Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á
Lê Hiền Lương
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Lê Hồng Thái (tác giả liên hệ)
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích sự phụ thuộc không gian trong chi tiêu công của 34 quốc gia châu Á giai đoạn 2000-2023 bằng các công cụ kinh tế lượng không gian. Ba nhóm chi tiêu được xem xét gồm chi tiêu công chung, chi tiêu cho giáo dục và chi tiêu cho y tế. Kết quả Global Moran’s I cho thấy chi tiêu công chung có tự tương quan không gian dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, trong khi chi tiêu y tế có mức độ phụ thuộc không gian mạnh hơn và có ý nghĩa ở mức 1%. Ngược lại, chưa tìm thấy bằng chứng thống kê về tự tương quan không gian đối với chi tiêu giáo dục. Kết quả nhấn mạnh sự cần thiết phải tính đến yếu tố khu vực trong quản lý chi tiêu công, đặc biệt đối với lĩnh vực y tế, đồng thời tăng cường phối hợp chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Từ khóa: Chính sách tài khóa, chi tiêu công, phụ thuộc không gian, Moran’s I, châu Á.
Abstract
This study examines spatial dependence in public expenditure across 34 Asian countries over the period 2000–2023 using spatial econometric tools. Three expenditure categories are considered: general public expenditure, education expenditure, and health expenditure. The results from Global Moran’s I show that general public expenditure exhibits positive spatial autocorrelation significant at the 10% level, whereas health expenditure displays stronger spatial dependence significant at the 1% level. By contrast, no statistically significant spatial autocorrelation is found for education expenditure. The findings highlight the importance of incorporating regional interdependence into public expenditure management, particularly in the health sector, while strengthening policy coordination and improving the efficiency of public resource allocation.
Keywords: Fiscal policy, public expenditure, spatial dependence, Moran’s I, Asia.
GIỚI THIỆU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, chính sách tài khóa của một quốc gia không chỉ tạo ra tác động trong phạm vi nội địa mà còn có khả năng ảnh hưởng đến các nền kinh tế khác. Các liên kết về thương mại, đầu tư, tài chính và chuỗi cung ứng làm gia tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau, khiến những thay đổi trong chi tiêu công, thuế hoặc vay nợ của chính phủ có thể tạo ra các tác động xuyên biên giới. Vấn đề này đặc biệt đáng chú ý tại châu Á, nơi cùng tồn tại các nền kinh tế phát triển, thị trường mới nổi và các quốc gia đang phát triển với sự khác biệt lớn về quy mô, năng lực tài khóa và cấu trúc thể chế.
Chính sách tài khóa giữ vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, phân bổ nguồn lực và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Theo Musgrave (1959), chính sách tài khóa thực hiện ba chức năng cơ bản gồm phân bổ nguồn lực, tái phân phối thu nhập và ổn định nền kinh tế. Trong đó, chi tiêu công là một trong những công cụ trực tiếp nhất để chính phủ tác động tới tổng cầu, đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Trong một nền kinh tế mở, tác động của những quyết định này có thể lan truyền sang các quốc gia khác thông qua thương mại, đầu tư và các mối liên kết khu vực.
Các nghiên cứu trước đã cung cấp bằng chứng đáng kể về hiệu ứng lan tỏa của chính sách tài khóa. Beetsma, Giuliodori và Klaassen (2006) cho thấy thay đổi chính sách tài khóa tại một quốc gia Liên minh châu Âu có thể tác động tới các đối tác thương mại thông qua kênh cầu.
Tại châu Á, bằng chứng trực tiếp còn hạn chế hơn. Một số nghiên cứu về ASEAN cho thấy các cú sốc tài khóa từ các nền kinh tế trong và ngoài khu vực có thể ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng và lạm phát. Đậu Thị Mai Liên và Yuthana Sethapramote (2019), sử dụng GVAR cho ASEAN-5, cho thấy các cú sốc tài khóa mở rộng có thể tạo tác động tích cực tới GDP thực của các quốc gia trong khu vực; ảnh hưởng từ các nền kinh tế Đông Á, đặc biệt là Trung Quốc, có thể mạnh trong một số trường hợp.
