Mô hình nghiên cứu mối quan hệ phi tuyến tính giữa khả năng thanh toán và hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Nghiên cứu - Trao đổi 14:16 | 15/06/2026
Thông qua tổng quan từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu đề xuất mô hình mối quan hệ phi tuyến tính giữa khả năng thanh toán và hiệu quả tài chính.

ThS. Nguyễn Thị Hồng

Trường Kinh tế tài chính, Trường Đại học Thủ Dầu Một

Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi doanh nghiệp phải hài hòa giữa mục tiêu đảm bảo khả năng thanh toán và khả năng tạo lợi nhuận doanh nghiệp. Thông qua tổng quan từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu đề xuất mô hình mối quan hệ phi tuyến tính giữa khả năng thanh toán và hiệu quả tài chính, với biến phụ thuộc là Hiệu quả tài chính doanh nghiệp, được đo lường thông qua Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản hoặc Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu; các biến độc lập bao gồm: Khả năng thanh toán hiện hành, Khả năng xảy ra phi tuyến tính; Hệ số nợ, Tài sản cố định, Tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp, Quy mô của doanh nghiệp và Tuổi của doanh nghiệp.

Từ khóa: Thanh khoản, hiệu quả tài chính, phi tuyến tính.

Abstract

In the context of increasing international economic integration, intensifying competition requires firms to balance the objectives of maintaining liquidity and ensuring profitability. Based on a review of domestic and international studies, the study proposes a nonlinear relationship model between liquidity and financial performance, where the dependent variable is corporate financial performance, measured by Return on Assets (ROA) or Return on Equity (ROE). The independent variables include the Current ratio, Nonlinear effect, Debt ratio, Fixed assets, Firm revenue growth, Firm size, and Firm age.

Keywords: Liquidity, financial performance, non-linearity

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi doanh nghiệp phải đạt được hiệu quả cao nhằm có thể tồn tại và phát triển trong môi trường kinh tế vĩ mô có nhiều biến động và rủi ro. Việc doanh nghiệp đạt hiệu quả, đặc biệt là hiệu quả tài chính giúp tạo nền tảng tích lũy tài sản, vốn đầu tư, mở rộng phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh và từ đó tạo phát triển bền vững. Hiệu quả tài chính không chỉ phản ánh lợi nhuận tạo ra từ sử dụng nguồn lực đầu vào mà còn thể hiện ở khả năng quản trị nguồn vốn, hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn nhân lực. Trong đó, khả năng thanh toán được xem là một trong các chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ an toàn về mặt tài chính và khả năng đáp ứng các khoản nợ, đặc biệt là khoản nợ ngắn hạn phải được đảm bào từ tài sản có tính thanh khoản cao có khả năng sẵn sàng thanh toán. Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt đồng thời tạo niềm tin cho các đối tác, ngân hàng, người lao động, và xa hơn là cổ đông, nhà đầu tư.

Tuy vậy, việc doanh nghiệp nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản cao có thể dẫn tới nguồn lực sử dụng cho đầu tư dài hạn bị hạn chế và không đảm bảo khả năng tạo lợi nhuận cũng như sự phát triển về mặt dài hạn. Ngược lại, khi khả năng thanh toán thấp, doanh nghiệp đầu tư quá nhiều dẫn tới không còn đủ tài sản có khả năng thanh khoản tốt, có thể dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh khoản và rơi vào rủi ro, suy thoái. Điều này cho thấy, hiệu quả tài chính doanh nghiệp có thể tăng lên khi khả năng thanh toán đạt được mức độ hợp lý, nhưng sẽ giảm xuống khi khả năng thanh toán vượt quá mức tối ưu.

Các nghiên cứu của Khoza (2025), Wu và cộng sự (2023), Nguyen và cộng sự (2024), Nguyen và Dao (2022) cho rằng, luôn tồn tại mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và hiệu quả tài chính. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu làm rõ khả năng xảy ra mối quan hệ tuyến tính. Do đó, nghiên cứu rõ hơn mối quan hệ này cho các doanh nghiệp tại Việt Nam là bằng chứng cung cấp quan trọng cho các hoạt động quản trị tại doanh nghiệp, vừa đảm bảo khả năng thanh toán, vừa đảm bảo khả năng tạo lợi nhuận.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Đã có một số nghiên cứu phân tích sự tác động giữa khả năng thanh toán và hiệu quả tài chính. Đặc biệt, bối cảnh các thách thức về quản trị tài chính đòi hỏi phải tối đa hóa sử dụng nguồn lực nhằm đạt được hiệu quả tài chính cao, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư, cổ đông.

Sử dụng bộ dữ liệu lớn từ khu vực Trung Đông và Bắc Phi, nghiên cứu của Farooq và Bouaich (2012) cho rằng, có mối quan hệ tích cực đáng kể giữa khả năng thanh toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa, tồn tại mức độ bất đối xứng thông tin cao hơn ở khu vực này, khiến những người tham gia thị trường phải đối mặt với rủi ro quá mức, và từ đó có thể cung cấp cơ hội giảm thiểu rủi ro. Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối quan hệ này mạnh mẽ hơn ở các quốc gia có cơ chế bảo vệ nhà đầu tư yếu hơn.

Nguyen và Dao (2022) nghiên cứu mối liên hệ giữa khả năng thanh toán, quản trị doanh nghiệp và hiệu quả công ty, được đo lường thông qua giá trị công ty bằng cách áp dụng phương pháp phân tích tổng hợp. Sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cả 2 yếu tố thanh khoản thấp (chênh lệch lãi suất và thanh khoản Amihud) có thể làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động của công ty, trong khi mối liên hệ giữa quản trị doanh nghiệp và giá trị công ty là tích cực đáng kể thông qua 3 trong 4 yếu tố (chỉ số quản trị doanh nghiệp, quy mô hội đồng quản trị và quyền sở hữu của tổ chức). Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho rằng, tồn tại tính không đồng nhất trong cả mối quan hệ giữa thanh toán và giá trị công ty cũng như giữa quản trị doanh nghiệp và giá trị công ty.

Wu và cộng sự (2023) đã xem xét mối liên hệ giữa khả năng thanh toán, cấu trúc vốn và tính bền vững tài chính của 28 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Ghana trong giai đoạn 2008-2019. Trong nghiên cứu này, Khả năng thanh toán được đo lường bằng tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành, trong khi tỷ lệ nợ được sử dụng như một chỉ số thay thế cho cấu trúc vốn. Ngoài ra, Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được sử dụng như một thước đo tính bền vững. Kết quả cho thấy, khả năng thanh toán có khả năng cải thiện tính bền vững tài chính của các doanh nghiệp; cấu trúc vốn được đo lường bằng tỷ lệ nợ thúc đẩy tính bền vững tài chính của các doanh nghiệp; sự tương tác giữa cấu trúc vốn và khả năng thanh toán thúc đẩy tính bền vững tài chính của các doanh nghiệp. Dựa trên các phát hiện này, nghiên cứu khuyến nghị, nên duy trì mức thanh khoản tối ưu có khả năng đảm bảo khả năng thanh khoản cho doanh nghiệp. Hơn nữa, doanh nghiệp nên sử dụng nhiều nguồn vốn nội bộ hơn để hỗ trợ các hoạt động của mình nhằm đảm bảo an toàn hơn so với các lựa chọn khác.

Airout và cộng sự (2023) nghiên cứu vai trò điều tiết của khả năng thanh toán trong mối quan hệ giữa chi phí kế toán và quảng cáo với hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Jordan. Kết quả cho thấy, chi phí kế toán là yếu tố then chốt đối với hiệu quả tài chính, đặc biệt là ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hơn nữa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhạy cảm hơn với những thách thức về thanh toán, điều này tác động đáng kể đến chi tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ ra tác động tiêu cực liên quan đến mối quan hệ giữa chi phí quảng cáo và hiệu quả tài chính.

Nghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2024) làm rõ xu hướng và mức độ tác động của khả năng thanh toán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đến lợi nhuận thông qua dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 100 công ty niêm yết hàng đầu Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định tác động tích cực của khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp đến lợi nhuận. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tác động tiêu cực đáng kể giữa đòn bẩy tài chính và lợi nhuận.

Bakhtiari và Magnani (2025) sử dụng dữ liệu bảng về các doanh nghiệp tại Úc, nhằm xem xét cách thức thanh khoản tài chính và các hạn chế tài chính ảnh hưởng đến cả hiệu quả doanh nghiệp, đo lường bằng việc làm được tạo ra và cơ cấu các loại hình việc làm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hạn chế tài chính kìm hãm tăng trưởng doanh nghiệp. Thanh khoản tài chính thúc đẩy tăng trưởng tại các doanh nghiệp, với tác động rõ rệt hơn ở các công ty trẻ. Hơn nữa, thanh khoản có lợi cho việc mở rộng ở các doanh nghiệp đang gặp hạn chế tài chính do tốc độ tăng trưởng nhanh. Điều này cho thấy rằng các quốc gia nên thực hiện biện pháp can thiệp tài chính có mục tiêu để có thể giúp giảm thiểu rủi ro trong thời kỳ suy thoái kinh tế.

Nghiên cứu của Khoza (2025) cho rằng, tính thanh khoản và đòn bẩy là chỉ tiêu tài chính rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tài chính, trong đó cả lĩnh vực hàng tiêu dùng. Thông qua mẫu gồm 13 công ty hàng tiêu dùng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Johannesburg (JSE) giai đoạn 2014-2024, nghiên cứu sử dụng Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) làm thước đo cho biến phụ thuộc Hiệu quả tài chính, các biến độc lập được sử dụng trong nghiên cứu này là Khả năng thanh toán (LIQ), Đòn bẩy (LEV). Kết quả nghiên cứu cho thấy có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê của Khả năng thanh toán lên ROA. Hơn nữa, tác động của đòn bẩy là tiêu cực và không có ý nghĩa thống kê lên ROA. Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả khẳng định, để cải thiện hiệu quả hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, các nhà quản lý tài chính của các doanh nghiệp nên chú trọng đến việc duy trì và giám sát tỷ lệ thanh khoản lành mạnh và thực hiện quản lý vốn lưu động hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng, mặc dù mức đòn bẩy vừa phải có thể không làm tăng hiệu quả tài chính, nhưng việc tăng nợ một cách chiến lược đến một mức tối ưu nhất định có thể cải thiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH HỒI QUY

Từ các nghiên cứu được tổng quan từ trong và ngoài nước, đặc biệt là nghiên cứu của Khoza (2025), Wu và cộng sự (2023), Nguyen và cộng sự (2024), Nguyen và Dao (2022), tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa biến phụ thuộc là Hiệu quả tài chính doanh nghiệp (FP) được đo lường thông qua Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) hoặc Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE); các biến độc lập bao gồm: Khả năng thanh toán hiện hành (CR), Khả năng xảy ra phi tuyến tính (CR2); Hệ số nợ (LEV), Tài sản cố định (LEV), Tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp (GROWTH) và Quy mô của doanh nghiệp (SIZE), Tuổi của doanh nghiệp (AGE).

Phương trình hồi quy được trình bày như sau:

FP = a0 + a1* CR + a2* CR2 + a3* LEV + a4* FIXED + a5* GROWTH + a6* SIZE + a7* AGE + a8

Trong đó: a0 là tung độ gốc; ai là các hệ số ước lượng ( i = 1-7); a8 là phần dư.

Nghiên cứu thu thập dữ liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm các doanh nghiệp trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng phân tích dữ liệu bảng theo OLS, FEM và REM. Nghiên cứu sử dụng kiểm định F và Hausman nhằm lựa chọn mô hình tốt nhất giữa OLS, FEM và REM, đồng thời kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi. Trong trường hợp có hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi, nghiên cứu thực hiện hồi quy FGLS.

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

Trong môi trường kinh tế vĩ mô biến động, để có thể đảm bảo khả năng cạnh tranh và sinh lời, doanh nghiệp phải hài hòa giữa khả năng đảm bảo khả năng thanh toán và khả năng tạo lợi nhuận. Nghiên cứu đã đề xuất mô hình hồi quy mối quan hệ phi tuyến tính giữa khả năng thanh toán và hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Theo đó, mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm: Biến phụ thuộc là Hiệu quả tài chính doanh nghiệp, được đo lường thông qua Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản hoặc Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu; Biến độc lập bao gồm: Khả năng thanh toán hiện hành, Khả năng xảy ra phi tuyến tính; Hệ số nợ, Tài sản cố định, Tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp và Quy mô của doanh nghiệp, Tuổi của doanh nghiệp.

Từ mô hình đề xuất này, nghiên cứu trong tương lai sẽ thực hiện thu thập dữ liệu từ doanh nghiệp niêm yết nhằm làm rõ mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và hiệu quả tài chính; đồng thời phân tích mối quan hệ này nhằm đối chiếu sự khác biệt giữa các nhóm ngành sản xuất, thương mại dịch vụ, bán lẻ, công nghệ và các ngành khác. Nghiên cứu tương lai cũng có thể so sánh mối quan hệ này giữa Việt Nam và một số quốc gia trong Đông Nam Á, nhằm làm rõ sự khác biệt mang tính chất quốc gia có ảnh hưởng đến mối quan hệ này.

Tài liệu tham khảo:

1. Airout, R. M., Alawaqleh, Q. A., Almasria, N. A., Alduais, F., & Alawaqleh, S. Q. (2023). The Moderating Role of Liquidity in the Relationship between the Expenditures and Financial Performance of SMEs: Evidence from Jordan. Economies, 11(4), 121. https://doi.org/10.3390/economies11040121

2. Bakhtiari, S., & Magnani, E. (2025). Firms’ liquidity and employment decisions: Evidence from Australia. International Review of Economics & Finance, 103, 104531. https://doi.org/https://doi.org/10.1016/j.iref.2025.104531

3. Farooq, O., & Bouaich, F. Z. (2012). Liquidity and firm performance: evidence from the MENA region. International Journal of Business Governance and Ethics, 7(2), 139-152. https://doi.org/10.1504/IJBGE.2012.047539

4. Khoza, F. (2025). The Impact of Liquidity and Leverage on the Financial Performance of the Johannesburg Stock Exchange-Listed Consumer Goods Firms. Journal of Risk and Financial Management, 18(9), 510. https://doi.org/10.3390/jrfm18090510

5. Nguyen, T. T. C., Hong Le, A. T., & Nguyen, C. V. (2024). The Impact of Liquidity and Corporate Efficiency on Profitability. Emerging Science Journal, 8(1), 180-191. https://doi.org/10.28991/ESJ-2024-08-01-013

6. Nguyen, N. P. A., & Dao, T. T. B. (2022). Liquidity, corporate governance and firm performance: A meta-analysis. Cogent Business & Management, 9(1). https://doi.org/10.1080/23311975.2022.2137960

7. Wu, N., Zhao, J., Musah, M., Ma, Z., Zhang, L., Zhou, Y., Su, Y., Agyemang, J. K., Asiamah, J. A., Cao, S., Yao, L., & Li, K. (2023). Do Liquidity and Capital Structure Predict Firms’ Financial Sustainability? A Panel Data Analysis on Quoted Non-Financial Establishments in Ghana. Sustainability, 15(3), 2240. https://doi.org/10.3390/su15032240

Ngày nhận bài: 4/4/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 7/6/2026; Ngày duyệt đăng: 15/6/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán PayPal của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Đồng Nai

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán PayPal của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. Đồng Nai

Kinh tế số và thương mại điện tử phát triển thúc đẩy nhu cầu thanh toán điện tử, trong đó PayPal giữ vai trò đáng chú ý trong giao dịch trực tuyến và xuyên biên giới.
Xu hướng nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy việc duy trì sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh: Phân tích trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị

Xu hướng nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy việc duy trì sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh: Phân tích trắc lượng thư mục và hàm ý quản trị

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative Artificial Intelligence - GenAI), đặc biệt từ khi ChatGPT ra đời vào cuối năm 2022, đã thúc đẩy ứng dụng công nghệ này trong nhiều lĩnh vực như: giáo dục, kinh doanh, y tế, du lịch và dịch vụ.
Đào tạo liên ngành trong các chương trình marketing bậc đại học: Từ tích hợp học phần đến phát triển năng lực

Đào tạo liên ngành trong các chương trình marketing bậc đại học: Từ tích hợp học phần đến phát triển năng lực

3 chương trình đào tạo được triển khai tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT), gồm: Marketing hệ đại trà, Marketing chất lượng cao định hướng marketing số và Quan hệ công chúng, tạo thành một trường hợp phù hợp để xem xét thực tiễn đào tạo liên ngành bậc cử nhân.
Tác động của văn hóa học tập tổ chức theo cảm nhận của nhân viên đến hiệu suất thích ứng của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số

Tác động của văn hóa học tập tổ chức theo cảm nhận của nhân viên đến hiệu suất thích ứng của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số

Chuyển đổi số không chỉ là việc áp dụng các công nghệ số riêng lẻ hay số hóa quy trình hiện có, mà còn là quá trình tái cấu trúc phương thức vận hành, cơ chế phối hợp, quy trình ra quyết định và cách thức tạo ra giá trị.
Chuyển đổi số trong quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số trong quản lý tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Thực trạng và hàm ý chính sách

Chuyển đổi số góp phần hiện đại hóa quản lý tài sản công, nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng và minh bạch hóa thông tin tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
Phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi xanh ở Việt Nam: Thực trạng, điểm nghẽn và hàm ý chính sách

Phát triển nguồn nhân lực cho chuyển đổi xanh ở Việt Nam: Thực trạng, điểm nghẽn và hàm ý chính sách

Chuyển đổi xanh không chỉ tạo ra ngành nghề mới mà còn làm thay đổi nội dung công việc và yêu cầu năng lực của nhiều nghề hiện hữu. Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam trước yêu cầu chuyển đổi xanh, từ đó nhận diện các điểm nghẽn và đề xuất hàm ý chính sách phát triển nguồn nhân lực xanh.
Tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ gia đình và giải pháp phục hồi bền vững tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

Tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ gia đình và giải pháp phục hồi bền vững tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

Xã Tràng Định được thành lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở sắp xếp 3 xã Đề Thám, Hùng Sơn và Hùng Việt của huyện Tràng Định cũ. Xã Tràng Định hiện có 11.846,01 ha, 12 thôn bản, 2.595 hộ với 11.276 nhân khẩu; người Tày và người Nùng chiếm đa số.
Giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp

Giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp

Chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng của đổi mới quản trị và phát triển kinh tế - xã hội. Trong khu vực công, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn gắn liền với đổi mới quy trình, phương thức quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ công nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn

Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn

Độ trễ và sự bất định tại biên giới làm gia tăng chi phí giao dịch, qua đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa. Hiệu quả cải cách cửa khẩu vì thế cần được đánh giá bằng thời gian xử lý và độ ổn định của toàn bộ quá trình vận chuyển, giao nhận, thay vì chỉ dựa vào số lượng thiết bị được đầu tư.
Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á

Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, chính sách tài khóa của một quốc gia không chỉ tạo ra tác động trong phạm vi nội địa mà còn có khả năng ảnh hưởng đến các nền kinh tế khác