Giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Đoàn Thanh Bình
Học viên cao học, Trường Đại học Đồng Tháp
Phạm Thái Ngọc (Tác giả liên hệ)
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Đồng Tháp; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác chuyển đổi số tại UBND tỉnh Đồng Tháp. Dựa trên dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2021-2025, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh để đánh giá chuyển đổi số trên các phương diện: nhận thức số, thể chế số, hạ tầng số, nhân lực số, an toàn thông tin mạng, hoạt động chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Kết quả cho thấy, Đồng Tháp đã đạt nhiều tiến bộ về nhận thức và thể chế số, mở rộng hạ tầng và khả năng tiếp cận số, phát triển nhân lực, dịch vụ công trực tuyến và ứng dụng công nghệ trong kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, một số hạn chế vẫn tồn tại về hạ tầng, khai thác và liên thông dữ liệu, chất lượng nhân lực số, hiệu quả chính quyền số và mức độ tạo giá trị từ kinh tế số. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất 6 nhóm giải pháp tập trung vào hoàn thiện quản trị và thể chế, đổi mới cơ chế tài chính, phát triển hạ tầng và quản trị dữ liệu, nâng cao chất lượng nhân lực số, tăng cường hiệu quả chính quyền số và an toàn thông tin, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong người dân và doanh nghiệp.
Từ khoá: Chuyển đổi số, chính quyền số, quản trị số, UBND, Đồng Tháp
Abstract
This study aims to assess the current state of digital transformation within the People’s Committee of Dong Thap Province and propose solutions to improve it. Based on secondary data for the 2021-2025 period, the study employs document analysis, synthesis, descriptive statistics, and comparative methods to evaluate digital transformation across eight dimensions: digital awareness, digital institutions, digital infrastructure, digital human resources, cybersecurity, digital government operations, the digital economy, and the digital society. The findings indicate that Dong Thap has made considerable progress in digital awareness and institutional development, expanded infrastructure and digital accessibility, developed its digital workforce, and advanced online public services and the application of technology in socioeconomic activities. However, several limitations remain regarding infrastructure, data utilization and interoperability, the quality of digital human resources, the effectiveness of digital government, and the extent to which the digital economy generates value. Accordingly, the study proposes six groups of solutions focusing on improving governance and institutions, reforming financial mechanisms, developing infrastructure and data governance, enhancing the quality of digital human resources, improving the effectiveness of digital government and information security, and promoting digital transformation among citizens and businesses.
Keywords: Digital transformation, digital government, digital governance, People’s Committee, Dong Thap
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành động lực quan trọng của đổi mới quản trị và phát triển kinh tế - xã hội. Trong khu vực công, CĐS không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn gắn liền với đổi mới quy trình, phương thức quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ công nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam, CĐS được xác định là định hướng chiến lược thông qua Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình CĐS quốc gia và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và CĐS quốc gia. Trong đó, chính quyền địa phương giữ vai trò trực tiếp trong chuyển hóa các định hướng quốc gia thành kết quả thực tiễn.
Tại Đồng Tháp, Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 31/12/2021 của Tỉnh ủy đã xác định phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số là những nhiệm vụ trọng tâm. Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực trong giai đoạn 2021-2025, song hiệu quả CĐS của Tỉnh vẫn còn những hạn chế; năm 2024, Đồng Tháp (trước sắp xếp) xếp thứ 45/63 tỉnh, thành phố về Chỉ số CĐS (DTI). Trong bối cảnh tỉnh Đồng Tháp mới được hình thành sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu đồng bộ thể chế, hạ tầng, dữ liệu và năng lực quản trị số càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng CĐS tại UBND tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2021-2025, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác CĐS trong giai đoạn mới.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (2021), CĐS được hiểu là quá trình chuyển đổi tổng thể và toàn diện cách thức hoạt động của cá nhân và tổ chức dựa trên việc ứng dụng công nghệ số, qua đó làm thay đổi phương thức sống, làm việc và sản xuất.