Đối với Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hành vi tài khóa trong phạm vi quốc gia. Lê Thúy Hằng (2021) cho thấy chính sách tài khóa có xu hướng thuận chu kỳ, hàm ý quyết định chi tiêu chịu ảnh hưởng đáng kể từ điều kiện kinh tế trong nước. Trong khi đó, nghiên cứu của Tran và Nguyen (2024) về lan tỏa chính sách tiền tệ tại Đông Nam Á cho thấy chế độ tỷ giá, độ mở thương mại và mức độ mở cửa tài chính có vai trò quan trọng đối với cường độ truyền dẫn chính sách. Mặc dù không trực tiếp phân tích tài khóa, kết quả này củng cố lập luận rằng sự khác biệt cấu trúc giữa các nền kinh tế châu Á có thể dẫn tới mức độ phụ thuộc khu vực khác nhau.
Kinh tế lượng không gian cung cấp một cách tiếp cận phù hợp để xem xét vấn đề này. Thay vì giả định các quốc gia là những đơn vị quan sát độc lập, phương pháp không gian cho phép kiểm định liệu những quốc gia gần nhau có xu hướng duy trì mức chi tiêu tương đồng hay khác biệt một cách có hệ thống. Các công cụ như Global Moran’s I và Local Moran’s I có thể xác định mức độ tự tương quan không gian tổng thể, đồng thời nhận diện các cụm quốc gia có mức chi tiêu cao hoặc thấp tương đối so với môi trường lân cận.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích sự phụ thuộc không gian trong chi tiêu công của 34 quốc gia châu Á giai đoạn 2000–2023 đối với ba nhóm: chi tiêu công chung, chi tiêu giáo dục và chi tiêu y tế. Nghiên cứu hướng tới xác định liệu các mô hình chi tiêu có hình thành cấu trúc không gian đáng kể hay không và nhận diện các cụm không gian đặc trưng. Qua đó, bài viết bổ sung bằng chứng về sự tương đồng và phân hóa trong chính sách chi tiêu công tại châu Á, đồng thời thảo luận các hàm ý chính sách đối với khu vực và Việt Nam.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chính sách tài khóa là một trong những công cụ chủ yếu mà chính phủ sử dụng để tác động đến hoạt động kinh tế thông qua điều chỉnh thu ngân sách và chi tiêu công. Theo Musgrave (1959), chính sách tài khóa thực hiện ba chức năng cơ bản gồm phân bổ nguồn lực, tái phân phối thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô. Thông qua các công cụ thuế, chi tiêu công và quản lý nợ công, chính phủ có thể ảnh hưởng đến tổng cầu, sản lượng, việc làm, phân phối thu nhập và khả năng cung cấp các dịch vụ công thiết yếu.
Trong khuôn khổ kinh tế học Keynes, chi tiêu chính phủ được xem là một công cụ quan trọng để điều tiết tổng cầu và ổn định nền kinh tế, đặc biệt trong các giai đoạn suy giảm tăng trưởng. Khi khu vực tư nhân không tạo ra đủ cầu hoặc đầu tư, việc mở rộng chi tiêu công có thể góp phần hỗ trợ sản lượng và việc làm. Ngược lại, trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng quá nóng hoặc áp lực lạm phát gia tăng, chính phủ có thể sử dụng các biện pháp tài khóa thắt chặt nhằm giảm tổng cầu và hạn chế mất cân đối vĩ mô. Cách tiếp cận này nhấn mạnh vai trò chủ động của Nhà nước trong việc điều chỉnh chu kỳ kinh tế.
Các lý thuyết kinh tế hiện đại mở rộng cách nhìn về chính sách tài khóa theo hướng cân bằng hơn giữa vai trò của Nhà nước và thị trường. Chính sách tài khóa không chỉ có tác động ngắn hạn đến tổng cầu mà còn có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn thông qua đầu tư vào cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế và các lĩnh vực nâng cao năng lực sản xuất. Quan điểm này phù hợp với các mô hình tăng trưởng nội sinh, trong đó chất lượng và cơ cấu chi tiêu công có thể tạo ảnh hưởng lâu dài đến năng suất và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế.
Trong một nền kinh tế mở, tác động của chính sách tài khóa không nhất thiết dừng lại trong phạm vi quốc gia. Khi các nền kinh tế có mức độ liên kết cao về thương mại, đầu tư và tài chính, một thay đổi trong chi tiêu công hoặc thuế tại một quốc gia có thể ảnh hưởng đến các quốc gia khác thông qua nhiều kênh truyền dẫn. Sự gia tăng chi tiêu công có thể làm tăng nhu cầu nhập khẩu và tạo tác động đến sản lượng của các đối tác thương mại; trong khi việc cắt giảm chi tiêu hoặc củng cố tài khóa tại một nền kinh tế lớn có thể làm giảm cầu bên ngoài đối với các quốc gia phụ thuộc vào thị trường đó.
Hiệu ứng lan tỏa tài khóa vì vậy có thể được hiểu là sự truyền dẫn tác động từ chính sách tài khóa của một quốc gia sang các nền kinh tế khác. Mức độ và hướng của hiệu ứng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô nền kinh tế, độ mở thương mại, mức độ hội nhập tài chính, chế độ tỷ giá, cấu trúc sản xuất và trạng thái của chu kỳ kinh tế. Trong khu vực châu Á, nơi các nền kinh tế có mức độ hội nhập ngày càng cao nhưng vẫn tồn tại sự khác biệt lớn về năng lực tài khóa và thể chế, các hiệu ứng lan tỏa có thể mang tính không đồng nhất giữa các quốc gia và các nhóm chi tiêu công.
Bên cạnh các kênh truyền dẫn kinh tế truyền thống, vị trí địa lý cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các mô hình chi tiêu công tương đồng. Các quốc gia nằm gần nhau thường có nhiều đặc điểm chung về điều kiện kinh tế - xã hội, cấu trúc dân số, mô hình phát triển và mức độ hội nhập khu vực. Do đó, nếu các quốc gia lân cận có xu hướng duy trì mức chi tiêu công tương tự, điều này có thể phản ánh sự phụ thuộc không gian trong chính sách tài khóa. Cách tiếp cận kinh tế lượng không gian cho phép kiểm định trực tiếp dạng phụ thuộc này thông qua các chỉ số tự tương quan không gian và phân tích cụm cục bộ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 34 quốc gia châu Á trong giai đoạn 2000–2023. Ba nhóm chi tiêu được xem xét gồm chi tiêu công chung, chi tiêu giáo dục và chi tiêu y tế. Các chỉ tiêu được đo lường theo tỷ lệ phần trăm GDP nhằm hạn chế ảnh hưởng của sự khác biệt về quy mô nền kinh tế và tạo điều kiện so sánh giữa các quốc gia.
Thông tin địa lý được kết hợp với dữ liệu tài khóa để phản ánh mức độ gần gũi giữa các nền kinh tế. Khoảng cách giữa thủ đô các quốc gia được sử dụng để xây dựng ma trận trọng số không gian theo nghịch đảo khoảng cách. Theo đó, các quốc gia ở gần nhau nhận trọng số lớn hơn so với các quốc gia ở xa. Cấu trúc này cho phép kiểm định liệu sự gần gũi về địa lý có đi kèm với sự tương đồng về mức chi tiêu công hay không.
Phương pháp phân tích không gian
Global Moran’s I được sử dụng để đánh giá tự tương quan không gian tổng thể. Giá trị Moran’s I dương cho thấy các quốc gia có mức chi tiêu tương đồng có xu hướng nằm gần nhau; giá trị âm cho thấy các quốc gia có mức chi tiêu khác biệt có xu hướng ở gần nhau. Khi hệ số không có ý nghĩa thống kê, chưa có đủ bằng chứng để kết luận sự tồn tại của cấu trúc không gian tổng thể.
Moran Scatterplot được sử dụng để minh họa mối quan hệ giữa giá trị chuẩn hóa của biến nghiên cứu và độ trễ không gian tương ứng. Để nhận diện cụ thể các cụm không gian, nghiên cứu sử dụng Local Moran’s I. Bốn nhóm được xem xét gồm: High-High, quốc gia có mức chi cao nằm gần các quốc gia có mức chi cao; Low-Low, quốc gia có mức chi thấp nằm gần các quốc gia có mức thấp; High-Low, quốc gia có mức chi cao nhưng được bao quanh bởi các nước có mức thấp; và Low-High, trường hợp ngược lại.
Các chỉ số Moran phản ánh mức độ phụ thuộc và cấu trúc không gian nhưng không trực tiếp xác lập quan hệ nhân quả. Vì vậy, “hiệu ứng lan tỏa” trong nghiên cứu được hiểu theo nghĩa tồn tại mối liên hệ không gian và khả năng tương tác khu vực trong chi tiêu công, thay vì khẳng định rằng thay đổi chi tiêu tại một quốc gia trực tiếp gây ra thay đổi tại quốc gia khác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chi tiêu công tại châu Á
Thống kê mô tả cho thấy mức chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á khác biệt đáng kể. Đối với chi tiêu công chung, mức bình quân của khu vực chủ yếu dao động khoảng 13–15% GDP. Saudi Arabia và Brunei Darussalam thường thuộc nhóm có mức chi cao, trong khi Bangladesh duy trì mức thấp. Bình quân toàn giai đoạn, chi tiêu công của Saudi Arabia đạt khoảng 22,95% GDP, so với khoảng 5,41% của Bangladesh. Chênh lệch này phản ánh khác biệt về năng lực tài khóa, nguồn thu, quy mô khu vực công và mô hình phát triển.
Chi tiêu giáo dục cũng có sự phân hóa. Mức bình quân khu vực dao động khoảng 7,17–7,30% GDP. Nhật Bản thuộc nhóm có mức chi tương đối cao, với giá trị bình quân khoảng 11,17% GDP, trong khi Bhutan đạt khoảng 7,74%. Những khác biệt này có thể gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực, cấu trúc dân số, tổ chức hệ thống giáo dục và ưu tiên ngân sách của mỗi quốc gia.
Đối với y tế, xu hướng chung là gia tăng theo thời gian, từ khoảng 1,93% GDP năm 2000 lên trên 2% trong các năm tiếp theo. Nhật Bản có mức chi tương đối cao trong giai đoạn đầu, trong khi xét bình quân toàn kỳ, Hàn Quốc nằm trong nhóm có mức chi cao nhất. Ngược lại, Tajikistan và Bangladesh thuộc nhóm thấp, dao động khoảng 0,77–1,34% GDP. Những khác biệt này phản ánh sự phân hóa về mức phát triển của hệ thống y tế công, phạm vi an sinh và năng lực ngân sách.
Nhìn chung, sự khác biệt lớn về mức chi giữa các quốc gia đặt ra câu hỏi liệu phân bố này chỉ xuất phát từ đặc điểm riêng của từng nền kinh tế hay có hình thành những cấu trúc không gian mang tính khu vực.
Tự tương quan không gian
Kết quả Global Moran’s I cho thấy mức độ phụ thuộc không gian khác nhau giữa ba nhóm chi tiêu. Chi tiêu công chung có Moran’s I dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, trong khi chi tiêu y tế có mức tự tương quan không gian mạnh hơn và có ý nghĩa ở mức 1%. Ngược lại, chi tiêu giáo dục không cho thấy bằng chứng thống kê về sự tồn tại của tự tương quan không gian tổng thể.
Bảng 1: Kết quả kiểm định Global Moran’s I
|
Biến nghiên cứu |
Moran’s I |
p-value |
|
Chi tiêu công chung |
Dương |
< 0,10 |
|
Chi tiêu giáo dục |
Không đáng kể |
> 0,10 |
|
Chi tiêu y tế |
Dương |
< 0,01 |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả bằng phần mềm R.
Đối với chi tiêu công chung, chỉ số Moran’s I dương, hàm ý rằng phân bố chi tiêu công chung không hoàn toàn ngẫu nhiên mà có xu hướng phân cụm. Sự tương đồng có thể liên quan tới trình độ phát triển, năng lực ngân sách và môi trường chính sách chung của các quốc gia trong cùng tiểu vùng.
Chi tiêu giáo dục không có tự tương quan không gian có ý nghĩa thống kê. Kết quả cho thấy sự gần gũi địa lý chưa đủ để giải thích sự tương đồng trong phân bổ ngân sách giáo dục. Quyết định chi tiêu trong lĩnh vực này có thể phụ thuộc nhiều hơn vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực, cấu trúc dân số, thể chế giáo dục và các ưu tiên ngân sách dài hạn của từng quốc gia.
Ngược lại, chi tiêu y tế có sự phụ thuộc không gian rõ rệt hơn. Moran’s I dương và có ý nghĩa ở mức 1% cho thấy các quốc gia có mức chi y tế tương đồng có xu hướng tập trung về không gian. Một khả năng giải thích là y tế chịu ảnh hưởng mạnh của các yếu tố có tính xuyên biên giới như dịch bệnh, di chuyển dân cư, thay đổi nhân khẩu học và nhu cầu phối hợp y tế công cộng. Do đó, so với giáo dục, chi tiêu y tế có thể phản ánh rõ hơn những áp lực và điều kiện chung của môi trường khu vực.
Các cụm không gian theo Local Moran’s I
Kết quả Local Moran’s I cho thấy cụm Low-Low xuất hiện tương đối phổ biến, trong khi High-High ít được ghi nhận. Điều này cho thấy cấu trúc không gian của chi tiêu công tại châu Á chủ yếu được thể hiện qua các nhóm quốc gia có mức chi thấp và một số quốc gia có mức chi cao hơn đáng kể so với môi trường lân cận.
Bảng 2: Khái quát các cụm không gian
|
Cụm |
Đặc điểm |
Một số quốc gia tiêu biểu |
|
Low-Low |
Chi tiêu thấp, các nước lân cận cũng thấp |
Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Indonesia, Philippines |
|
High-Low |
Chi tiêu cao hơn các nước lân cận |
Kazakhstan, Thái Lan, Việt Nam |
|
Low-High |
Chi tiêu thấp nhưng gần nhóm có mức cao |
Nepal, Kyrgyzstan |
|
High-High |
Chi tiêu cao, các nước lân cận cũng cao |
Xuất hiện hạn chế |
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả Local Moran’s I.
Đối với chi tiêu công chung, cụm Low-Low tập trung tại Nam Á và Đông Nam Á, gồm Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Indonesia và Philippines. Điều này cho thấy mức chi thấp không chỉ xuất hiện riêng lẻ mà có xu hướng tạo thành các cụm địa lý, có thể phản ánh những đặc điểm chung về khả năng huy động ngân sách, quy mô khu vực công và mức phát triển.
Cấu trúc High-Low được ghi nhận tại Kazakhstan, Thái Lan và Việt Nam, cho thấy các quốc gia này có mức chi tương đối cao hơn so với những nước lân cận. Đây là những điểm khác biệt cục bộ, phản ánh mức độ không đồng đều trong phân bổ chi tiêu ngay giữa các nền kinh tế ở gần nhau về địa lý.
Đối với y tế, Low-Low tiếp tục xuất hiện ở Nam Á và Trung Á, trong đó có Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Indonesia, Uzbekistan và một số nền kinh tế Trung Á. Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan xuất hiện trong nhóm High-Low, cho thấy mức chi y tế cao hơn tương đối so với các nước xung quanh. Cấu trúc này phù hợp với sự khác biệt về năng lực ngân sách, mức phát triển của hệ thống y tế và phạm vi bao phủ an sinh.
