Tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ gia đình và giải pháp phục hồi bền vững tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Nguyễn Thị Thu
Viện Dân tộc học và Tôn giáo học
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích tác động của thu hồi đất cho dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh đến sinh kế hộ gia đình tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Kết hợp tài liệu thứ cấp cấp xã với tư liệu thực địa tại xã Tràng Định, trên nền Khung sinh kế bền vững và Lý thuyết kinh tế tiểu nông, nghiên cứu cho thấy, việc thu hồi đất tác động trực tiếp đến hộ gia đình trên các khía cạnh: suy giảm khả năng tự túc lương thực; thay đổi cơ cấu lao động; thay đổi không gian cư trú và quan hệ xã hội do quá trình tái định cư và tổn thất sinh kế lâu dài từ đất rừng. Do đặc thù tự nhiên của địa phương, nguồn tiền đền bù không được người dân tái đầu tư vào đất sản xuất như ở một số nơi khác, mà được chuyển hóa theo các chiến lược sinh kế riêng biệt. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phục hồi sinh kế của các hộ gia đình.
Từ khóa: Thu hồi đất, sinh kế bền vững, vốn tài chính, phân hóa hộ gia đình, cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh
Abstract
This study examines the impact of land acquisition for the Dong Dang-Tra Linh Expressway project on household livelihoods in Trang Dinh Commune, Lang Son Province. Drawing on commune-level secondary data and fieldwork materials collected in Trang Dinh Commune, and based on the Sustainable Livelihoods Framework and Peasant Economy Theory, the study finds that land acquisition directly affects households in several respects: reduced food self-sufficiency, changes in labor structure, changes in residential spaces and social relationships due to resettlement, and long-term livelihood losses associated with forest land. Owing to the locality’s specific natural conditions, compensation payments are not reinvested in agricultural land, as observed in some other areas, but are instead converted into distinct livelihood strategies by residents. On this basis, the study proposes several solutions to restore household livelihoods.
Keywords: Land acquisition, sustainable livelihoods, financial capital, household differentiation, Dong Dang-Tra Linh Expressway
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã Tràng Định được thành lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở sắp xếp 3 xã Đề Thám, Hùng Sơn và Hùng Việt của huyện Tràng Định cũ. Xã Tràng Định hiện có 11.846,01 ha, 12 thôn bản, 2.595 hộ với 11.276 nhân khẩu; người Tày và người Nùng chiếm đa số. Thu nhập bình quân năm 2025 là 39,5 triệu đồng/người; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo là 7,25%. Đất nông nghiệp chiếm 93,22% diện tích tự nhiên, nhưng phần lớn là rừng, và trong 7.937,56 ha rừng sản xuất chỉ 33,6% do hộ gia đình sử dụng. Tính trên phần đất hộ thực sự canh tác, mỗi người có khoảng 0,35 ha đất nông nghiệp, trong đó chỉ khoảng 408 m² đất chuyên trồng lúa. Hệ số sử dụng đất lúa đã ở mức khoảng 1,8 vụ/năm, nên không còn quỹ đất nông nghiệp dự phòng vụ để bù cho phần đất mất (UBND xã Tràng Định, 2026b).
Tuyến cao tốc Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Trà Lĩnh (Cao Bằng) giai đoạn 1 dài khoảng 93,35 km, sử dụng khoảng 572,77 ha đất, tổng mức đầu tư 14.331,618 tỷ đồng theo hình thức đối tác công tư. Đoạn qua xã Tràng Định dài 14,86 km, khoảng 15,9% chiều dài toàn tuyến, nhưng chiếm 156,42 ha, xấp xỉ 50,1% diện tích đất dự án thuộc tỉnh Lạng Sơn (UBND xã Tràng Định, 2026a). Dự án này đi qua những dải thung lũng nơi người dân cấy lúa, dựng nhà và đặt mộ tổ tiên, ảnh hưởng rất lớn tới sinh kế của người dân địa phương.
