Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh

Nghiên cứu - Trao đổi 08:56 | 27/10/2026
Phát triển bền vững đang trở thành một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia và doanh nghiệp. Những vấn đề như biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và yêu cầu giảm phát thải đang tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo xanh được xem là một trong những phương thức quan trọng giúp doanh nghiệp vừa nâng cao năng lực cạnh tranh vừa đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Bùi Vũ Như Trâm

Ngân hàng Techcombank - Chi nhánh Đồng Nai

TS. Nguyễn Nam Hải (Tác giả liên hệ)

Trường Đại học Đồng Nai, Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở quan điểm dựa trên nguồn lực và lý thuyết năng lực động, nghiên cứu đề xuất 5 yếu tố ảnh hưởng gồm: năng lực số, năng lực hấp thụ xanh, quản trị tri thức xanh, lãnh đạo chuyển đổi xanh và văn hóa tổ chức xanh. Dữ liệu được thu thập từ 216 phiếu khảo sát hợp lệ và xử lý bằng SPSS thông qua Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy cả 5 yếu tố đều tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến đổi mới sáng tạo xanh. Trong đó, năng lực số có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp đến là lãnh đạo chuyển đổi xanh, năng lực hấp thụ xanh, quản trị tri thức xanh và văn hóa tổ chức xanh. Mô hình giải thích được 73,8% sự biến thiên của đổi mới sáng tạo xanh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm để doanh nghiệp ưu tiên phát triển năng lực công nghệ, tri thức, lãnh đạo và văn hóa nhằm thúc đẩy đổi mới theo hướng bền vững.

Từ khóa: Đổi mới sáng tạo xanh, năng lực số, năng lực hấp thụ xanh, quản trị tri thức xanh, lãnh đạo chuyển đổi xanh, văn hóa tổ chức xanh, TP. Hồ Chí Minh

Abstract

This study identifies the factors influencing green innovation in enterprises in Ho Chi Minh City. Drawing on the resource-based view and dynamic capabilities theory, the study proposes five influencing factors: digital capabilities, green absorptive capacity, green knowledge management, green transformational leadership, and green organizational culture. Data were collected from 216 valid survey responses and analyzed using SPSS, with Cronbach’s Alpha, exploratory factor analysis (EFA), and multiple linear regression. The results show that all five factors have positive and statistically significant effects on green innovation. Digital capabilities have the strongest effect, followed by green transformational leadership, green absorptive capacity, green knowledge management, and green organizational culture. The model explains 73.8% of the variance in green innovation. These findings provide empirical evidence to help enterprises prioritize the development of technological capabilities, knowledge, leadership, and organizational culture to promote sustainable innovation.

Keywords: Green innovation, digital capabilities, green absorptive capacity, green knowledge management, green transformational leadership, green organizational culture, Ho Chi Minh City

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đổi mới sáng tạo xanh không chỉ liên quan đến việc phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường mà còn bao gồm cải tiến công nghệ, quy trình sản xuất và phương thức quản lý nhằm giảm tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng, chất thải và phát thải. Chen và cộng sự (2006) cho rằng đổi mới sáng tạo xanh có thể được thể hiện thông qua đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh, qua đó góp phần tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, quá trình chuyển đổi số diễn ra đồng thời với yêu cầu chuyển đổi xanh. Công nghệ số giúp doanh nghiệp thu thập, xử lý dữ liệu và kiểm soát hoạt động hiệu quả hơn; tuy nhiên, việc sở hữu công nghệ chưa đủ để tạo ra đổi mới. Doanh nghiệp còn cần khả năng tiếp nhận và chuyển hóa tri thức bên ngoài, cơ chế quản trị tri thức nội bộ, sự định hướng của lãnh đạo và một môi trường văn hóa khuyến khích các hành vi hướng đến môi trường.

Từ khoảng trống đó, nghiên cứu này xem xét đồng thời 5 yếu tố gồm năng lực số, năng lực hấp thụ xanh, quản trị tri thức xanh, lãnh đạo chuyển đổi xanh và văn hóa tổ chức xanh. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp nhằm thúc đẩy đổi mới gắn với phát triển bền vững.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource - Based View - RBV) và lý thuyết năng lực động làm nền tảng. Theo Barney (1991), lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được hình thành từ các nguồn lực có giá trị và khó bắt chước. Teece và cộng sự (1997) nhấn mạnh rằng trong môi trường biến động, doanh nghiệp cần khả năng tích hợp, xây dựng và tái cấu hình nguồn lực để thích ứng. Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo xanh, năng lực công nghệ, tri thức, lãnh đạo và văn hóa tổ chức có thể được xem là những nguồn lực và năng lực quan trọng giúp doanh nghiệp chuyển hóa các yêu cầu môi trường thành sản phẩm, quy trình và phương thức hoạt động mới.

Năng lực số phản ánh khả năng doanh nghiệp tiếp cận, tích hợp và khai thác công nghệ số trong hoạt động kinh doanh. Công nghệ số hỗ trợ theo dõi nguyên liệu, năng lượng và phát thải, đồng thời nâng cao tốc độ xử lý thông tin và khả năng kết nối giữa các bộ phận. Năng lực hấp thụ xanh thể hiện khả năng doanh nghiệp nhận diện, tiếp nhận, chuyển hóa và ứng dụng tri thức bên ngoài liên quan đến môi trường. Chen và cộng sự (2014) cho thấy năng lực hấp thụ xanh là một điều kiện quan trọng đối với kết quả đổi mới sáng tạo xanh. Quản trị tri thức xanh bao gồm các hoạt động thu nhận, lưu trữ, chia sẻ và ứng dụng tri thức về môi trường trong tổ chức; quá trình này giúp các ý tưởng về tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải và sản xuất sạch hơn được chuyển hóa thành sáng kiến thực tế. Khin và Ho (2019) cho thấy năng lực số có tác động tích cực đến đổi mới số và hiệu quả hoạt động của tổ chức.

Bên cạnh các nguồn lực công nghệ và tri thức, lãnh đạo chuyển đổi xanh và văn hóa tổ chức xanh tạo ra điều kiện tổ chức cho đổi mới. Chen và Chang (2013) cho rằng lãnh đạo chuyển đổi xanh có khả năng định hướng tầm nhìn môi trường, tạo động lực và khuyến khích nhân viên phát triển các ý tưởng xanh. Văn hóa tổ chức xanh phản ánh các giá trị, niềm tin và chuẩn mực chung liên quan đến bảo vệ môi trường; khi những giá trị này được chia sẻ rộng rãi, nhân viên có xu hướng chủ động hơn trong việc tìm kiếm và thực hiện các giải pháp cải tiến.

Các nghiên cứu gần đây tiếp tục củng cố vai trò của công nghệ số, quản trị tri thức và lãnh đạo xanh đối với đổi mới sáng tạo xanh. Vo-Thai và Tran (2025), trên cơ sở khảo sát 301 doanh nghiệp Việt Nam, cho thấy quản trị tri thức và số hóa có mối liên hệ quan trọng với đổi mới sáng tạo xanh và lợi thế cạnh tranh bền vững. Hoque và Lee (2025) cũng xác nhận chuyển đổi số nâng cao chất lượng đổi mới sáng tạo xanh tại doanh nghiệp, đặc biệt khi đi kèm đầu tư nghiên cứu và phát triển. Ở hướng tiếp cận dựa trên năng lực động, Chen và cộng sự (2026) chỉ ra rằng số hóa nội bộ và số hóa bên ngoài có thể cải thiện hiệu quả đổi mới sáng tạo xanh thông qua các cơ chế thu nhận và sử dụng tri thức khác nhau. Trong bối cảnh Việt Nam, Anh và cộng sự (2026) cho thấy lãnh đạo chuyển đổi xanh thúc đẩy hành vi đổi mới sáng tạo xanh của nhân viên thông qua chia sẻ tri thức xanh và niềm tin vào lãnh đạo. Tương tự, Makumbe và Lisita (2026) xác nhận mối quan hệ tích cực giữa lãnh đạo chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo xanh, đồng thời nhấn mạnh vai trò trung gian của chia sẻ tri thức xanh. Những bằng chứng này cho thấy việc tích hợp năng lực số, năng lực hấp thụ xanh, quản trị tri thức xanh, lãnh đạo chuyển đổi xanh và văn hóa tổ chức xanh trong cùng một mô hình là phù hợp với xu hướng nghiên cứu hiện nay.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giả thuyết gồm:

H1: Năng lực số có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp.

H2: Năng lực hấp thụ xanh có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp.

H3: Quản trị tri thức xanh có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp.

H4: Lãnh đạo chuyển đổi xanh có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp.

H5: Văn hóa tổ chức xanh có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp.

Mô hình nghiên cứu đề xuất được thể hiện tại Hình 1.

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

Mô hình hồi quy được đề xuất như sau:

GI = β0 + β1DC + β2GAC + β3GKM + β4GTL + β5GOC + ε.

Trong đó, GI là đổi mới sáng tạo xanh; DC là năng lực số; GAC là năng lực hấp thụ xanh; GKM là quản trị tri thức xanh; GTL là lãnh đạo chuyển đổi xanh; GOC là văn hóa tổ chức xanh; ε là sai số ngẫu nhiên.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát bằng bảng hỏi. Đối tượng khảo sát là các nhà quản lý và nhân sự có hiểu biết về hoạt động quản trị, công nghệ, đổi mới hoặc môi trường tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Thang đo được kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu trước cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. Các biến quan sát được đo bằng thang Likert 5 mức, từ 1 - hoàn toàn không đồng ý đến 5 - hoàn toàn đồng ý.

Mô hình nghiên cứu gồm năm biến độc lập và một biến phụ thuộc, tổng cộng có 25 biến quan sát. Trong đó, năng lực số gồm 4 biến; năng lực hấp thụ xanh gồm 4 biến; quản trị tri thức xanh gồm 5 biến; lãnh đạo chuyển đổi xanh gồm 4 biến; văn hóa tổ chức xanh gồm 4 biến và đổi mới sáng tạo xanh gồm 4 biến. Sau khi sàng lọc, nghiên cứu sử dụng 216 phiếu khảo sát hợp lệ để phân tích. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy tuyến tính bội.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm định độ tin cậy thang đo

Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy tốt. Cụ thể, thang đo năng lực số có Cronbach’s Alpha đạt 0,875; năng lực hấp thụ xanh đạt 0,856; quản trị tri thức xanh đạt 0,864; lãnh đạo chuyển đổi xanh đạt 0,863; văn hóa tổ chức xanh đạt 0,864; và đổi mới sáng tạo xanh đạt 0,855. Hệ số tương quan biến tổng hiệu chỉnh của các biến quan sát đều lớn hơn 0,3. Vì vậy, toàn bộ 25 biến quan sát được giữ lại để thực hiện các bước phân tích tiếp theo.

Bảng 1: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo

Ký hiệu

Thang đo

Số biến

Cronbach’s Alpha

Kết luận

DC

Năng lực số

4

0,875

Đạt

GAC

Năng lực hấp thụ xanh

4

0,856

Đạt

GKM

Quản trị tri thức xanh

5

0,864

Đạt

GTL

Lãnh đạo chuyển đổi xanh

4

0,863

Đạt

GOC

Văn hóa tổ chức xanh

4

0,864

Đạt

GI

Đổi mới sáng tạo xanh

4

0,855

Đạt

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu SPSS của nhóm tác giả

Phân tích nhân tố khám phá EFA

Đối với các biến độc lập, kết quả kiểm định KMO đạt 0,784 và kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000, cho thấy dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố khám phá. Kết quả EFA trích được năm nhân tố với tổng phương sai giải thích đạt 70,153%. Các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0,5, dao động từ 0,766 đến 0,865, thể hiện giá trị hội tụ tốt của các thang đo. Đối với biến phụ thuộc, KMO đạt 0,818, Bartlett có Sig. = 0,000 và một nhân tố được trích với tổng phương sai giải thích đạt 69,647%. Các hệ số tải của biến phụ thuộc dao động từ 0,824 đến 0,848.

Bảng 2: Tổng hợp kết quả EFA

Nhóm biến

KMO

Sig. Bartlett

Số nhân tố

Phương sai giải thích

Hệ số tải

Biến độc lập

0,784

0,000

5

70,153%

0,766-0,865

Biến phụ thuộc

0,818

0,000

1

69,647%

0,824-0,848

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu SPSS của nhóm tác giả

Kết quả hồi quy tuyến tính bội

Kết quả hồi quy cho thấy mô hình có hệ số R = 0,863, R² = 0,744 và R² hiệu chỉnh = 0,738. Như vậy, năm yếu tố trong mô hình giải thích được 73,8% sự biến thiên của đổi mới sáng tạo xanh. Kiểm định ANOVA cho thấy F = 122,157 với Sig. = 0,000, chứng tỏ mô hình hồi quy phù hợp với dữ liệu nghiên cứu. Hệ số Durbin-Watson đạt 1,800, nằm trong khoảng chấp nhận được.

Kết quả hệ số hồi quy cho thấy cả năm biến độc lập đều có ảnh hưởng cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến đổi mới sáng tạo xanh. Trong đó, năng lực số có hệ số Beta chuẩn hóa cao nhất, đạt 0,292; tiếp đến là lãnh đạo chuyển đổi xanh với Beta = 0,268; năng lực hấp thụ xanh với Beta = 0,237; quản trị tri thức xanh với Beta = 0,231; và văn hóa tổ chức xanh với Beta = 0,165. Các hệ số VIF dao động từ 1,289 đến 1,727, cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Do đó, các giả thuyết H1, H2, H3, H4 và H5 đều được chấp nhận.

Bảng 3: Kết quả hồi quy tuyến tính bội

Biến

B

Beta

t

Sig.

VIF

Kết luận

Hằng số

0,195

1,160

0,247

DC

0,227

0,292

6,371

0,000

1,727

Chấp nhận H1

GAC

0,210

0,237

5,918

0,000

1,317

Chấp nhận H2

GKM

0,204

0,231

5,352

0,000

1,533

Chấp nhận H3

GTL

0,230

0,268

6,374

0,000

1,449

Chấp nhận H4

GOC

0,138

0,165

4,163

0,000

1,289

Chấp nhận H5

R = 0,863;

R² = 0,744;

R² hiệu chỉnh = 0,738;

F = 122,157;

Sig. ANOVA = 0,000;

Durbin-Watson = 1,800.

Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu SPSS của nhóm tác giả

THẢO LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực số là yếu tố có tác động mạnh nhất đến đổi mới sáng tạo xanh. Điều này cho thấy công nghệ số không chỉ hỗ trợ nâng cao hiệu quả vận hành mà còn tạo nền tảng để doanh nghiệp nhận diện và triển khai các giải pháp giảm sử dụng tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và kiểm soát các tác động môi trường. Trong bối cảnh doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh đang đồng thời thực hiện chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, kết quả này hàm ý rằng hai quá trình cần được tích hợp thay vì triển khai tách biệt.

Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu gần đây. Vo-Thai và Tran (2025) cho thấy số hóa và quản trị tri thức là những nền tảng quan trọng của đổi mới sáng tạo xanh tại doanh nghiệp Việt Nam; Hoque và Lee (2025) cũng ghi nhận tác động tích cực của chuyển đổi số đến chất lượng đổi mới sáng tạo xanh. Phát hiện về vai trò của lãnh đạo chuyển đổi xanh phù hợp với nghiên cứu của Anh và cộng sự (2026) trong bối cảnh ngành bán lẻ Việt Nam và Makumbe và Lisita (2026), khi các nghiên cứu này đều nhấn mạnh khả năng của lãnh đạo xanh trong việc kích thích chia sẻ tri thức và hành vi đổi mới hướng đến môi trường. Bên cạnh đó, kết quả về quản trị tri thức xanh phù hợp với nghiên cứu của Chen và cộng sự (2026), qua đó cho thấy tri thức là cơ chế quan trọng giúp chuyển hóa đầu tư số thành kết quả đổi mới sáng tạo xanh.

Lãnh đạo chuyển đổi xanh có tác động mạnh thứ hai, khẳng định vai trò của người lãnh đạo trong việc hình thành tầm nhìn môi trường, phân bổ nguồn lực và tạo động lực cho nhân viên tham gia đổi mới. Năng lực hấp thụ xanh và quản trị tri thức xanh cũng có ảnh hưởng đáng kể, cho thấy đổi mới sáng tạo xanh phụ thuộc không chỉ vào việc doanh nghiệp có được thông tin và tri thức mới mà còn vào khả năng chuyển hóa, chia sẻ và ứng dụng tri thức đó. Văn hóa tổ chức xanh có mức tác động thấp hơn nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê, phản ánh vai trò nền tảng của các giá trị và chuẩn mực môi trường trong việc duy trì hành vi đổi mới lâu dài.

Từ kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp cần ưu tiên phát triển năng lực số thông qua đầu tư vào hệ thống dữ liệu, công nghệ tự động hóa và các công cụ theo dõi tiêu thụ nguyên vật liệu, năng lượng và phát thải. Đồng thời, lãnh đạo cần xây dựng tầm nhìn xanh rõ ràng, dành nguồn lực cho các dự án đổi mới và thiết lập cơ chế khuyến khích sáng kiến của nhân viên. Doanh nghiệp cũng cần mở rộng hợp tác với nhà cung cấp, khách hàng, trường đại học và viện nghiên cứu để nâng cao năng lực hấp thụ xanh; xây dựng cơ chế lưu trữ và chia sẻ tri thức môi trường giữa các bộ phận; đồng thời lồng ghép các giá trị bảo vệ môi trường vào hoạt động đào tạo, truyền thông nội bộ và đánh giá hiệu quả công việc.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo xanh của doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên quan điểm dựa trên nguồn lực và lý thuyết năng lực động, nghiên cứu đề xuất 5 yếu tố gồm năng lực số, năng lực hấp thụ xanh, quản trị tri thức xanh, lãnh đạo chuyển đổi xanh và văn hóa tổ chức xanh.

Kết quả phân tích từ 216 phiếu khảo sát hợp lệ cho thấy các thang đo đạt độ tin cậy, EFA phù hợp và mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê. Cả 5 yếu tố đều ảnh hưởng tích cực đến đổi mới sáng tạo xanh. Trong đó, năng lực số có tác động mạnh nhất, tiếp đến là lãnh đạo chuyển đổi xanh, năng lực hấp thụ xanh, quản trị tri thức xanh và văn hóa tổ chức xanh. Mô hình giải thích được 73,8% sự biến thiên của đổi mới sáng tạo xanh. Kết quả góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về vai trò kết hợp của nguồn lực công nghệ, tri thức và tổ chức đối với đổi mới sáng tạo xanh trong bối cảnh doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, nghiên cứu còn một số hạn chế. Dữ liệu được thu thập tại TP. Hồ Chí Minh và theo phương pháp cắt ngang, do đó khả năng khái quát hóa kết quả cho các địa phương khác cần được xem xét thận trọng và nghiên cứu chưa phản ánh được sự thay đổi của đổi mới sáng tạo xanh theo thời gian. Bên cạnh đó, mô hình mới tập trung vào 5 yếu tố trong khi đổi mới sáng tạo xanh có thể còn chịu ảnh hưởng bởi áp lực thể chế, định hướng môi trường, nguồn lực tài chính, yêu cầu của khách hàng và chuỗi cung ứng. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa phương khác, so sánh giữa các nhóm ngành hoặc quy mô doanh nghiệp, đồng thời bổ sung biến trung gian hoặc điều tiết để làm rõ hơn cơ chế hình thành đổi mới sáng tạo xanh.

Tài liệu tham khảo

1. Anh, D. V. P., Tuyen, B. Q., & Nguyen, P. M. (2026). Expanding the social exchange theory to examine the impact of green transformational leadership on green innovative work behaviors of employees in the Vietnamese retail industry. Discover Sustainability, 7, 870.

2. Barney, J. (1991). Firm resources and sustained competitive advantage. Journal of Management, 17(1), 99-120.

3. Chen, L., Li, C., Dai, Y., Dong, X., & Ren, F. (2026). Achieving green innovation performance through divergent internal and external digitalization pathways: The mediating role of knowledge management. Business Process Management Journal. Advance online publication.

4. Chen, Y. S., & Chang, C. H. (2013). The determinants of green product development performance: Green dynamic capabilities, green transformational leadership, and green creativity. Journal of Business Ethics, 116(1), 107-119.

Chen, Y. S., Chang, C. H., & Lin, Y. H. (2014). The determinants of green radical and incremental innovation performance: Green shared vision, green absorptive capacity, and green organizational ambidexterity. Sustainability, 6(11), 7787-7806.

5. Chen, Y. S., Lai, S. B., & Wen, C. T. (2006). The influence of green innovation performance on corporate advantage in Taiwan. Journal of Business Ethics, 67(4), 331-339.

6. Hoque, M. M., & Lee, S.-J. (2025). How digital transformation drives green innovation: An empirical study. Journal of Cleaner Production, 522, 146236.

7. Khin, S., & Ho, T. C. F. (2019). Digital technology, digital capability and organizational performance: A mediating role of digital innovation. International Journal of Innovation Science, 11(2), 177-195.

8. Makumbe, W., & Lisita, T. (2026). The mediating role of green knowledge sharing on the relationship between green transformational leadership and green innovation. International Journal of Organizational Analysis, 34(12), 330-350.

9. Teece, D. J., Pisano, G., & Shuen, A. (1997). Dynamic capabilities and strategic management. Strategic Management Journal, 18(7), 509-533.

10. Vo-Thai, H.-C., & Tran, M.-L. (2025). Green innovation strategies in Vietnamese enterprises: Leveraging knowledge management and digitalization for sustainable competitiveness. Journal of Knowledge Management, 29(4), 1055-1091.

Ngày nhận bài: 15/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/10/2026; Ngày duyệt đăng: 20/10/2026

Các tin khác

Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam

Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển nền kinh tế dữ liệu tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực phát triển, cần có hệ thống thể chế phù hợp nhằm xác lập quyền, thúc đẩy chia sẻ, khai thác và bảo đảm an toàn dữ liệu
Phát triển mô hình nghiên cứu về tác động của năng lực vận tải đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Vai trò trung gian của chiến lược chi phí thấp

Phát triển mô hình nghiên cứu về tác động của năng lực vận tải đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp: Vai trò trung gian của chiến lược chi phí thấp

Trong môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh, khả năng tổ chức và vận hành hoạt động vận tải hiệu quả không còn đơn thuần là một chức năng hỗ trợ mà đang trở thành một nguồn lực chiến lược có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trải nghiệm người tiêu dùng, marketing xanh, hình ảnh thương hiệu xanh và sự hài lòng của người tiêu dùng: Khung nghiên cứu đề xuất

Trải nghiệm người tiêu dùng, marketing xanh, hình ảnh thương hiệu xanh và sự hài lòng của người tiêu dùng: Khung nghiên cứu đề xuất

Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng trải nghiệm và trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các thương hiệu không còn chỉ dựa trên giá cả hay đặc tính chức năng của sản phẩm mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng tạo ra trải nghiệm tích cực và xây dựng hình ảnh thương hiệu có trách nhiệm
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán tại doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu thế chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, các doanh nghiệp hiện nay đang ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động vận hành nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tối ưu hóa quy trình quản trị. Đối với công tác kế toán, việc chuyển đổi từ phương thức truyền thống sang kế toán dựa trên nền tảng công nghệ thông tin không chỉ giúp tăng tốc độ xử lý dữ liệu, đảm bảo tính chính xác và minh bạch mà còn cung cấp thông tin tài chính kịp thời, hỗ trợ đắc lực cho các quyết định quản trị trong môi trường kinh doanh đầy biến động (Ratmono và cộng sự, 2023).
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng số của nguồn nhân lực logistics tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thích ứng số của nguồn nhân lực logistics tại TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số trong logistics đặt ra yêu cầu điều chỉnh đồng thời công nghệ, quy trình và phương thức phối hợp của người lao động. Việc triển khai hệ thống quản lý kho, quản lý vận tải và chứng từ điện tử đòi hỏi nhân viên không chỉ sử dụng thành thạo công cụ hiện hành mà còn có khả năng tiếp nhận thay đổi, cập nhật kiến thức và duy trì hiệu quả công việc. Vì vậy, năng lực thích ứng số là một khía cạnh cần được xem xét trong phát triển nguồn nhân lực logistics.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng AI của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng AI của sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh đang làm thay đổi cách sinh viên tiếp cận tri thức. Theo khảo sát của Digital Education Council trên 3.839 sinh viên tại 16 quốc gia, 86% sinh viên đã sử dụng AI trong học tập và 54% sử dụng ít nhất hằng tuần; song 58% tự đánh giá chưa đủ kiến thức về AI, và 2 mối lo lớn nhất là an toàn dữ liệu cùng độ tin cậy của nội dung do AI tạo ra.
Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo của sinh viên thông qua các công cụ AI: Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng cơ sở dữ liệu Scopus

Nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo của sinh viên thông qua các công cụ AI: Phân tích trắc lượng thư mục sử dụng cơ sở dữ liệu Scopus

AI hiện nay đang tác động sâu rộng trên mọi lĩnh vực, bao gồm cả giáo dục, giúp nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của sinh viên.
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh

Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh ghi nhận tốc độ mở rộng kênh bán hàng nhanh nhất trong cả nước. Sự chồng chéo của các kênh bán hàng tạo ra hiện tượng người tiêu dùng không còn trung thành với một kênh duy nhất, mà thực hiện mua sắm qua nhiều kênh khác nhau.
Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác

Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác

Việc phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Yok Đôn đặt ra yêu cầu không chỉ là giảm thiểu tác động môi trường của hoạt động du lịch, mà còn phải xem xét cách thức các nguồn lực tự nhiên, xã hội và kinh tế được duy trì, phục hồi và tiếp tục tham gia vào quá trình phát triển.
Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

Chuyển đổi số đang tái định hình hoạt động quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học, tuy nhiên mức độ hiệu quả vẫn khác biệt giữa các cơ sở dù có mức đầu tư công nghệ tương đương.