Cụm High-High nhìn chung khá hạn chế, hàm ý châu Á chưa hình thành nhiều nhóm quốc gia liền kề cùng duy trì mức chi cao. Low-High cũng không phổ biến, mặc dù một số trường hợp như Nepal, Kyrgyzstan và Tajikistan cho thấy mức chi thấp hơn đáng kể so với môi trường lân cận.
Thảo luận
Kết quả cho thấy sự phụ thuộc không gian của chi tiêu công tại châu Á không đồng nhất giữa các lĩnh vực. Chi tiêu công chung có bằng chứng về tự tương quan không gian nhưng mức ý nghĩa tương đối yếu, trong khi y tế thể hiện mối liên hệ mạnh hơn. Giáo dục không có tự tương quan không gian có ý nghĩa. Điều này cho thấy việc nghiên cứu lan tỏa tài khóa cần phân biệt từng cấu phần chi tiêu thay vì xem ngân sách nhà nước như một khối đồng nhất.
Sự phụ thuộc mạnh hơn của chi tiêu y tế có thể xuất phát từ tính xuyên biên giới của các rủi ro sức khỏe. Dịch bệnh, di chuyển dân cư và biến đổi nhân khẩu học tạo ra các áp lực tương đồng đối với chính phủ trong cùng khu vực. Bên cạnh đó, kinh nghiệm về tổ chức hệ thống y tế, bảo hiểm và y tế dự phòng có thể được lan truyền giữa các quốc gia, góp phần tạo nên sự tương đồng trong phân bổ nguồn lực.
Ngược lại, giáo dục gắn chặt hơn với đặc điểm dân số, thể chế và chiến lược phát triển nguồn nhân lực của từng quốc gia. Vì vậy, hội nhập kinh tế và sự gần gũi địa lý chưa nhất thiết dẫn đến hội tụ về mức chi giáo dục.
Sự phổ biến của các cụm Low-Low cũng cho thấy hạn chế về năng lực tài khóa có thể mang tính khu vực. Khi nhiều quốc gia lân cận cùng duy trì mức chi thấp, vấn đề có thể không chỉ nằm ở lựa chọn chính sách riêng lẻ mà còn gắn với những đặc điểm chung về trình độ phát triển và khả năng huy động nguồn lực. Điều này tạo cơ sở cho việc tăng cường hợp tác khu vực, chia sẻ kinh nghiệm quản trị và phối hợp trong những lĩnh vực có lợi ích xuyên biên giới.
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Nghiên cứu phân tích sự phụ thuộc không gian trong chi tiêu công của 34 quốc gia châu Á giai đoạn 2000–2023.
Các phát hiện cho thấy điều hành chi tiêu công cần tính đến cả điều kiện quốc gia và môi trường khu vực. Đối với các cụm Low-Low, chính sách không nên chỉ tập trung mở rộng quy mô chi tiêu mà cần nâng cao khả năng huy động nguồn lực và hiệu quả sử dụng ngân sách. Trong điều kiện dư địa tài khóa cho phép, có thể ưu tiên các lĩnh vực có tác động dài hạn như y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng và chuyển đổi số. Hợp tác khu vực, chia sẻ kinh nghiệm cải cách ngân sách và hỗ trợ nâng cao năng lực thể chế cũng có thể cải thiện chất lượng quản trị tài khóa của nhóm này.
Đối với các quốc gia High-Low, mức chi cao hơn các nước lân cận không đồng nghĩa với hiệu quả tài khóa cao hơn. Trọng tâm cần chuyển từ quy mô sang chất lượng phân bổ, hiệu quả cung ứng dịch vụ công và tính bền vững ngân sách. Các nền kinh tế có năng lực tài khóa lớn hơn có thể đóng vai trò tích cực trong chia sẻ kinh nghiệm quản lý ngân sách, phát triển hệ thống y tế và an sinh, nhưng việc duy trì mức chi cao vẫn cần đi kèm với kỷ luật ngân sách và quản lý nợ công thận trọng.
Các trường hợp Low-High cho thấy một số nền kinh tế có thể chưa tận dụng đầy đủ những điều kiện thuận lợi của môi trường khu vực. Nâng cao năng lực quản lý ngân sách, cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường hội nhập có thể giúp các quốc gia này hấp thụ tốt hơn các lợi ích từ khu vực. Điều này đặc biệt quan trọng đối với y tế, lĩnh vực có mức độ phụ thuộc không gian mạnh nhất trong kết quả nghiên cứu. Phối hợp về phòng chống dịch bệnh, chia sẻ dữ liệu, đào tạo nhân lực và y tế dự phòng có thể tạo lợi ích vượt khỏi biên giới quốc gia.
Đối với Việt Nam, việc xuất hiện trong nhóm High-Low của chi tiêu công chung hàm ý trọng tâm điều hành không nên chỉ là tiếp tục mở rộng quy mô ngân sách mà cần chú trọng hơn tới chất lượng phân bổ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đầu tư công và chi cho y tế, giáo dục, chuyển đổi số cần gắn với năng suất, hiệu quả dài hạn và khả năng duy trì bền vững tài khóa. Đồng thời, kỷ luật ngân sách, kiểm soát bội chi, bảo đảm an toàn nợ công, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình tiếp tục là những yêu cầu quan trọng.
Kết quả về y tế cũng cho thấy Việt Nam cần coi phối hợp khu vực là một thành tố của quản trị tài khóa và an sinh. Tăng cường hợp tác trong y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh, chia sẻ thông tin và đào tạo nhân lực có thể nâng cao khả năng ứng phó với các cú sốc xuyên biên giới. Ở phạm vi rộng hơn, tham gia chủ động vào các cơ chế phối hợp kinh tế vĩ mô trong ASEAN và châu Á có thể giúp Việt Nam cải thiện khả năng phản ứng trước biến động khu vực, đồng thời duy trì dư địa tài khóa cần thiết cho các cú sốc tài chính, năng lượng hoặc y tế trong tương lai.
*Bài viết là sản phẩm của Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU) “Phân tích hiệu ứng lan toả trong chính sách tài khoá giữa các nước đang phát triển và hàm ý cho Việt Nam” (Mã số QG.24.93).
Tài liệu tham khảo
1. Anselin, L. (1988). Spatial Econometrics: Methods and Models. Kluwer Academic Publishers.
Beetsma, R., Giuliodori, M., & Klaassen, F. (2006). Trade spill-overs of fiscal policy in the European Union: A panel analysis. Economic Policy, 21(48), 639–687.
2. Corsetti, G., & Müller, G. J. (2015). Fiscal multipliers: Lessons from the Great Recession for small open economies. IMF Economic Review, 63(2), 203–231.
3. Fleming, J. M. (1962). Domestic financial policies under fixed and under floating exchange rates. IMF Staff Papers, 9(3), 369–380.
4. Keynes, J. M. (1936). The General Theory of Employment, Interest and Money.
5. Lê Thị Mai Trang (2019). Chính sách tài khoá hướng tới tăng trưởng bền vững. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 226–237.
6. Mundell, R. A. (1963). Capital mobility and stabilization policy under fixed and flexible exchange rates. Canadian Journal of Economics and Political Science, 29(4), 475–485.
7. Phạm, D. L. (2024). Thực trạng chính sách tài khoá ở Việt Nam giai đoạn 2021–2023.
8. Phan Hiển Minh và cộng sự (2020). Giáo trình thuế thực hành. Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright.
| Ngày nhận bài: 30/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 8/10/2026; Ngày duyệt đăng: 28/10/2026 |
Các tin khác
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn
Thực trạng ý định ứng dụng logistics xanh trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam
Định kiến giới và cơ hội thăng tiến được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn: Vai trò trung gian của nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai
Mô hình quản lý sản xuất giống cây trồng ở một số quốc gia trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn thời trang xanh của Gen Z tại TP. Hồ Chí Minh