Nghiên cứu trả lời 3 câu hỏi: thu hồi đất làm đứt gãy những thành phần nào trong sinh kế hộ, và vì sao các đứt gãy ấy khó thấy trong số liệu bình quân; các nhóm hộ thích ứng bằng cơ chế nào, và các cơ chế ấy dẫn đến hội tụ hay phân hóa; chính sách cần thay đổi ở đâu để mục tiêu “cuộc sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ” của Luật Đất đai năm 2024 có nội dung thực chất. Lập luận trung tâm là: ở Tràng Định, thu hồi đất tạo ra một cú sốc tập trung lên 1/4 số hộ, và tiền bồi thường, thay vì san bằng tổn thất, đã làm gia tăng những chênh lệch sẵn có giữa các hộ về lao động, kinh nghiệm thị trường và mức độ chịu rủi ro trước thiên tai.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nghiên cứu sử dụng kết hợp 4 công cụ lý thuyết. Khung sinh kế bền vững (Scoones, 1998; DFID, 1999) mô tả tổn thất theo 5 loại vốn, và buộc người phân tích thấy rằng bồi thường chỉ chuyển vốn tự nhiên thành vốn tài chính, còn các loại vốn khác biến động theo chiều riêng.
Mô hình rủi ro và tái thiết của Cernea (1997) nhận diện các nguy cơ bần cùng hóa khi di dời do phát triển, từ mất đất, mất việc, mất nhà đến mất an ninh lương thực và rạn vỡ cấu trúc xã hội; Cernea và Mathur (2008) lập luận thêm rằng bồi thường, dù đúng giá thị trường, không đủ để ngăn bần cùng hóa.
Lý thuyết kinh tế tiểu nông giải thích hành vi hộ: Chayanov (1986) cho rằng, tương quan giữa số lao động và số miệng ăn chi phối quyết định của hộ; còn Scott (1976) với “đạo lý sinh tồn” chỉ ra rằng, hộ sống sát ngưỡng rủi ro đặt an toàn lên trước lợi nhuận.
Cuối cùng, Bohannan (1959) và Polanyi (1944) cho phép đọc tiền bồi thường như một loại tiền có ý nghĩa xã hội riêng, và vì sao hộ mất ruộng trở nên phụ thuộc hơn vào thị trường.
Tại nghiên cứu này, “đứt gãy sinh kế” chỉ trạng thái một mắt xích trong chiến lược sinh kế của hộ bị cắt đứt và không thể khôi phục bằng cách mua lại trên thị trường. “Cơ chế thích ứng” chỉ cách hộ tái phân bổ các nguồn lực còn lại, kể cả tiền bồi thường, để duy trì sự tồn tại và vị thế của mình.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp từ các báo cáo của UBDN xã từ tháng 12/2025-8/2026 và tư liệu thực địa định tính tại Đề Thám và Nà Noong. Khảo sát thực địa tiến hành phỏng vấn sâu đại diện cán bộ xã, cán bộ thôn và phỏng vấn sâu kết hợp thảo luận nhóm với các hộ gia đình bị ảnh hưởng thu hồi đất. Số liệu thứ cấp cho biết quy mô tổn thất; tư liệu thực địa cho biết hộ xử lý tổn thất ra sao. Mức mất đất bình quân được ước tính bằng tổng diện tích từng loại đất trong quyết định thu hồi chia cho các hộ có quyết định thu hồi, so với quỹ đất bình quân một hộ trong xã. Các trường hợp thực địa được so sánh để nhận diện logic ra quyết định, không nhằm ước lượng tỷ lệ.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Quy mô và hình thái của tổn thất
Theo Công văn số 947/UBND-KT, diện tích bàn giao cho dự án trên địa bàn xã là 149,76 ha (còn 6,66 ha đã hoàn thành kiểm đếm, nhưng chưa hoàn tất thủ tục chuyển giao mặt bằng), trong đó, có khoảng 105,34 ha là đất thuộc quyền sử dụng của 639 hộ gia đình (UBND xã Tràng Định, 2025b). Số liệu này cho thấy, diện tích bị thu hồi chiếm 1,26% diện tích tự nhiên của tòan xã nhưng số hộ bị ảnh hưởng chiếm 24,6% số hộ gia đình trong xã.
Bảng 1: Cơ cấu đất hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư bị thu hồi cho dự án cao tốc tại xã Tràng Định
|
Loại đất |
Diện tích thu hồi (ha) |
Tỉ lệ (%) |
|---|---|---|
|
Đất rừng sản xuất |
75,75 |
71,9 |
|
Đất trồng lúa |
12,10 |
11,5 |
|
Đất trồng cây hằng năm khác |
8,16 |
7,7 |
|
Đất trồng cây lâu năm |
5,38 |
5,1 |
|
Đất ở tại nông thôn |
2,19 |
2,1 |
|
Đất nuôi trồng thủy sản |
1,76 |
1,7 |
Nguồn: UBND xã Tràng Định (2025b)
Xét theo diện tích (Bảng 1), tỷ lệ diện tích rừng bị thu hồi chiếm tỉ lệ lớn, diện tích đất lúa chỉ chiếm hơn 11,5% diện tích thu hồi nhưng là loại đất có giá trị sử dụng cao nhất và khó thay thế nhất.
Năm 2025, tổng diện tích tự nhiên của xã là 11.846,01 ha, trong đó nhóm đất nông nghiệp 11.042,54 ha (93,22%), nhóm đất phi nông nghiệp 790,49 ha (6,67%), đất chưa sử dụng 12,98 ha (0,11%) (UBND xã Tràng Định, 2026a). Trong số đó, diện tích từng loại đất do cá nhân, hộ gia đình sử dụng được phân bố như Bảng 2. Nếu tính diện tích binh ảnh hưởng chia đều cho toàn xã, bình quân đất nông nghiệp do hộ sử dụng chỉ giảm từ 3.547 xuống 3.455 m²/người, tức 2,6%. Số liệu thống kê cho thấy, tác động là không lớn, nhưng nếu tính trên số hộ bị ảnh hưởng thì bình quân những hộ này đã mất khoảng 1/4 quỹ đất nông nghiệp của hộ gia đình. Đối với đất ruộng, phần đất mất là đất bằng, dễ canh tác.
Bảng 2: Bình quân sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình tại xã Tràng Định
|
Loại đất |
Trong đó cá nhân, hộ gia đình sử dụng (ha) |
Bình quân phần hộ sử dụng (m²/người) |
|---|---|---|
|
Đất trồng cây hằng năm |
1.099,33 |
975 |
|
- Đất trồng lúa |
580,82 |
515 |
|
+ Đất chuyên trồng lúa |
459,72 |
408 |
|
+ Đất trồng lúa còn lại |
121,10 |
107 |
|
- Đất trồng cây hằng năm khác |
518,51 |
460 |
|
Đất trồng cây lâu năm |
200,45 |
178 |
|
Đất lâm nghiệp |
2.667,84 |
2.366 |
|
- Rừng phòng hộ |
0 |
0 |
|
- Rừng sản xuất |
2.667,84 |
2.366 |
|
Đất nuôi trồng thủy sản |
31,58 |
28 |
|
Tổng nhóm đất nông nghiệp |
3.999,28 |
3.547 |
Nguồn: UBND xã Tràng Định (2026a)
Các đứt gãy sinh kế do thu hồi đất
Trước dự án, chiến lược sinh kế phổ biến ở xã có thể tóm bằng công thức “ruộng nuôi người, đồi để dành, làm thuê kiếm thêm”. Thu hồi đất tác động vào cả 3 vế của công thức ấy, và vào không gian xã hội nơi nó vận hành.
Đầu tiên là sự đứt gãy về an ninh lương thực tự cung của hộ gia đình. Với khoảng 500 m² đất lúa trên đầu người, ruộng ở Tràng Định là “kho thóc” của gia đình, không phải nguồn tiền mặt. Do không còn quỹ đất nông nghiệp để bồi thường bằng đất, nên mọi trường hợp đều nhận tiền, dù Luật Đất đai năm 2024 ưu tiên bồi thường bằng đất cùng mục đích. Tiền đổi được từ ruộng, nhưng ruộng không mua lại được bằng tiền. Hộ chuyển từ trạng thái “có thóc thì có ăn” sang “có tiền thì có ăn”, một quá trình tiền tệ hóa đời sống theo nghĩa của Polanyi (1944) và trở nên nhạy cảm hơn với giá lương thực và rủi ro mất việc.
Thứ hai, việc mất đất còn làm đứt gãy cấu trúc lao động của hộ gia đình. Ruộng đất là nơi hấp thụ lao động gia đình, nên khi ruộng giảm, lao động dôi dư xuất hiện ngay, trong khi địa bàn không có khu công nghiệp. Thu hồi đất vì thế không chỉ tạo ra xu hướng rời làng, mà còn đẩy nhanh và mở rộng nó, từ thanh niên sang người trung niên.
Thứ ba, quá trình giải tỏa còn kéo theo những đứt gãy sâu sắc về không gian cư trú và quan hệ xã hội. Theo UBND xã Tràng Định (2026b), Khu tái định cư Pác Luồng được quy hoạch 104 lô, nhưng đến tháng 3/2026 xã vẫn phải kiến nghị đôn đốc vì thi công “còn chậm”, và trong năm 2026 mới có 12 hộ được phê duyệt tái định cư đợt 1, trong khi các hộ đã bàn giao mặt bằng. Nguyên tắc khu tái định cư đi trước một bước đã bị đảo ngược.
Cuối cùng, một hệ lụy âm thầm nhưng nghiêm trọng là những tổn thất tích lũy đến muộn từ đất rừng - yếu tố “đồi để dành” trong công thức sinh kế ban đầu. Đồi hồi, quế, keo là hình thức “để dành” của hộ; năm 2025, riêng hoa hồi của xã đã trị giá gần 11,9 tỷ đồng. Bồi thường cây trên đất trả cho giá trị hiện tại của cây, không trả cho khả năng tạo thu nhập của quả đồi qua nhiều chu kỳ, và tổn thất ấy chỉ hiện ra sau 5-10 năm với keo, 15-20 năm với hồi, quế (UBND xã Tràng Định, 2026b).
Cơ chế thích ứng của các nhóm hộ gia đình
Bảng 3: Lựa chọn sử dụng tiền bồi thường và kết quả theo nhóm hộ
|
Nhóm hộ |
Cách sử dụng tiền chủ yếu |
An cư |
Phục hồi thu nhập |
Rủi ro chính |
|---|---|---|---|---|
|
Nhận nhiều tiền, có kinh nghiệm thị trường |
Vốn trang trại, thu mua, dịch vụ |
Tốt |
Cao trong ngắn hạn |
Dịch bệnh, phụ thuộc một đầu ra |
|
Nhận nhiều tiền, thuần nông |
Chia nhỏ cho tiêu dùng, gửi tiết kiệm |
Tốt |
Thấp |
Hết tiền sau vài năm |
|
Hộ nghèo, ít lao động, vùng ngập |
Làm nhà chống lũ, có khi vay thêm |
Rất tốt |
Rất thấp |
Tái nghèo, nợ |
|
Đông lao động thuần nông |
Chi tiêu, sửa nhà, chi phí đi làm xa |
Trung bình |
Phụ thuộc tiền gửi về |
Việc làm bấp bênh |
|
Nhận ít tiền |
Chi tiêu, trả nợ |
Không đổi |
Ít bị ảnh hưởng |
Hộ vốn ít đất mất tỷ lệ lớn |
Nguồn: Kết quả khảo sát
Bảng 3 cho thấy, có sự phân hóa trong sử dụng tiền bồi thường: hộ có vốn, kinh nghiệm và lao động dùng tiền để khá lên; hộ nghèo vùng trũng dùng tiền mua sự an toàn và mất khả năng tái tạo thu nhập. Phần lớn hộ đang ở giai đoạn thử nghiệm sinh kế mới.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỤC HỒI SINH KẾ BỀN VỮNG
Dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh đã thu hồi khoảng 1,3% diện tích tự nhiên, nhưng chạm tới 1/4 số hộ của xã Tràng Định. Nghiên cứu chỉ ra các đứt gãy sinh kế mà tiền bồi thường không hàn gắn được.
Trong khi đó, theo quy định của pháp luật, khung hỗ trợ đã có đủ. Cụ thể, Điều 109 Luật Đất đai năm 2024 và Quyết định số 01/2025/QĐ-UBND của tỉnh Lạng Sơn quy định hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề 3-4 triệu đồng/người/khóa, kinh phí nằm trong vốn dự án (Quốc hội, 2024; UBND tỉnh Lạng Sơn, 2025). Nhưng đến tháng 6/2026, báo cáo của xã không có số liệu nào về người có đất thu hồi được đào tạo hay giới thiệu việc làm. Dự án 1 của Chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số mới hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 3 hộ, Nghị quyết 02/2026/NQ-HĐND về lãi suất trồng rừng mới có 5 hộ đăng ký, còn 100 triệu đồng vốn bình đẳng giới phải điều chuyển vì khó tìm nội dung chi. Hàng trăm hộ vừa mất đất, trong khi có nguồn vốn không tìm được người nhận (UBND xã Tràng Định, 2026b).
Nghịch lý này có 2 nguyên nhân. Chính sách được thiết kế cho cá nhân lao động trẻ tự tìm đến đăng ký, trong khi hộ dễ tổn thương nhất lại thiếu chính người lao động ấy. Còn hệ thống báo cáo đo thành công bằng tiến độ bàn giao mặt bằng: thống kê đất đai năm 2025 vẫn ghi đất giao thông không đổi ở 295,32 ha, rà soát hộ nghèo không có trường “hộ bị thu hồi đất” (UBND xã Tràng Định, 2026a). Hộ sau thu hồi không hiện ra trong sổ sách nào.
Quan điểm của tác giả là công tác thu hồi đất đang được thiết kế và đánh giá như một quá trình kết thúc khi người dân nhận tiền và giao đất, trong khi ở Tràng Định những vấn đề lớn nhất bắt đầu từ chính thời điểm đó. Vì thế, phục hồi sinh kế bền vững cho người dân của xã Tràng Định bị ảnh hưởng bởi Dự án cần tập trung vào những giải pháp sau:
Thứ nhất, cần lập danh sách theo dõi sinh kế các hộ bị thu hồi đất theo nhóm. UBND xã cần trích từ hồ sơ phương án bồi thường một danh sách thống nhất các hộ bị thu hồi đất của mọi dự án, ghi loại đất và tỷ lệ mất, có mất nhà hay không, số tiền nhận, số lao động và người phụ thuộc, phân theo các nhóm ở Bảng 3 và cập nhật hằng năm trong ít nhất 5 năm. Cách ít tốn kém nhất là thêm trường “hộ bị thu hồi đất” vào rà soát hộ nghèo và phiếu thông tin lao động xã đang nhập liệu, đồng thời đưa vào báo cáo dự án các chỉ tiêu đầu ra như số người được đào tạo, có việc làm mới, số hộ rơi vào nghèo.
Thứ hai, để “giữ được vốn” cho người dân, cần tách bạch bài toán an cư khỏi bài toán sinh kế. Hộ nghèo, cận nghèo bị thu hồi đất ở vùng ngập cần được ưu tiên trong chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát và hỗ trợ nhà ở phòng chống thiên tai, với nền hoặc tầng trên mực lũ lịch sử. Phần Nhà nước hỗ trợ nhà ở càng lớn, phần tiền bồi thường hộ giữ lại cho sản xuất càng nhiều; việc này chỉ cần sắp lại thứ tự ưu tiên của các nguồn đã có. Bên cạnh đó, khu tái định cư Pác Luồng cần giao đất trước mùa lũ năm 2027, có mốc và chế tài với đơn vị thi công, kèm phương án di dời khẩn cấp cho từng hộ đang ở lán tạm. Khi phân lô, nên cho họ hàng, láng giềng đăng ký theo cụm thay vì bốc thăm ngẫu nhiên.
Thứ ba, khi nền tảng an cư đã vững, bước tiếp theo để “giúp hộ sinh lời từ vốn” là tiến hành phân tầng hỗ trợ dựa trên cấu trúc lao động của từng hộ. Cụ thể, các gói hỗ trợ ưu tiên và lồng ghép nguồn lực có thể được thiết kế như Bảng 4.
Bảng 4: Đề xuất gói hỗ trợ ưu tiên theo nhóm hộ
|
Nhóm hộ |
Gói hỗ trợ ưu tiên |
Nguồn lực có thể lồng ghép |
|---|---|---|
|
Hộ nghèo, ít lao động, vùng ngập |
Nhà ở an toàn; hỗ trợ ổn định đời sống kéo dài; sinh kế tại nhà quy mô nhỏ; chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng |
CTMTQG giảm nghèo bền vững; CTMTQG vùng DTTS; xóa nhà tạm |
|
Đông lao động thuần nông |
Đào tạo ngắn hạn xây trên kỹ năng nông lâm nghiệp; ưu tiên lao động thời vụ nước ngoài; hỗ trợ gia đình ở lại |
QĐ 01/2025/QĐ-UBND; Quỹ quốc gia về việc làm |
|
Nhận nhiều tiền, có kinh nghiệm thị trường |
An toàn sinh học; bảo hiểm vật nuôi; liên kết nhiều đầu ra qua tổ hợp tác, hợp tác xã |
Khuyến nông, thú y cơ sở, tín dụng ưu đãi |
|
Nhận nhiều tiền, thuần nông |
Tư vấn tài chính hộ khi chi trả; tiết kiệm có kỳ hạn; cảnh báo lừa đảo; đầu tư cho kỹ năng người trẻ |
Ngân hàng Chính sách xã hội; Mặt trận, Hội Phụ nữ |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Thứ tư, thay đổi cách cung cấp thông tin. Theo đó, thay vì thông báo qua loa và chờ đăng ký, văn phòng Trung tâm Dịch vụ việc làm cần cùng trưởng thôn tư vấn cho từng hộ, với các ngành nghề phù hợp với kỹ năng sẵn có của người dân như chăn nuôi, thú y, sơ chế hồi, quế, lái xe…
Song song với các hỗ trợ từ bên ngoài, việc phục hồi vốn tự nhiên còn lại cũng là một giải pháp sinh kế trực tiếp không thể bỏ qua. Phần ruộng còn lại là vốn tự nhiên an toàn của hộ, nên cần giữ để tiếp tụ canh tác. Mương đứt đoạn, rãnh thoát nước bị lấp, lối ra đồng bị cắt cần được lập biên bản và buộc nhà thầu khắc phục; cánh đồng bị chia cắt có thể được dồn đổi thửa theo thỏa thuận của các hộ. Trên ruộng, hướng khả thi là trồng các loại cây có hợp đồng tiêu thụ như: dưa chuột, thông qua tổ hợp tác để không phụ thuộc một đầu mối. Trên đồi, chính sách hỗ trợ lãi suất nên ưu tiên hộ bị thu hồi rừng sản xuất, nhằm bù đắp phần tổn thất.
(*) Nghiên cứu là sản phẩm của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2026: Tác động của thu hồi đất đến sinh kế của người dân tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, do NCV Nguyễn Thị Thu làm chủ nhiệm, Viện Dân tộc học và Tôn giáo học tổ chức chủ trì.
Tài liệu tham khảo:
1. Bohannan, P. (1959). The impact of money on an African subsistence economy. The Journal of Economic History, 19(4), 491-503.
2. Cernea, M. M. (1997). The risks and reconstruction model for resettling displaced populations. World Development, 25(10), 1569-1587. https://doi.org/10.1016/S0305-750X(97)00054-5
3. Cernea, M. M., & Mathur, H. M. (Eds.). (2008). Can compensation prevent impoverishment? Reforming resettlement through investments and benefit-sharing. Oxford University Press.
4. Chayanov, A. V. (1986). The theory of peasant economy (D. Thorner, B. Kerblay, & R. E. F. Smith, Eds.). University of Wisconsin Press.
5. Department for International Development. (1999). Sustainable livelihoods guidance sheets. Department for International Development.
6. HĐND tỉnh Lạng Sơn (2026). Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ lãi suất trồng rừng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
7. Polanyi, K. (1944). The great transformation. Farrar & Rinehart.
8. Quốc hội (2024). Luật Đất đai (Luật số 31/2024/QH15). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Scoones, I. (1998). Sustainable rural livelihoods: A framework for analysis (IDS Working Paper No. 72). Institute of Development Studies.
10. Scott, J. C. (1976). The moral economy of the peasant: Rebellion and subsistence in Southeast Asia. Yale University Press.
11. UBND tỉnh Lạng Sơn (2025). Quyết định số 01/2025/QĐ-UBND quy định mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
12. UBND xã Tràng Định (2025a). Báo cáo số 356/BC-UBND về kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025.
13. UBND xã Tràng Định (2025b). Công văn số 947/UBND-KT về việc cung cấp thông tin về quy hoạch, chỉ tiêu đất giao thông và kết quả bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh.
14. UBND xã Tràng Định (2026a). Báo cáo số 68/BC-UBND về kết quả thống kê đất đai năm 2025.
15. UBND xã Tràng Định (2026b). Báo cáo số 89/BC-UBND về tiến độ giải phóng mặt bằng Dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh theo hình thức PPP.
| Ngày nhận bài: 30/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 30/10/2026 |
Các tin khác
Giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn
Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á
Thực trạng ý định ứng dụng logistics xanh trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam
Định kiến giới và cơ hội thăng tiến được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn: Vai trò trung gian của nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai