Nâng cao năng lực số cho công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh tại Đồng Tháp
Lê Thị Kim Loan
Học viên cao học, Trường Đại học Đồng Tháp
Phạm Thái Ngọc (Tác giả liên hệ)
Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Đồng Tháp; Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực số cho công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh tại tỉnh Đồng Tháp. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát 175 công chức tại 8 sở thuộc UBND tỉnh và phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả. Kết quả cho thấy, năng lực số chung của công chức được đánh giá tương đối tốt (Mean = 4,094), trong đó Tư duy và khả năng thích ứng với công nghệ đạt mức cao nhất (Mean = 4,145), trong khi Sáng tạo nội dung số có mức thấp nhất (Mean = 4,004). Kết quả cho thấy công chức đã có nền tảng tích cực để thực thi công vụ trong môi trường số, nhưng vẫn cần nâng cao các năng lực chuyên sâu và khả năng ứng dụng công nghệ mới. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp về xây dựng khung năng lực số theo vị trí việc làm, đổi mới đào tạo, đánh giá năng lực liên tục, bảo đảm điều kiện ứng dụng và tăng cường vai trò hỗ trợ của lãnh đạo.
Từ khoá: Năng lực số, công chức, chuyển đổi số, chính quyền số, Đồng Tháp
Abstract
This study assesses the current state of digital competence among civil servants in provincial-level government agencies in Dong Thap Province and proposes solutions to enhance their capabilities. Data were collected through a survey of 175 civil servants across eight departments under the Provincial People’s Committee and analyzed using descriptive statistics. The results indicate that civil servants’ overall digital competence is rated relatively highly (Mean = 4.094). Thinking and adaptability to technology received the highest score (Mean = 4.145), while digital content creation received the lowest score (Mean = 4.004). These findings suggest that civil servants have a positive foundation for performing public duties in the digital environment but still need to strengthen specialized competencies and their ability to apply emerging technologies. Accordingly, the study proposes solutions that include developing position-based digital competency frameworks, training innovation, continuous competency assessment, enabling conditions for technology adoption, and stronger leadership support.
Keywords: Digital competence, civil servants, digital transformation, digital government, Dong Thap Province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính, chuyển đổi số (CĐS) đã trở thành một định hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng dịch vụ công. CĐS trong khu vực công không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ mà còn đòi hỏi thay đổi quy trình, phương thức làm việc và khai thác dữ liệu trong quản lý, điều hành. Vì vậy, bên cạnh hạ tầng và nền tảng công nghệ, năng lực số của đội ngũ công chức là điều kiện quan trọng quyết định hiệu quả CĐS.
Công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh trực tiếp thực thi chính sách, xử lý công việc và cung cấp dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp. Năng lực khai thác thông tin và dữ liệu, giao tiếp trên môi trường số, quản lý tài liệu điện tử, bảo đảm an toàn thông tin và thích ứng với công nghệ mới ngày càng trở thành yêu cầu thiết yếu đối với thực thi công vụ. Phát triển năng lực số cho đội ngũ công chức cũng phù hợp với định hướng phát triển nguồn nhân lực phục vụ CĐS quốc gia và yêu cầu nâng cao chất lượng nền hành chính.
Tại Đồng Tháp, quá trình CĐS giai đoạn 2022-2025 được đẩy mạnh thông qua phát triển chính quyền số, dữ liệu và các nền tảng dùng chung, đồng thời triển khai nhiều hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, yêu cầu CĐS ngày càng cao đòi hỏi năng lực của công chức cần chuyển từ sử dụng các phần mềm nghiệp vụ sang khả năng khai thác dữ liệu, bảo mật thông tin, tư duy số và thích ứng với công nghệ mới. Mức độ đáp ứng các yêu cầu này cũng có có sự khác biệt giữa các vị trí việc làm và cơ quan hành chính.
Trong khi các nghiên cứu về CĐS khu vực công thường tập trung vào chính sách, hạ tầng và mức độ CĐS của tổ chức, việc đánh giá năng lực số của công chức theo các thành tố cụ thể tại cấp tỉnh còn cần được làm rõ. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng năng lực số của công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh tại Đồng Tháp, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, nhận diện hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực số, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ và thúc đẩy CĐS của địa phương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Khái niệm liên quan
Theo OECD (2020), năng lực số là khả năng sử dụng hiệu quả công nghệ số và dữ liệu để thực hiện công việc, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và tạo ra giá trị. Đối với công chức, năng lực số không chỉ là kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn bao gồm khả năng khai thác dữ liệu, vận hành quy trình số và thích ứng với môi trường quản trị số.
