rõ ràng: mỗi nghìn tỷ đồng NWC tăng thêm làm CR cải thiện khoảng 0,016 đơn vị. NWC dương hoạt động như tấm đệm hấp thụ cú sốc thanh khoản, nhất quán với Almeida và cộng sự (2004), Nguyễn Đình Thiên (2014).

SIZE (H1 bác bỏ): β = -0,047 (p = 0,192). Dấu âm đi ngược kỳ vọng (+), dù không có ý nghĩa thống kê. Trong nhóm doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên HOSE - vốn đã có sự đồng nhất tương đối về quy mô - lợi thế tiếp cận tín dụng theo quy mô chưa tạo ra sự khác biệt đủ lớn về thanh khoản. Ngược lại, một số doanh nghiệp quy mô lớn như Masan tăng trưởng mạnh bằng đòn bẩy cao, triệt tiêu lợi thế quy mô về mặt thanh khoản.

ROA (H4 bác bỏ): β = -0,163 (p = 0,706). Đây là phát hiện đáng chú ý nhất về chiều dấu: hệ số âm đi ngược kỳ vọng dương (+). Lý giải phù hợp với đặc thù ngành thực phẩm: doanh nghiệp có ROA cao thường đang trong giai đoạn mở rộng tích cực - tái đầu tư vào hàng tồn kho và công suất sản xuất tiêu thụ đáng kể tài sản ngắn hạn và kéo CR xuống. Ngoài ra, lợi nhuận kế toán và dòng tiền thực tế không luôn song hành khi doanh thu ghi nhận trước khi thu tiền. Mặc dù không đủ ngưỡng ý nghĩa thống kê, song chiều dấu âm quan sát được cần được kiểm định thêm với dữ liệu dòng tiền trực tiếp thay cho ROA kế toán.

WC_TURN (H6 bác bỏ): β = -0,00016 (p = 0,590). Chiều âm phù hợp với kỳ vọng lý thuyết, nhưng không đạt ý nghĩa thống kê. Nguyên nhân kỹ thuật chính là WC_TURN có độ biến thiên cực lớn (độ lệch chuẩn = 27,40, trung bình = 0,85) do nhiều quan sát có NWC âm, đặc biệt Dabaco năm 2023 với WC_TURN = -275,24. Khi mẫu số (NWC) tiệm cận 0 hoặc đổi dấu, tỷ số WC_TURN mất ý nghĩa kinh tế và trở thành giá trị ngoại lai làm suy yếu ước lượng.

INF (H7 bác bỏ): β = +0,026 (p = 0,233). Hệ số dương đi ngược kỳ vọng âm (-). Lạm phát trong giai đoạn 2018-2025 của Việt Nam dao động rất hẹp (1,84%-3,63%) - biên độ quá nhỏ để kênh chi phí tạo ra tác động đáng kể. Đồng thời, trong biên độ lạm phát vừa phải, doanh nghiệp thực phẩm có xu hướng tích trữ nguyên liệu phòng ngừa giá, đẩy tài sản ngắn hạn tăng và CR dương, giải thích cho hệ số dương quan sát được. Tác động âm dự báo bởi lý thuyết sẽ rõ ràng hơn trong giai đoạn lạm phát cao bất thường.

Bảng 6: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết

Giả thuyết

Nội dung

Kết quả FGLS

Dấu thực tế

Kết luận

H1

SIZE → CR (+)

p = 0,192

- (trái chiều)

Bác bỏ

H2

AS → CR (+)

p = 0,000***

+ (đúng chiều)

Chấp nhận

H3

DR → CR (-)

p = 0,000***

- (đúng chiều)

Chấp nhận

H4

ROA → CR (+)

p = 0,706

- (trái chiều)

Bác bỏ

H5

NWC → CR (+)

p = 0,014**

+ (đúng chiều)

Chấp nhận

H6

WC_TURN → CR (-)

p = 0,590

- (đúng chiều)

Bác bỏ

H7

INF → CR (-)

p = 0,233

+ (trái chiều)

Bác bỏ

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Stata 17 (2026)

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố quyết định thanh khoản ngắn hạn của doanh nghiệp thực phẩm niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2018-2025. Thông qua ước lượng FGLS trên dữ liệu bảng cân bằng, nghiên cứu xác định 3 nhân tố có tác động thống kê có ý nghĩa đến hệ số thanh toán hiện hành gồm: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn, Đòn bẩy tài chính và Vốn lưu động thuần. Đây là bộ 3 yếu tố nội sinh phản ánh chiến lược quản trị cấu trúc tài chính và vốn lưu động - không phụ thuộc vào quy mô hay điều kiện vĩ mô trong bối cảnh nghiên cứu. Quy mô doanh nghiệp, Khả năng sinh lợi, Vòng quay vốn lưu động và Lạm phát không đạt ngưỡng ý nghĩa thống kê; hệ số của Khả năng sinh lợi và Lạm phát mang dấu trái chiều so với kỳ vọng ban đầu, phản ánh đặc thù tái đầu tư và biên độ lạm phát hẹp trong giai đoạn nghiên cứu.

Hàm ý quản trị

Nhà quản trị doanh nghiệp cần ưu tiên kiểm soát tốc độ tăng trưởng nợ vay ngắn hạn, duy trì tỷ trọng tài sản ngắn hạn đủ lớn và xây dựng kế hoạch dòng tiền để vốn lưu động thuần luôn dương. Đối với nhà đầu tư và tổ chức tín dụng, cần ưu tiên đánh giá cấu trúc tài sản và mức đòn bẩy thay vì khả năng sinh lợi hay quy mô. Đối với cơ quan quản lý, cần thúc đẩy minh bạch thông tin về cơ cấu nợ ngắn hạn theo kỳ đáo hạn nhắm giúp nhận diện sớm rủi ro thanh khoản tiềm ẩn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu còn một số hạn chế: mẫu chỉ gồm 15 công ty trên HOSE; chưa tích hợp biến Quản trị công ty hay Dòng tiền thực tế; WC_TURN cần xử lý winsorize để cải thiện ổn định ước lượng. Các nghiên cứu trong tương lai có thể theo hướng: mở rộng mẫu sang HNX và UpCom, bổ sung biến Quản trị công ty và Tương tác ngành con, ứng dụng hồi quy phân vị, sử dụng dữ liệu tần suất quý để nắm bắt động học thanh khoản theo mùa vụ.

Tài liệu tham khảo:

1. Almeida, H., Campello, M., & Weisbach, M. S. (2004). The cash flow sensitivity of cash. The Journal of Finance, 59(4), 1777-1804.

2. Baltagi, B. H. (2005). Econometric analysis of panel data (3rd ed.). John Wiley & Sons.

3. Breusch, T. S., & Pagan, A. R. (1980). The Lagrange multiplier test and its applications to model specification in econometrics. The Review of Economic Studies, 47(1), 239-253.

4. Brigham, E. F., & Ehrhardt, M. C. (2017). Financial management: Theory and practice (15th ed.). Cengage Learning.

5. Deloof, M. (2003). Does working capital management affect profitability of Belgian firms?. Journal of Business Finance & Accounting, 30(3-4), 573-588.

6. Gill, A., & Mathur, N. (2011). The effect of board size, CEO duality, and corporate liquidity on the profitability of Canadian service firms. Journal of Applied Finance & Banking, 1(3), 83-95.

7. Greene, W. H. (2012). Econometric analysis (7th ed.). Pearson.

8. Hausman, J. A. (1978). Specification tests in econometrics. Econometrica, 46(6), 1251-1271.

9. Isshaq, Z., & Bokpin, G. A. (2009). Corporate liquidity management of listed firms in Ghana. Asia-Pacific Journal of Business Administration, 1(2), 189-198.

10. Kieschnick, R., Laplante, M., & Moussawi, R. (2013). Working capital management and shareholders' wealth. Review of Finance, 17(5), 1827-1852.

11. Kieso, D. E., Weygandt, J. J., & Warfield, T. D. (2018). Intermediate accounting (17th ed.). Wiley.

12. Modigliani, F., & Miller, M. H. (1963). Corporate income taxes and the cost of capital: A correction. The American Economic Review, 53(3), 433-443.

13. Myers, S. C., & Majluf, N. S. (1984). Corporate financing and investment decisions when firms have information that investors do not have. Journal of Financial Economics, 13(2), 187-221.

14. Nguyễn Đình Thiên (2014). Quản trị vốn lưu động và hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 200, 45-51.

15. Opler, T., Pinkowitz, L., Stulz, R., & Williamson, R. (1999). The determinants and implications of corporate cash holdings. Journal of Financial Economics, 52(1), 3-46.

16. Ross, S. A., Westerfield, R. W., & Jordan, B. D. (2019). Fundamentals of corporate finance (13th ed.). McGraw-Hill Education.

17. Trần Mạnh Dũng, Nguyễn Nam Tài (2018). Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các công ty chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, 196(9), 46-56.

18. Trần Văn Hải (2021). Vòng quay vốn lưu động và rủi ro thanh khoản doanh nghiệp niêm yết. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 18, 64-67.

Ngày nhận bài: 28/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 6/5/2026; Ngày duyệt đăng: 24/5/2026

Các tin khác

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở TP. Hà Nội: Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, việc phát triển kinh tế gắn với xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Vai trò của kế toán quản trị trong xây dựng chiến lược định giá bán sản phẩm tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là doanh nghiệp dệt may, chiến lược định giá bán không chỉ quyết định khả năng tiêu thụ sản phẩm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, vị thế cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực số không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế số và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Kinh tế số - Động lực thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

Vùng Trung Bộ và Tây Nguyên có không gian kinh tế rộng, cơ cấu ngành đa dạng với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng như: công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, kinh tế số và khu vực kinh tế tư nhân tại nhiều địa phương trong Vùng đã có những bước phát triển tích cực.
Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Vai trò hai mặt của nhà đầu tư tổ chức đối với tính ổn định của thị trường chứng khoán Việt Nam

Với lợi thế về quy mô vốn, năng lực phân tích và quản trị rủi ro, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ hưu trí và các định chế đầu tư chuyên nghiệp nắm giữ tỷ trọng ngày càng lớn trên thị trường chứng khoán, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và phản ánh mức độ phát triển của thị trường tài chính.
Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Thực trạng chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ tài chính đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ tài chính ngân hàng toàn cầu. Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Kinh nghiệm quản trị nhà nước của Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng gia tăng, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trở thành một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo tại tỉnh An Giang

Du lịch biển đảo là một bộ phận quan trọng của kinh tế du lịch và kinh tế biển, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua lưu trú, vận tải, ẩm thực, vui chơi giải trí, thương mại, dịch vụ sáng tạo và tiêu dùng văn hóa.
Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai

Trong những năm gần đây, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ tiếp tục được cụ thể hóa và hoàn thiện. Đặc biệt, trong lĩnh vực lâm nghiệp, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng.
Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm ngành logistics tại Việt Nam

Chuyển đổi số thông qua việc áp dụng hệ thống quản trị kho bãi, quản lý vận tải, định vị tự động và dữ liệu lớn… được xem là giải pháp mang tính chiến lược để các doanh nghiệp logistics cắt giảm chi phí và tăng cường năng lực cạnh tranh.