OECD (2019) phân biệt 3 cấp độ của quá trình chuyển đổi dựa trên công nghệ số: Số hóa (digitisation) là việc chuyển đổi dữ liệu và thông tin từ dạng tương tự sang định dạng số để máy tính có thể xử lý. Số hóa quy trình đề cập đến việc sử dụng công nghệ số, dữ liệu và khả năng kết nối nhằm cải tiến hoặc hình thành các hoạt động và quy trình mới. Ở phạm vi rộng hơn, CĐS phản ánh những thay đổi mang tính hệ thống về kinh tế và xã hội phát sinh từ quá trình số hóa và ứng dụng công nghệ số.
Tổng quan nghiên cứu
Các nghiên cứu về CĐS trong khu vực công nhìn chung thống nhất rằng CĐS không đơn thuần là ứng dụng công nghệ hay số hóa các quy trình hiện hữu mà là quá trình thay đổi toàn diện về tổ chức, quy trình, phương thức quản trị và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp. Mergel và cộng sự (2019) nhấn mạnh sự tương tác giữa công nghệ, thể chế, tổ chức và con người trong quá trình CĐS; trong khi Gong và cộng sự (2020) cho thấy, CĐS chính quyền gắn với phát triển hạ tầng, tích hợp dữ liệu, tái cấu trúc quy trình và nâng cao khả năng thích ứng của tổ chức.
Tại Việt Nam, Đặng Viết Đạt (2022), khi nghiên cứu các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nhận định rằng mặc dù nhận thức, thể chế và dịch vụ công trực tuyến đã có những chuyển biến, song các địa phương vẫn gặp khó khăn về hạ tầng, dữ liệu phân mảnh, kết nối và chia sẻ thông tin. Nguyễn Quốc Toàn và Dương Thị Thanh Hậu (2023) cũng chỉ ra những hạn chế về nhân lực số, tích hợp dữ liệu, dịch vụ công trực tuyến và nguồn lực triển khai.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá công tác CĐS tại UBND tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2021-2025, đồng thời sử dụng thông tin năm 2026 để cập nhật bối cảnh và định hướng giải pháp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo, số liệu CĐS, Chỉ số DTI và các công trình nghiên cứu liên quan. Các phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh được áp dụng để đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác CĐS.
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI UBND TỈNH ĐỒNG THÁP
Nhận thức số
Giai đoạn 2021-2025, Đồng Tháp xác định nâng cao nhận thức số là nền tảng quan trọng thúc đẩy CĐS trên cả 3 trụ cột chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Quyết tâm này được thể hiện qua việc ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 31/12/2021 và Kế hoạch số 59/KH-UBND ngày 25/02/2022, tạo cơ sở chính trị và hành chính cho triển khai CĐS trên địa bàn. Ban Chỉ đạo CĐS tỉnh được kiện toàn với sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo UBND tỉnh, qua đó tăng cường vai trò chỉ đạo, giám sát và tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện.
Công tác truyền thông, phổ biến nhận thức số cũng được đẩy mạnh thông qua Trang thông tin điện tử về CĐS của Tỉnh, các chuyên trang trên phương tiện truyền thông và các hoạt động hưởng ứng Ngày CĐS. Đồng thời, từ năm 2022, Tỉnh triển khai Bộ chỉ số đánh giá, xếp hạng CĐS đối với các cơ quan chuyên môn và địa phương, góp phần nâng cao trách nhiệm và sự quan tâm của người đứng đầu. Những nỗ lực này được phản ánh qua chỉ số Nhận thức số (DTI) của Đồng Tháp, tăng từ 0,7000 năm 2021 lên 0,8917 năm 2022 và đạt mức 1,0000 trong 2 năm 2023-2024 (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Kết quả cho thấy nhận thức và cam kết đối với CĐS của Tỉnh đã có sự cải thiện rõ rệt trong giai đoạn nghiên cứu.
Thể chế số
Giai đoạn 2021-2025, thể chế phục vụ CĐS tại Đồng Tháp từng bước được hoàn thiện. Trên cơ sở Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 31/12/2021, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 59/KH-UBND ngày 25/02/2022 và Quyết định số 861/QĐ-UBND-HC ngày 05/8/2022 về Đề án CĐS tỉnh Đồng Tháp, đồng thời cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch về kinh tế số, xã hội số, hỗ trợ doanh nghiệp và CĐS trong xây dựng nông thôn mới. Tỉnh cũng triển khai, cập nhật Kiến trúc Chính quyền điện tử, rà soát các chính sách liên quan và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Kết quả DTI phản ánh sự cải thiện đáng kể của thể chế số tại Đồng Tháp. Chỉ số này tăng từ 0,4000 năm 2021 lên 0,6000 năm 2022 và đạt mức 1,0000, đồng hạng nhất cả nước vào năm 2024 (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).
Bên cạnh đó, các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp CĐS từng bước được hình thành, nhất là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nền tảng, tư vấn và giải pháp số. Tuy nhiên, cơ chế bảo đảm nguồn lực tài chính vẫn còn bất cập. Mặc dù nhu cầu vốn cho CĐS giai đoạn 2021-2025 đã được xác định, song các quy định về tỷ lệ chi tối thiểu, định mức chi và cơ chế sử dụng chuyên gia CĐS chưa thực sự đồng bộ và ổn định.
Hạ tầng số
Hạ tầng số của Đồng Tháp được đầu tư và từng bước mở rộng. Tỷ lệ hộ gia đình có Internet băng rộng cố định tăng từ 59,9% năm 2021 lên 83,9% vào giữa năm 2025; tỷ lệ hộ có điện thoại thông minh đạt 90,76%. Đến tháng 6/2025, toàn tỉnh có 4.710 trạm BTS, trong đó 2.090 trạm 4G và 151 trạm 5G; 100% khóm, ấp được phủ sóng 3G, 4G và kết nối cáp quang (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Đối với khu vực hành chính, mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối các cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh đến cơ sở, tạo nền tảng cho vận hành chính quyền số.
Hạ tầng dữ liệu và các nền tảng dùng chung cũng được chú trọng. Trung tâm Tích hợp dữ liệu được nâng cấp theo mô hình điện toán đám mây riêng với dung lượng lưu trữ trên 200 TB; nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu (LGSP) được kết nối với các nền tảng quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Kho dữ liệu dùng chung, nền tảng dữ liệu mở và một số ứng dụng AI, IoT cũng từng bước được triển khai. Tuy nhiên, khả năng khai thác dữ liệu còn hạn chế, thể hiện ở tỷ lệ cơ quan nhà nước cung cấp dữ liệu mở năm 2024 mới đạt khoảng 50%.
Nhân lực số
Mô hình Tổ Công nghệ số cộng đồng được triển khai từ năm 2022 và mở rộng đến cuối năm 2024 với 82 tổ cấp xã và 669 tổ tại khóm, ấp, hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, nền tảng số và thanh toán không dùng tiền mặt. Bên cạnh đó, từ năm 2021 đến tháng 3/2025, Tỉnh đã tổ chức gần 400 lớp đào tạo, tập huấn với hơn 552.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức và các nhóm cộng đồng tham gia (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Các sở, ngành và địa phương cũng từng bước bố trí đầu mối thực hiện nhiệm vụ CĐS, tạo mạng lưới triển khai từ cấp tỉnh đến cơ sở.
Kết quả DTI cho thấy chỉ số Nhân lực số của Đồng Tháp cải thiện đáng kể, từ 0,1808 năm 2021 lên 0,6130 năm 2022, 0,7279 năm 2023 và 0,8422 năm 2024. Tuy nhiên, thứ hạng toàn quốc chỉ dao động từ 27-41/63 và vị trí trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu ở nhóm giữa (7-9/13) (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Điều này cho thấy mặc dù quy mô đào tạo và lực lượng tham gia CĐS đã được mở rộng, song tốc độ cải thiện nhân lực số của Đồng Tháp vẫn chưa tạo được lợi thế tương đối so với các địa phương khác.
An toàn thông tin mạng
Đồng Tháp từng bước hoàn thiện các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin mạng (ATTT) nhằm bảo vệ hạ tầng, hệ thống thông tin và dữ liệu phục vụ chính quyền số. Công tác bảo vệ hệ thống theo cấp độ được mở rộng đáng kể; đến tháng 6/2025, Tỉnh đã triển khai đối với 200 hệ thống mạng LAN tại các cơ quan cấp tỉnh, huyện và xã (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Đồng thời, Tỉnh duy trì mô hình bảo đảm ATTT nhiều lớp, triển khai phòng chống mã độc, giám sát tập trung và kết nối, chia sẻ thông tin với Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia; riêng Trung tâm Tích hợp dữ liệu tỉnh được giám sát 100% thiết bị và hệ thống thông tin.
Bên cạnh đầu tư kỹ thuật, Tỉnh thường xuyên thực hiện kiểm tra, đánh giá ATTT đối với Trung tâm Tích hợp dữ liệu, các hệ thống dùng chung, hệ thống chuyên ngành và mạng nội bộ nhằm phát hiện, khắc phục các nguy cơ và lỗ hổng bảo mật. Hoạt động diễn tập ứng cứu sự cố và tập huấn kỹ năng ATTT cho cán bộ, công chức, viên chức cũng được triển khai nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và xử lý sự cố.
Hoạt động chính quyền số
Hoạt động chính quyền số tại Đồng Tháp từng bước chuyển từ xây dựng các hệ thống nền tảng sang số hóa quy trình, kết nối dữ liệu và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Các hệ thống quản lý văn bản và điều hành, báo cáo, hội nghị trực tuyến, dịch vụ công và nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu (LGSP) được triển khai tương đối đồng bộ. Đến năm 2022, hệ thống quản lý văn bản và điều hành đã được triển khai tại 100% cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp; LGSP được kết nối với nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, tạo điều kiện trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).
Dịch vụ công trực tuyến cũng có những chuyển biến tích cực. Đến năm 2023, Tỉnh cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện, gồm 841 dịch vụ toàn trình và 561 dịch vụ một phần. Năm 2024, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt 99,51%; hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 64,32%; số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 61,79%, trong khi hồ sơ phát sinh thanh toán trực tuyến đạt 52,46%. Tỉnh đồng thời duy trì các nền tảng như: e-DongThap, Tổng đài 1022 và Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC), góp phần tăng cường tương tác với người dân và hỗ trợ quản trị dựa trên dữ liệu. Khả năng kết nối dữ liệu cũng từng bước được cải thiện, với LGSP kết nối 19/23 cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin quốc gia vào năm 2023 (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Tuy nhiên, kết quả DTI cho thấy chỉ số Hoạt động chính quyền số dù cải thiện trong giai đoạn 2022-2023 nhưng giảm đáng kể vào năm 2024. Điều này cho thấy kết quả chính quyền số của tỉnh chưa thực sự ổn định; việc khai thác dữ liệu liên thông, nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến và chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu vẫn cần tiếp tục được chú trọng.
Hoạt động kinh tế số
Kinh tế số của Đồng Tháp có sự cải thiện, đặc biệt trong thương mại điện tử và ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh. Tỷ trọng kinh tế số tăng từ khoảng 3,7% GRDP năm 2022 lên 6,52% năm 2024. Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử cũng tăng từ 53% năm 2021 lên khoảng 58% vào cuối giai đoạn (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025), cho thấy mức độ tham gia của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh số ngày càng được mở rộng.
CĐS đạt kết quả đáng chú ý đối với các sản phẩm đặc trưng và lĩnh vực nông nghiệp của Tỉnh. Đến tháng 6/2025, 453/453 sản phẩm OCOP có khả năng giao dịch đã được kinh doanh trên môi trường thương mại điện tử. Đồng thời, 62,56% nông dân được hỗ trợ tiếp cận IoT, thông tin cung - cầu, quảng bá và mua bán trực tuyến, vượt mục tiêu 60% của giai đoạn (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Những kết quả này cho thấy CĐS đã từng bước mở rộng từ hoạt động tiêu thụ sang hỗ trợ sản xuất và tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, tỷ trọng kinh tế số trong GRDP vẫn còn tương đối thấp, số lượng doanh nghiệp công nghệ số và doanh nghiệp nền tảng chưa nổi bật, trong khi mức độ CĐS giữa các doanh nghiệp chưa đồng đều.
Hoạt động xã hội số
Đồng Tháp từng bước mở rộng các điều kiện phát triển xã hội số thông qua phổ cập định danh điện tử, thanh toán số, kỹ năng số và khả năng tiếp cận các nền tảng số. Tỷ lệ dân số có danh tính số duy trì ở mức 100% từ năm 2022; tài khoản thanh toán ngày càng phổ biến trong dân cư. Đáng chú ý, tỷ lệ người dân có kiến thức, kỹ năng số cơ bản tăng từ 53,50% năm 2022 lên 78,54% năm 2024, vượt mục tiêu 70% của giai đoạn (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Tổ Công nghệ số cộng đồng cùng các chương trình phổ cập kỹ năng số đã góp phần hỗ trợ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử và các ứng dụng số. Khả năng tiếp cận môi trường số cũng được cải thiện khi tỷ lệ hộ gia đình có Internet băng rộng cố định đạt 83,9% và tỷ lệ người trưởng thành có điện thoại thông minh đạt 97,5% vào giữa năm 2025 (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022, 2023, 2024; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Đồng thời, các nền tảng như e-DongThap và Tổng đài 1022 được duy trì nhằm tăng cường cung cấp thông tin và tương tác giữa chính quyền với người dân.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI UBND TỈNH ĐỒNG THÁP
Thứ nhất, hoàn thiện quản trị, nhận thức và thể chế chuyển đổi số
UBND tỉnh cần xác định CĐS là trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu và gắn kết quả CĐS với hiệu quả quản trị, chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân, thay vì chủ yếu đánh giá qua số lượng kế hoạch hoặc nhiệm vụ hoàn thành. Đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý, đơn vị chuyên môn và đơn vị công nghệ; khuyến khích thử nghiệm có kiểm soát các công nghệ, mô hình quản trị mới và tăng cường chia sẻ kinh nghiệm giữa các đơn vị.
Thứ hai, đổi mới cơ chế tài chính cho chuyển đổi số
Tỉnh cần chuyển từ đầu tư riêng lẻ từng dự án công nghệ sang quản trị danh mục đầu tư CĐS trung hạn, ưu tiên các dự án có khả năng dùng chung, liên thông và tạo tác động lớn. Việc phân bổ nguồn lực cần tính đầy đủ chi phí vòng đời, bao gồm: đầu tư, dữ liệu, tích hợp, vận hành, bảo trì, nâng cấp và an toàn thông tin; đồng thời huy động có chọn lọc nguồn lực từ doanh nghiệp và các tổ chức liên quan.
Thứ ba, phát triển đồng bộ hạ tầng và quản trị dữ liệu
Trong bối cảnh sau hợp nhất, cần ưu tiên chuẩn hóa, tích hợp các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu, hạn chế đầu tư trùng lặp và hình thành kiến trúc dữ liệu thống nhất của Tỉnh. Mỗi nhóm dữ liệu trọng yếu cần được xác định rõ cơ quan quản lý, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế cập nhật và chia sẻ. Các hệ thống mới cần ưu tiên khả năng kết nối, tái sử dụng dữ liệu và hạn chế phụ thuộc vào từng nhà cung cấp công nghệ.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nhân lực số
Hoạt động đào tạo cần chuyển từ chú trọng số lượng lớp và người tham gia sang phát triển năng lực theo vị trí việc làm. Tỉnh cần hình thành đội ngũ chuyên gia nòng cốt về dữ liệu, AI, kiến trúc số và an toàn thông tin, kết hợp với cán bộ đầu mối CĐS tại từng cơ quan, địa phương. Đồng thời, tăng cường hợp tác với trường đại học, doanh nghiệp và chuyên gia để bổ sung năng lực chuyên sâu cho khu vực công.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả chính quyền số và an toàn thông tin
Cần chuyển trọng tâm từ số hóa thủ tục sang tái thiết kế quy trình và quản trị dựa trên dữ liệu, ưu tiên các thủ tục có tần suất cao và liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp. Các hệ thống báo cáo và IOC cần phục vụ thực chất cho phân tích, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định. Đồng thời, AI có thể được ứng dụng có kiểm soát trong xử lý công việc, đi kèm với yêu cầu bảo vệ dữ liệu, giám sát con người và bảo đảm an toàn thông tin ngay từ khâu thiết kế hệ thống.
Thứ sáu, thúc đẩy chuyển đổi số trong người dân và doanh nghiệp
Đối với người dân, cần chuyển từ phổ cập thiết bị và ứng dụng sang nâng cao khả năng sử dụng dịch vụ số an toàn, hiệu quả; phát huy Tổ Công nghệ số cộng đồng theo nhu cầu của từng nhóm dân cư. Đối với doanh nghiệp, chính sách hỗ trợ cần căn cứ vào mức độ trưởng thành số, ưu tiên các ngành có lợi thế của Tỉnh như: nông nghiệp, chế biến, logistics, du lịch và thương mại. Hiệu quả hỗ trợ cần được đánh giá thông qua giá trị thực tế như tiết giảm chi phí, tăng năng suất, doanh thu và khả năng tiếp cận thị trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Xếp hạng mức độ CĐS năm 2024 các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Hệ thống thông tin đánh giá và xếp hạng CĐS. https://dti.gov.vn/xep-hang-2024-63-tinh
2. Bộ Thông tin và Truyền thông (2021). Cẩm nang CĐS. Nxb Thông tin và Truyền thông.
3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2022). Chỉ số đánh giá CĐS của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2021. Nxb Thông tin và Truyền thông.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2023). Chỉ số đánh giá CĐS của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2022. Nxb Thông tin và Truyền thông.
5. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024). Chỉ số đánh giá CĐS của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2023. Nxb Thông tin và Truyền thông.
6. Đặng Viết Đạt (2022). CĐS khu vực công ở Đồng bằng sông Cửu Long - Cơ hội và thách thức. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 58(SDMD), 278-289. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2022.214
7. Gong, Y., Yang, J., & Shi, X. (2020). Towards a comprehensive understanding of digital transformation in government: Analysis of flexibility and enterprise architecture. Government Information Quarterly, 37(3), 101487. https://doi.org/10.1016/j.giq.2020.101487
8. Mergel, I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4), 101385. https://doi.org/10.1016/j.giq.2019.06.002
9. Nguyễn Quốc Toàn & Dương Thị Thanh Hậu (2023). Chính phủ số ở Việt Nam - Đánh giá hiện trạng và khuyến nghị. Tạp chí Quản lý nhà nước, 323, 43-47. https://vi.quanlynhanuoc.vn/qlnn/article/view/55
10. OECD (2019). Going Digital: Shaping Policies, Improving Lives. https://doi.org/10.1787/9789264312012-en
11. Tỉnh ủy Đồng Tháp (2021). Nghị quyết số 04-NQ/TU về CĐS tỉnh Đồng Tháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
| Ngày nhận bài: 18/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 30/10/2026 |
Các tin khác
Tác động của thu hồi đất đến sinh kế hộ gia đình và giải pháp phục hồi bền vững tại xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Quản trị cửa khẩu thông minh theo tiếp cận Smart tại tỉnh Lạng Sơn
Hiệu ứng lan tỏa trong chi tiêu công giữa các quốc gia châu Á
Thực trạng ý định ứng dụng logistics xanh trong các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam
Định kiến giới và cơ hội thăng tiến được cảm nhận của lao động nữ trong ngành khách sạn: Vai trò trung gian của nguồn lực từ mạng lưới nghề nghiệp
Trí tuệ nhân tạo và công việc kế toán: Vai trò điều tiết của độ phức tạp nhiệm vụ và kỹ năng số
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi số tại Viettel Post
Đề xuất tiêu chí thiết kế trải nghiệm nhằm gia tăng giá trị du lịch tại các quần thể di sản văn hóa
Xây dựng mô hình ứng dụng AI hỗ trợ giảng dạy thực hành nghề kế toán doanh nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại TP. Đồng Nai