Lý thuyết nền
Lý thuyết vốn nhân lực của Becker (1964) xem kiến thức và kỹ năng của con người là nguồn vốn có thể được phát triển thông qua giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh CĐS, năng lực số là một thành tố của vốn nhân lực, đòi hỏi công chức liên tục cập nhật kiến thức, kỹ năng và khả năng thích ứng với môi trường làm việc số.
Khung Công nghệ - Tổ chức - Môi trường (TOE) của Tornatzky và Fleischer (1990) cho rằng, việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ chịu tác động của các điều kiện công nghệ, tổ chức và môi trường. Trong nghiên cứu này, TOE được sử dụng để giải thích rằng năng lực số của công chức không chỉ phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng cá nhân mà còn chịu ảnh hưởng bởi hạ tầng công nghệ, sự hỗ trợ của tổ chức và môi trường chính sách chuyển đổi số.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các văn bản, báo cáo về CĐS, phát triển nguồn nhân lực và các nghiên cứu liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát 175 công chức tại 8 sở thuộc UBND tỉnh Đồng Tháp bằng bảng câu hỏi đánh giá 6 thành tố năng lực số. Sáu thành tố năng lực số được kế thừa từ cơ sở lý thuyết và dựa trên hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Bộ Nội vụ (2017) gồm: Khai thác, đánh giá và sư dụng thông tin số; Giao tiếp, hợp tác trong môi trường số; Sáng tạo nội dung số; Bảo mật thông tin số; Sử dụng và quản lý tài liệu, văn bản điện tử; Tư duy và khả năng thích ứng với công nghệ.
Dữ liệu khảo sát được phân tích bằng thống kê mô tả thông qua tần suất, tỷ lệ, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để đánh giá thực trạng năng lực số. Kết quả khảo sát được kết hợp với dữ liệu thứ cấp, làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao năng lực số cho công chức.
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC SỐ CỦA CÔNG CHỨC CẤP TỈNH TẠI ĐỒNG THÁP
Thông tin mẫu khảo sát
Trong tổng số 175 công chức tham gia trả lời, nam chiếm 52,6% và nữ chiếm 47,4%. Nhóm tuổi từ 40-49 chiếm tỷ lệ cao nhất (50,3%), tiếp theo là 30-39 tuổi (32,0%), từ 50 tuổi trở lên (12,6%) và dưới 30 tuổi (5,1%). Về trình độ chuyên môn, 59,4% có trình độ đại học và 40,6% có trình độ sau đại học. Đáng chú ý, 90,3% người được khảo sát có trên 15 năm công tác. Điều này cho thấy mẫu nghiên cứu chủ yếu gồm những công chức có nhiều kinh nghiệm làm việc trong khu vực công.
Đánh giá thực trạng năng lực số của công chức cấp tỉnh tại Đồng Tháp
Bảng: Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các thành tố năng lực số
|
STT |
Thành tố năng lực |
Giá trị trung bình (Mean) |
Độ lệch chuẩn (SD) |
Xếp hạng Mean |
|---|---|---|---|---|
|
1 |
Khai thác, đánh giá và sử dụng thông tin số |
4,086 |
0,246 |
4 |
|
2 |
Giao tiếp, hợp tác trong môi trường số |
4,114 |
0,282 |
2 |
|
3 |
Sáng tạo nội dung số |
4,004 |
0,295 |
5 |
|
4 |
Bảo mật thông tin số |
4,097 |
0,273 |
3 |
|
5 |
Sử dụng và quản lý tài liệu, văn bản điện tử |
4,114 |
0,281 |
2 |
|
6 |
Tư duy và khả năng thích ứng với công nghệ |
4,145 |
0,276 |
1 |
|
Năng lực số chung |
4,094 |
0,229 |
|
|
Nguồn: Kết quả khảo sát tính toán bằng SPSS
Kết quả Bảng cho thấy năng lực số chung của đối tượng khảo sát được đánh giá ở mức khá cao, với giá trị Mean = 4,094 và SD = 0,229. Điểm trung bình của 6 thành tố dao động từ 4,004-4,145, cho thấy mức đánh giá tương đối đồng đều giữa các khía cạnh năng lực số. Trong đó, Tư duy và khả năng thích ứng với công nghệ được đánh giá cao nhất (Mean = 4,145), trong khi Sáng tạo nội dung số có mức đánh giá thấp nhất (Mean = 4,004). Kết quả này cho thấy đối tượng khảo sát nhìn chung đã có nền tảng năng lực số tích cực, tuy nhiên mức độ phát triển giữa các thành tố vẫn có sự khác biệt và cần được xem xét cụ thể hơn ở từng khía cạnh.
Năng lực khai thác, đánh giá và sử dụng thông tin số
Thành tố này đạt giá trị trung bình 4,086 và SD = 0,246, xếp thứ tư trong 6 thành tố năng lực số. Kết quả phản ánh công chức nhìn chung có năng lực khá tốt và tương đối đồng đều trong khai thác, đánh giá và sử dụng thông tin số phục vụ công việc. Tuy nhiên, mức độ làm chủ các kỹ năng đánh giá, chọn lọc và khai thác thông tin chuyên sâu vẫn còn hạn chế nhất định so với yêu cầu ngày càng cao của môi trường làm việc số.
Năng lực giao tiếp, hợp tác trong môi trường số
Thành tố này đạt giá trị trung bình 4,114 và SD = 0,282, xếp thứ hai trong 6 thành tố năng lực số. Kết quả cho thấy công chức có năng lực khá tốt và tương đối đồng đều trong sử dụng các công cụ số để giao tiếp, trao đổi và phối hợp công việc. Tuy nhiên, khả năng phối hợp trong các tình huống phức tạp và trên nhiều nền tảng số vẫn cần tồn tại rào cản nhất định.
Năng lực sáng tạo số
Thành tố này có giá trị trung bình 4,004 và SD = 0,295, thấp nhất trong 6 thành tố năng lực số. Mặc dù vẫn nằm trong khoảng đánh giá ở mức khá tốt, song kết quả cho thấy năng lực sáng tạo nội dung số của công chức còn hạn chế và có sự phân hóa đáng kể giữa các nhóm công chức khác nhau.
Năng lực bảo mật thông tin số
Thành tố này đạt giá trị trung bình 4,097 và SD = 0,273, xếp thứ ba trong 6 thành tố năng lực số. Kết quả thể hiện công chức có nhận thức và năng lực khá tốt trong bảo vệ thông tin trên môi trường số. Tuy nhiên, kỹ năng nhận diện, chủ động phòng ngừa và xử lý các nguy cơ mất an toàn an ninh mạng phức tạp trong thực tế thực thi công vụ chưa thực sự đồng đều.
Năng lực sử dụng và quản lý tài liệu, văn bản điện tử
Thành tố này đạt giá trị trung bình 4,114 và SD = 0,281, xếp thứ hai trong 6 thành tố năng lực số. Thực trạng phản ánh công chức có năng lực khá tốt trong sử dụng và quản lý văn bản, hồ sơ điện tử. Dù vậy, kỹ năng tổ chức, tìm kiếm, lưu trữ và khai thác hiệu quả tài liệu, dữ liệu điện tử phục vụ công tác tham mưu và quản lý vần cần tiếp tục cải thiện.
Năng lực tư duy và khả năng thích ứng với công nghệ
Thành tố này đạt giá trị trung bình 4,145 và SD = 0,276, cao nhất trong 6 thành tố năng lực số. Điều này cho thấy công chức tỉnh Đồng Tháp có thái độ tích cực và khả năng thích ứng khá tốt với sự thay đổi của công nghệ trong hoạt động công vụ. Tuy nhiên, việc chuyển hóa sự sẵn sàng này thành năng lực thực hành ứng dụng công nghệ mới vào thực tiễn vẫn có khoảng cách nhất định giữa các nhóm độ tuổi và vị trí việc làm.
Tóm lại, phân tích thực trạng cho thấy công chức cấp tỉnh tại Đồng Tháp đã xây dựng được nền tảng năng lực số khá vững chắc, trong đó điểm mạnh nổi bật nằm ở Tư duy và khả năng thích ứng với công nghệ và Giao tiếp/Quản lý văn bản điện tử. Hạn chế lớn nhất tập trung ở Sáng tạo nội dung số và Khai thác dữ liệu chuyên sâu. Sự chênh lệch này là cơ sở thực tiễn quan trọng để định hình các nhóm giải pháp can thiệp có trọng tâm.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC SỐ CHO CÔNG CHỨC CẤP TỈNH TẠI ĐỒNG THÁP
Từ kết quả đánh giá thực trạng, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực số cho công chức cấp tỉnh tại Đồng Tháp:
Thứ nhất, xây dựng khung năng lực số theo vị trí việc làm. Tỉnh cần xác định các năng lực số nền tảng và chuyên sâu cho từng nhóm công chức, làm căn cứ đánh giá nhu cầu, xây dựng chương trình đào tạo và theo dõi sự phát triển năng lực. Qua đó, chuyển từ đào tạo đại trà sang đào tạo phù hợp với vị trí và yêu cầu công việc.
Thứ hai, đổi mới nội dung và phương thức đào tạo. Chương trình bồi dưỡng cần tăng cường các nội dung về khai thác dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), sáng tạo nội dung số, trực quan hóa thông tin, bảo mật và ứng dụng công nghệ vào giải quyết công việc. Đặc biệt, cần ưu tiên sáng tạo nội dung số do đây là thành tố có mức đánh giá thấp nhất; đồng thời tăng thực hành, xử lý tình huống và học tập gắn với công việc.
Thứ ba, xây dựng cơ chế học tập và đánh giá năng lực liên tục. Cần đánh giá khả năng vận dụng sau đào tạo thay vì chỉ ghi nhận việc tham gia khóa học, đồng thời khuyến khích tự học, cập nhật công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm tại đơn vị. Kết quả đánh giá có thể được sử dụng để xác định nhu cầu bồi dưỡng và phát triển năng lực tiếp theo.
Thứ tư, bảo đảm điều kiện ứng dụng năng lực số. Tỉnh cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng, dữ liệu, phần mềm và tài liệu phục vụ công việc và đào tạo; tạo điều kiện để công chức thực hành trên các hệ thống và tình huống thực tế. Song song với đó, cần tăng cường kỹ năng bảo mật, quản lý dữ liệu và sử dụng AI an toàn trong thực thi công vụ.
Thứ năm, phát huy vai trò của người đứng đầu và cơ chế khuyến khích. Lãnh đạo các cơ quan cần tạo điều kiện về thời gian, môi trường và nguồn lực cho công chức học tập, thực hành và ứng dụng công nghệ. Đồng thời, cần ghi nhận các sáng kiến và kết quả ứng dụng công nghệ hiệu quả nhằm tạo động lực tự học, đổi mới và chia sẻ kinh nghiệm trong cơ quan.
Tài liệu tham khảo:
1. Becker, G. S. (1993). Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education (3rd ed.). The University of Chicago Press.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Quyết dịnh ban hành khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số.
3. Bộ Nội vụ (2017). Xây dựng khung năng lực cho vị trí việc làm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Tài liệu của Bộ Nội vụ xác định khung năng lực cần gắn với chức năng công việc, mô tả năng lực, cấp độ năng lực và các chỉ số đánh giá năng lực, Hà Nội.
4. OECD (2019). OECD Skills Outlook 2019: Thriving in a Digital World. OECD Publishing.
5. Tornatzky, L. G., & Fleischer, M. (1990). The processes of technological innovation. Lexington Books.
| Ngày nhận bài: 9/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 5/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026 |
Các tin khác
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu qua tài khoản ngân hàng của sinh viên Trường Đại học Kiên Giang
Đầu tư công hiện đại ở Việt Nam: Từ đổi mới nhận thức đến hoàn thiện thể chế quản lý
Xuất khẩu sản phẩm văn hóa tại chỗ thông qua du lịch: Kinh nghiệm tại một số quốc gia châu Á và khuyến nghị cho Việt Nam
Quản lý tổ chức đăng ký doanh nghiệp cấp tỉnh - Nghiên cứu tại Sở Tài chính tỉnh Đồng Tháp
Xu hướng ngân hàng dịch vụ: Thách thức và giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Đề xuất mô hình nghiên cứu về cá nhân hóa dựa trên AI và lòng trung thành thương hiệu đa chiều đối với khóa học trực tuyến thương mại
Chuyển dịch cơ chế phòng ngừa rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân và vai trò của ngân hàng hợp tác xã
Thương mại quốc tế, FDI và mối quan hệ với quy mô GRDP thực cấp tỉnh ở Việt Nam: Trường hợp Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Thực trạng phong cách lãnh đạo và kết quả đổi mới sáng tạo của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam