Tiếp cận du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại vườn quốc gia Yok Đôn từ lý thuyết tái sản xuất của C. Mác
ThS. Vũ Thị Việt Anh
Trường Đại học Tây Nguyên
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu vận dụng lý luận tái sản xuất của C. Mác để đề xuất khung phân tích phát triển du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn tại Vườn quốc gia Yok Đôn. Theo đó, nghiên cứu tiếp cận du lịch sinh thái như một quá trình liên tục tạo ra và tái tạo các điều kiện phát triển. Tính tuần hoàn được thể hiện ở khả năng tái tạo đồng thời: (1) Lực lượng sản xuất gồm: nguồn nhân lực, tài nguyên tự nhiên, văn hóa truyền thống và hạ tầng du lịch; (2) Quan hệ sản xuất gồm: sở hữu, hợp tác và phân phối lợi ích. Trong đó, phân phối lợi ích và tái đầu tư giữ vai trò điều tiết: từ giá trị du lịch đến phân phối, tái đầu tư, tái tạo điều kiện tự nhiên và xã hội. Qua đó, nghiên cứu đề xuất cách tiếp cận giúp Vườn quốc gia Yok Đôn chuyển từ “khai thác tài nguyên” sang “phát triển gắn với tái tạo các điều kiện phát triển”.
Từ khoá: Tái sản xuất, du lịch sinh thái, kinh tế tuần hoàn, Vườn quốc gia Yok Đôn
Abstract
This study applies Karl Marx’s theory of reproduction to propose an analytical framework for developing ecotourism based on a circular economy approach at Yok Don National Park. Accordingly, ecotourism is conceptualized as a continuous process of creating and reproducing the conditions necessary for development. Circularity is reflected in the simultaneous reproduction of: (1) the productive forces, comprising human resources, natural resources, traditional culture, and tourism infrastructure; and (2) the relations of production, encompassing ownership, cooperation, and benefit distribution. Benefit distribution and reinvestment play a regulatory role in this process, linking tourism value creation to the distribution and reinvestment of benefits and to the regeneration of natural and social conditions. On this basis, the study proposes an approach to help Yok Don National Park shift from “resource exploitation” toward “development grounded in the regeneration of the conditions for development.”
Keywords: Reproduction, ecotourism, circular economy, Yok Don National Park
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vườn quốc gia (VQG) Yok Đôn có giá trị nổi bật về hệ sinh thái, đa dạng sinh học và văn hóa, đồng thời là không gian sinh kế của cộng đồng địa phương. Việc phát triển du lịch sinh thái (DLST) tại VQG đặt ra yêu cầu không chỉ là giảm thiểu tác động môi trường của hoạt động du lịch, mà còn phải xem xét cách thức các nguồn lực tự nhiên, xã hội và kinh tế được duy trì, phục hồi và tiếp tục tham gia vào quá trình phát triển. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tạo ra giá trị, phân phối và tái tạo các điều kiện của quá trình phát triển của DLST theo định hướng kinh tế tuần hoàn (KTTH) ở các công trình nghiên cứu chưa được lý giải đầy đủ. Khoảng trống này gợi mở nhu cầu vận dụng lý luận tái sản xuất (TSX) xã hội của C. Mác để nhìn nhận DLST là một quá trình cần liên tục tái tạo những điều kiện bảo đảm cho sự vận động của chính nó. Từ đó, nghiên cứu lựa chọn VQG Yok Đôn làm trường hợp nghiên cứu nhằm xây dựng một khung phân tích phù hợp với đặc điểm tài nguyên, chủ thể và quan hệ kinh tế - xã hội của hoạt động DLST tại địa bàn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
Lý luận tái sản xuất của C. Mác
Lý luận TSX xã hội của C. Mác cung cấp cơ sở để xem xét sản xuất không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một quá trình liên tục, trong đó các điều kiện vật chất, con người và các quan hệ xã hội của sản xuất được tái tạo qua các chu kỳ. C. Mác khẳng định: “mọi quá trình sản xuất xã hội đồng thời cũng là quá trình TSX” (C. Mác và Ph.Ăng-ghen, 2004, tập 23, tr.799). Vì vậy, sản xuất muốn được duy trì phải đồng thời tái tạo những điều kiện cần thiết cho chu kỳ tiếp theo.
TSX trước hết đòi hỏi tái tạo các điều kiện vật chất và con người của sản xuất. Một phần sản phẩm phải được chuyển hóa trở lại thành tư liệu sản xuất hoặc các yếu tố của quá trình sản xuất mới; đồng thời sức lao động phải được duy trì và tái tạo. Do đó, TSX không đơn thuần là sự lặp lại quá trình sản xuất, mà là sự tái tạo liên tục các điều kiện vật chất và sức lao động, bảo đảm quá trình sản xuất có thể tiếp tục và phát triển qua các chu kỳ (C. Mác và Ph.Ăng-ghen, 2004, tập 23, tr.779, 808).
TSX không chỉ tái tạo tư liệu sản xuất và sức lao động mà còn TSX các quan hệ xã hội trong đó quá trình sản xuất được tổ chức và vận hành. C. Mác chỉ rõ, quá trình TSX tư bản chủ nghĩa không chỉ sản xuất hàng hóa và giá trị thặng dư mà còn “sản xuất và TSX ra bản thân quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa” (C. Mác và Ph.Ăng-ghen, 2004, tập 23, tr.816). Ở phạm vi xã hội, sự TSX còn gắn với sự vận động và trao đổi giữa các bộ phận của tổng sản phẩm xã hội, qua đó các yếu tố của quá trình này có thể trở thành điều kiện đầu vào của quá trình khác. Trong nghiên cứu này, quan hệ phân phối được đặc biệt chú ý không chỉ với tư cách là sự phân chia kết quả sản xuất, mà còn là cơ chế phân bổ một phần giá trị trở lại để tái tạo các điều kiện của quá trình sản xuất tiếp theo. Cách tiếp cận này tạo cơ sở để phân tích mối quan hệ giữa tạo ra giá trị, phân phối và TSX trong phát triển DLST.
Cơ sở phương pháp luận cho kinh tế tuần hoàn
Trong lý luận về tiết kiệm tư bản bất biến, C. Mác chỉ ra rằng, phế liệu phát sinh từ sản xuất không nhất thiết bị loại bỏ mà có thể được thu hồi, trở thành nguyên liệu cho chính ngành đó hoặc ngành khác; khả năng này phụ thuộc vào trình độ lao động, máy móc và công nghệ (C. Mác và Ph. Ăng-ghen, 2004,Tập 25(I), tr. 159-162). Điều đó cho thấy ranh giới giữa sản phẩm, phế liệu và đầu vào không cố định mà thay đổi cùng sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy, chất thải cần được đặt trong toàn bộ quá trình vận động và TSX, trong đó kết quả của một chu kỳ có thể trở thành điều kiện cho chu kỳ tiếp theo. Tuy nhiên, tuần hoàn vật chất không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn mang tính kinh tế - xã hội: lực lượng sản xuất tạo ra khả năng vật chất - kỹ thuật, còn quan hệ sản xuất tạo lập cơ chế tổ chức và lợi ích để hiện thực hóa khả năng đó. Vận dụng vào DLST, yêu cầu tuần hoàn không chỉ là giảm và xử lý chất thải mà còn phải duy trì, phục hồi các nguồn lực tự nhiên, con người và xã hội tạo nên giá trị du lịch. Do đó, vấn đề cốt lõi chuyển từ “xử lý chất thải” sang bảo đảm các nguồn lực và điều kiện tạo giá trị được duy trì, tái tạo và tiếp tục tham gia vào chu kỳ phát triển tiếp theo. Đây là cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu DLST theo định hướng KTTH tại VQG Yok Đôn.
Khung phân tích du lịch sinh thái tuần hoàn tại Vườn quốc gia Yok Đôn
Vận dụng lý luận TSX của C. Mác, việc tiếp cận phát triển DLST theo hướng KTTH tại VQG Yok Đôn được định hình qua 4 trụ cột phân tích (Hình).
Hình: Khung phân tích phát triển du lịch sinh thái tuần hoàn tại Vườn quốc gia Yok Đôn
![]() |
Nguồn: Đề xuất của tác giả
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Các điều kiện đầu vào
Tài nguyên tự nhiên và cảnh quan
VQG Yok Đôn sở hữu diện tích tự nhiên 115.545,00 ha, trải dài trên địa giới hành chính của 4 xã (Ea Súp, Ea Bung, Buôn Đôn thuộc thuộc tỉnh Đắk Lắk và xã Đắk Wil tỉnh Lâm Đồng). VQG nằm trọn trên bán bình nguyên Ea Súp với địa hình khá bằng phẳng, đồi lượn sóng nhẹ với độ cao trung bình 200-300 mn. Khí hậu khu vực mang đặc trưng gió mùa nhiệt đới cao nguyên khô nóng, phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11); mùa khô (tháng 12 đến tháng 4 năm sau). Mạng lưới thủy văn nổi bật với dòng sông Sêrêpôk chảy qua VQG dài 60 km. Do sông chảy qua các bậc thềm của cao nguyên nên đã hình thành nhiều ghềnh, thác hùng vĩ như thác Bảy Nhánh, thác Phật, thác Văm. Bên cạnh đó, hệ thống suối nội vùng (Đắk Nor, Đắk Na, Đắk Ruê...) dốc và hẹp, kết hợp cùng các công trình hồ chứa như hồ Đắk Minh đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nước sinh thái và tạo cảnh quan du lịch.
VQG Yok Đôn là điểm đến hấp dẫn về đa dạng sinh học khi bảo tồn hệ sinh thái “rừng khộp” (rừng gỗ lá rộng rụng lá mùa khô) độc nhất vô nhị tại Việt Nam, chiếm tới 88,73% diện tích rừng tự nhiên. Khu hệ động, thực vật phong phú với với 1.118 loài thực vật, 650 loài động vật, trong đó có nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm như voi, bò tót, các loài thú móng guốc, các loài cây gỗ và thuốc quý (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026).
Kết cấu hạ tầng du lịch
VQG có khả năng kết nối với khu vực thông qua Quốc lộ 14C và tỉnh lộ 1A; bên trong Vườn có các tuyến đường ô tô, đường mòn và đường tuần tra tiếp cận các trạm bảo vệ rừng và điểm du lịch. Khoảng 200 km đường tuần tra và bảo vệ rừng đã được đầu tư xây dựng, cải tạo, vừa phục vụ quản lý tài nguyên vừa tạo điều kiện tổ chức các hoạt động du lịch trải nghiệm bằng xe máy, xe đạp. Hồ Buôn Đrăng Phôk có diện tích mặt nước 33,17 ha, vừa cung cấp và điều tiết nước cho cộng đồng, vừa hỗ trợ duy trì cảnh quan, sinh cảnh tự nhiên và phòng cháy, chữa cháy rừng
Hệ thống lưu trú và dịch vụ du lịch: Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ VQG Yok Đôn hiện có 18 phòng nghỉ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026); khu nhà dịch vụ, căn tin và nhà bếp, có khả năng cung ứng suất ăn cho khách du lịch, khách nghiên cứu và các nhóm khách lớn, qua đó bước đầu hình thành chuỗi dịch vụ lưu trú - ăn uống ngay tại điểm đến.
Tại các cơ sở kinh doanh du lịch trong khu vực Yok Đôn, năng lực cung ứng dịch vụ có sự đa dạng hơn với hàng chục nhà lưu trú, nhà nghỉ dưỡng, khu dịch vụ ăn uống, khu vui chơi giải trí và quầy bán hàng lưu niệm...
Lực lượng lao động, tri thức và các giá trị văn hóa cộng đồng
Lực lượng lao động phục vụ hoạt động quản lý và phát triển DLST tại VQG Yok Đôn hiện được hình thành từ đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động của Vườn và lực lượng lao động tại các cộng đồng dân cư trong khu vực.
Về phía VQG, tổng số viên chức và người lao động là 184 người, trong đó 45% có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, tập trung chủ yếu ở Hạt Kiểm lâm với 146 người, Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ có 9 người.
Khu vực Vườn quản lý gồm các xã trong lâm phần và vùng đệm, với 24.933 hộ và 100.676 nhân khẩu; lực lượng trong độ tuổi 18-60 chiếm khoảng 65% dân số. Khu vực có 18 nhóm dân tộc với những đặc trưng văn hóa khác nhau (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026).
Nguồn lực văn hóa tại khu vực VQG khá phong phú, gắn với sự cư trú lâu đời và giao thoa văn hóa của nhiều cộng đồng dân tộc như Kinh, Ê Đê, M’Nông, Mường, Tày, Lào… tạo nên không gian văn hóa đa dạng. Các giá trị văn hóa được thể hiện qua hệ thống phong tục, kiến trúc, lễ hội và nghề truyền thống. Nổi bật là Không gian văn hóa Cồng Chiêng được UNESCO ghi nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Bên cạnh đó, lịch sử săn bắt và thuần dưỡng voi tạo nên các giá trị văn hóa đặc trưng. Kiến trúc nhà dài Ê Đê, M’Nông và hệ thống nhà mồ tại Buôn Đôn cũng phản ánh rõ đặc trưng văn hóa và đời sống cộng đồng.
Hệ thống lễ hội địa phương tương đối đa dạng, gồm Lễ hội Voi, lễ ăn trâu, lễ bỏ mã và Tết Bunpimay của người Lào. Các lễ hội kết hợp nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa như cồng chiêng, múa hát, nghi lễ cộng đồng và tín ngưỡng truyền thống, tạo nên những giá trị có khả năng gắn kết với hoạt động tham quan, trải nghiệm văn hóa của du khách.
Sự phát triển lực lượng sản xuất cho du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn ở Vườn quốc gia Yok Đôn
Sự phát triển về đối tượng lao động và tư liệu lao động
VQG đang khai thác hệ sinh thái rừng khộp đặc hữu thông qua các tuyến, điểm DLST như Thác 7 nhánh, Thác Phật và các tuyến dã ngoại nội khu. Các hoạt động chủ yếu là cắm trại, picnic, tắm thác, đạp xe và đi bộ xuyên rừng.
Đáng chú ý, việc đưa mô hình “Du lịch thân thiện với Voi” vào vận hành thể hiện bước tiến mới trong khai thác tài nguyên động vật hoang dã. Thay vì bóc lột sức lao động của voi qua dịch vụ cưỡi voi truyền thống, Vườn khai thác giá trị trải nghiệm bằng cách cho du khách quan sát voi tìm kiếm thức ăn tự do, duy trì khoảng cách an toàn. Điều này giảm thiểu tác động tiêu cực đến sinh cảnh và sức khỏe của voi (Vườn quốc gia Yok Đôn, n.d.).
Về kết cấu hạ tầng, khả năng vận hành dịch vụ lưu trú và ẩm thực nội khu của VQG Yok Đôn chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, đáp ứng nhu cầu cơ bản cho các đoàn nghiên cứu, hội thảo và nhóm khách quy mô nhỏ thông qua việc sử dụng linh hoạt hệ thống căn tin, nhà bếp. Ở các cơ sở phụ cận (Công ty Bản Đôn, Trung tâm Du lịch Buôn Đôn, Công ty Ánh Dương), việc khai thác tư liệu lao động đã có sự lồng ghép giữa cơ sở lưu trú, nhà ăn với các chuỗi dịch vụ trải nghiệm văn hóa sông nước, tham quan buôn làng và giải trí mặt hồ.
Tuy nhiên, việc khai thác tư liệu lao động giữa VQG và các doanh nghiệp phụ cận còn đơn điệu, chưa tạo thành chuỗi giá trị khép kín. Hoạt động kinh doanh du lịch, ẩm thực và lưu trú chưa gắn kết với các giải pháp tiết kiệm năng lượng hay giảm thiểu xả thải. Hiện tại, chất thải từ DLST chủ yếu được thu gom thủ công và chuyển ra ngoài bằng xe rác của xã. Khu vực hoàn toàn thiếu hụt hệ thống xử lý chất thải rắn tại chỗ và công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt để tái sử dụng. Một số công trình hạ tầng có chức năng phục vụ cộng đồng và bảo tồn như hồ Buôn Đrăng Phôk chưa được tích hợp vào hệ thống cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động du lịch. Vì vậy, giữa các loại tư liệu sản xuất hiện có và quá trình cung ứng dịch vụ du lịch vẫn còn khoảng cách, khả năng khai thác tổng hợp các nguồn lực chưa tương xứng với tiềm năng.
Phát triển nguồn nhân lực và phát huy tri thức, giá trị văn hóa truyền thống
Quá trình sản xuất dịch vụ du lịch đã có sự tham gia của đội ngũ cán bộ VQG và cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, nhân lực trực tiếp cho du lịch của VQG còn mỏng khi Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ chỉ có 9 người. Đội ngũ làm du lịch chủ yếu được điều động, luân chuyển từ các đơn vị khác và chưa được đào tạo chuyên sâu về du lịch, dẫn đến những khó khăng trong tổ chức, điều hành và tính chuyên nghiệp của hoạt động DLST.
Giá trị văn hóa của đồng bào Ê-đê, M'nông ở vùng đệm bước đầu được đưa vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch. Sự tham gia của người dân trong các tour trải nghiệm ẩm thực (như trực tiếp hướng dẫn và cùng du khách chế biến các món canh cà đắng, thịt nướng ống tre tại Buôn Jang Lành), biểu diễn nhạc cụ dân tộc, dệt thổ cẩm, lái thuyền độc mộc (tại Buôn Ndrech) hay phục vụ cồng chiêng đã biến tri thức văn hoá truyền thống thành một dạng tài nguyên du lịch sống động, gia tăng chiều sâu văn hóa cho du khách mà không tốn chi phí đầu tư hạ tầng kiên cố. Tuy nhiên, lực lượng lao động cộng đồng phần lớn chưa qua đào tạo về kỹ năng du lịch, quy trình phục vụ chuẩn mực và ngoại ngữ, gây khó khăn khi tiếp xúc với các đoàn khách quốc tế hoặc khách đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao. Người dân địa phương chủ yếu mới chỉ tham gia ở các công đoạn lao động chân tay hoặc trình diễn văn hóa đơn thuần theo tính chất “sẵn có”, chưa tham gia vào khâu thiết kế và quản trị các chuỗi giá trị DLST phức tạp.
Quan hệ sản xuất và cơ chế phân phối lợi ích
Quan hệ sở hữu và quyền tiếp cận
Quan hệ sở hữu và quyền tiếp cận nguồn lực du lịch tại VQG được xác lập trên cơ sở phân định giữa quyền quản lý, bảo vệ tài nguyên và quyền tham gia khai thác các giá trị du lịch:
Quyền quản lý của Ban quản lý VQG: Thuộc sở hữu Nhà nước, giao Ban quản lý trực tiếp quản lý, bảo vệ hệ sinh thái rừng khộp trên tổng diện tích 115.545 ha. BQL giữ thẩm quyền phê duyệt quy hoạch du lịch, giới hạn sức chứa du khách và điều phối toàn bộ hoạt động khai thác trên địa bàn.
Quyền tiếp cận & khai thác của doanh nghiệp: Doanh nghiệp du lịch tiếp cận tài nguyên thông qua hình thức thuê môi trường rừng hoặc ký hợp đồng liên kết tuyến/điểm du lịch. Quyền này bị ràng buộc nghiêm ngặt theo Luật Lâm nghiệp, không được làm thay đổi diện tích hay cấu trúc rừng tự nhiên.
Quyền tiếp cận của cộng đồng vùng đệm: Cư dân ở vùng đệm được tiếp cận rừng thông qua chính sách giao khoán bảo vệ rừng, khai thác lâm sản phụ theo quy định và khai thác giá trị văn hóa địa phương (như mô hình du lịch cộng đồng tại Buôn Jang Lành) để phát triển dịch vụ.
Quan hệ tổ chức và hợp tác
Quan hệ tổ chức và hợp tác trong hoạt động DLST tại Yok Đôn được hình thành giữa VQG, doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức hỗ trợ.
VQG thực hiện chức năng quản lý tài nguyên, tổ chức một số hoạt động DLST và kiểm soát tác động đến rừng; doanh nghiệp đảm nhận đầu tư và cung ứng dịch vụ; cộng đồng tham gia các dịch vụ gắn với văn hóa và sinh kế địa phương. Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ hiện đảm nhiệm bán vé, hướng dẫn và tổ chức một số tour trải nghiệm. Khu vực VQG và vùng lân cận có doanh nghiệp đầu tư vào lưu trú, ăn uống, vui chơi và các sản phẩm như du thuyền, tham quan buôn làng, biểu diễn văn hóa và trải nghiệm voi.
Một biểu hiện rõ nét của sự tham gia của các tổ chức quốc tế vào quá trình chuyển đổi phương thức tổ chức du lịch tại VQG Yok Đôn là chương trình hợp tác với Animals Asia Foundation (AAF) để chuyển từ du lịch cưỡi voi sang mô hình du lịch quan sát, trải nghiệm voi trong môi trường tự nhiên (Vietnam News Agency, 2018). Đây là biểu hiện của sự thay đổi trong phương thức tổ chức và phối hợp nguồn lực, hướng hoạt động du lịch đồng thời phục vụ mục tiêu tạo giá trị và bảo tồn.
Quan hệ phân phối lợi ích và cơ chế tái đầu tư
Quan hệ phân phối lợi ích từ DLST tại VQG Yok Đôn thể hiện trước hết qua nguồn thu trực tiếp từ hoạt động du lịch và phần đóng góp vào ngân sách nhà nước. Giai đoạn 2020-2025, VQG đón 57.936 lượt khách, tạo tổng doanh thu 8,974 tỷ đồng và nộp ngân sách 1,334 tỷ đồng. Riêng giai đoạn 2023-2025, doanh thu đạt 6,442 tỷ đồng, trong đó trải nghiệm voi đóng góp lớn nhất với 2,816 tỷ đồng, tiếp đến là căn tin và nhà bếp 1,622 tỷ đồng, phí tham quan 740 triệu đồng, lưu trú 634 triệu đồng và hướng dẫn, tour 432 triệu đồng (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Cơ cấu này cho thấy giá trị du lịch được tạo ra từ nhiều loại dịch vụ, trong đó các sản phẩm gắn với voi và dịch vụ phục vụ khách giữ vai trò đáng kể.
Sự phân phối của các chủ thể khác được thể hiện chủ yếu ở doanh nghiệp và cộng đồng. Doanh nghiệp tham gia thông qua đầu tư cơ sở vật chất, tổ chức lưu trú, ăn uống, vận chuyển và xây dựng sản phẩm, từ đó tạo doanh thu và thu nhập từ các dịch vụ cung cấp cho khách. Trong khi đó, cộng đồng địa phương chủ yếu tham gia với tư cách người lao động và nhà cung cấp các dịch vụ dựa trên tài nguyên văn hóa và trải nghiệm đời sống địa phương. Hình thức này cho thấy lợi ích từ du lịch đã được chuyển đến hộ dân thông qua việc tạo việc làm và thu nhập. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong chuỗi giá trị vẫn chủ yếu tập trung ở những dịch vụ có quy mô nhỏ, dựa vào lao động hộ gia đình và giá trị văn hóa địa phương.
Xét về cơ chế tái đầu tư, nguồn thu từ du lịch tạo ra nguồn lực để VQG duy trì hoạt động dịch vụ và thực hiện chức năng quản lý, đồng thời tạo doanh thu cho doanh nghiệp và thu nhập cho người lao động, hộ gia đình tham gia cung ứng dịch vụ. Một đặc điểm đáng chú ý tại Yok Đôn là đầu tư du lịch không hoàn toàn tách biệt với đầu tư bảo tồn. Đến năm 2025, VQG Yok Đôn đã đầu tư 39 tỷ đồng xây dựng tuyến đường kết hợp tuần tra, quản lý bảo vệ rừng và phục vụ du lịch, nối 2 điểm du lịch Thác Phật và Thác 7 Nhánh, với tổng chiều dài 16,05 km. Công trình này cho thấy đầu tư cho hạ tầng không chỉ tạo điều kiện nâng cao khả năng tiếp cận các điểm du lịch mà còn phục vụ trực tiếp công tác quản lý, bảo vệ rừng, củng cố điều kiện vật chất cho việc duy trì tài nguyên.
Tạo lập các điều kiện cho quá trình tái sản xuất du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn
Đề án DLST, nghỉ dưỡng, giải trí VQGYok Đôn đến năm 2030 đã được phê duyệt thể hiện tương đối đầy đủ các khía canh của việc tạo lập các điều kiện cho quá trình TSX toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - kỹ thuật và xã hội cho phát triển DLST theo định hướng VQG (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Cụ thể:
Tái tạo điều kiện tự nhiên
Sự vận hành của các hoạt động du lịch trong Đề án được thiết kế theo cơ chế “lấy du lịch nuôi bảo tồn”. Nhờ đó, VQG không chỉ bảo vệ bền vững hệ sinh thái rừng khộp đặc trưng mà còn mở rộng môi trường sống an toàn cho các loài thú lớn thông qua việc phát triển Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã 110 ha cùng Trung tâm Bảo tồn Voi. Cùng với đó, việc kiểm soát tác động môi trường được thực hiện nghiêm ngặt: giữ nguyên trạng phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, xử lý 100% rác thải/nước thải sinh hoạt và kiểm soát tiếng ồn để bảo đảm không xáo trộn không gian sống tự nhiên của động vật hoang dã.
Tái tạo điều kiện kinh tế - kỹ thuật
Về mặt hạ tầng, Đề án tập trung nâng cấp 6 điểm (3.475,50 ha) và 7 tuyến du lịch với nguyên tắc cốt lõi là không xáo trộn thiên nhiên. Mật độ xây dựng được khống chế dưới 5% ở phân khu Dịch vụ hành chính và dưới 2% ở phân khu Phục hồi sinh thái. Toàn bộ công trình lưu trú chủ yếu sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, vật liệu địa phương và ưu tiên lắp đặt trên các khoảng đất trống để tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến rừng. Đi cùng với hạ tầng là các giải pháp công nghệ xanh như tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải khép kín và lộ trình đến năm 2030 loại bỏ hoàn toàn nhựa dùng một lần. Việc thu hút nguồn vốn xã hội hóa lên tới 561,2 tỷ đồng (chiếm 98,8% tổng mức đầu tư 568 tỷ đồng) chính là đòn bẩy giúp VQG gia tăng năng lực tự chủ tài chính, hướng tới mục tiêu đạt doanh thu 15-20 tỷ đồng/năm từ lượng khách 35.000-70.000 lượt/năm vào năm 2030.
Tái tạo điều kiện xã hội
Việc thu hút các nhà đầu tư không chỉ tạo ra hàng trăm việc làm trực tiếp và gián tiếp, mà còn cam kết dành tối thiểu 15% vị trí tuyển dụng cho người dân địa phương. Đồng thời, cơ chế phân bổ nguồn thu từ hoạt động du lịch và cho thuê môi trường rừng, trong đó 75% nguồn thu còn lại được ưu tiên cho hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm, đầu tư và hoạt động kinh doanh DLST, sẽ góp phần tạo nguồn lực cho phát triển sinh kế của cộng đồng, qua đó từng bước giảm áp lực khai thác và xâm hại tài nguyên rừng.
Đặc biệt, không gian văn hóa cũng được tái sinh sinh động thông qua việc tích hợp Không gian văn hóa Cồng chiêng, kiến trúc nhà sàn, nghề thuần dưỡng voi và các lễ hội truyền thống vào sản phẩm du lịch tại Buôn Đrăng Phôk và Buôn Jang Lành.
Duy trì sự phát triển bền vững của Vườn quốc gia qua các chu kỳ du lịch
Để đảm bảo tính bền vững lâu dài, VQG linh hoạt áp dụng các phương thức tự tổ chức, hợp tác liên kết hoặc cho thuê môi trường rừng (thời hạn tối đa 30 năm, đánh giá định kỳ 5 năm/lần) dưới sự kiểm soát chặt chẽ về sức tải môi trường. Chu trình tài chính được khép kín khi 25% nguồn thu từ du lịch tiếp tục được trích lại để bổ sung cho quỹ quản lý, bảo vệ rừng, bên cạnh trách nhiệm phối hợp tuần tra, phòng chống cháy rừng của các nhà đầu tư. Sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế, giá trị xã hội và công tác bảo tồn được duy trì thông qua việc phân kỳ đầu tư hợp lý (80 tỷ đồng giai đoạn 2026-2027 và 488 tỷ đồng giai đoạn 2028-2030), giúp Yok Đôn phát triển ổn định qua từng chu kỳ khai thác.
Điểm nghẽn trong tái sản xuất các điều kiện phát triển du lịch sinh thái theo định hướng kinh tế tuần hoàn ở Vườn quốc gia Yok Đôn
Điểm nghẽn về sự cân bằng giữa yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái và đầu tư hạ tầng du lịch tuần hoàn
Hạn chế về khả năng triển khai hạ tầng công nghệ xanh: Mô hình tuần hoàn đòi hỏi các hệ thống xử lý nước thải khép kín, bể lọc sinh học hay hạ tầng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, các quy định nghiêm ngặt về mật độ xây dựng (dưới 2% ở phân khu Phục hồi sinh thái, dưới 5% ở Phân khu Hành chính dịch vụ) và việc cấm bê tông hóa khiến việc lắp đặt các hệ thống kỹ thuật hiện đại gặp rất nhiều vướng mắc về mặt mặt bằng và thủ tục.
Thách thức trong sử dụng vật liệu xây dựng: Việc sử dụng vật liệu nhẹ, dễ tháo lắp thân thiện với môi trường (gỗ, tre, lá…) giúp giảm tác động đến đất rừng, nhưng lại hạn chế độ bền của các công trình hạ tầng tuần hoàn dài hạn trước điều kiện thời tiết khắc nghiệt của rừng khộp (nắng nóng gay gắt mùa khô, ngập lụt mùa mưa).
Điểm nghẽn trong việc giải bài bài toán năng lượng - nước sạch ở vùng sinh thái rừng khộp đặc thù
Nguy cơ cháy rừng: Việc lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời hay hạ tầng điện tuần hoàn trong rừng khộp - nơi có thảm thực vật khô rất dễ cháy vào mùa khô - tiềm ẩn rủi ro cao về an toàn phòng cháy chữa cháy, đòi hỏi chi phí bảo trì và kiểm soát an toàn vượt trội.
Tài nguyên nước bị đứt gãy theo mùa: Rừng khộp Yok Đôn có đặc trưng khô hạn gay gắt vào mùa khô (các dòng suối kiệt nước, sông Sêrêpôk hạ thấp). Đặc điểm này đặt ra thách thức đối với việc bảo đảm nguồn nước cho các hoạt động du lịch, đồng thời làm gia tăng yêu cầu về tiết kiệm, lưu trữ và tái sử dụng nước.
Điểm nghẽn trong kết nối chuỗi cung ứng tuần hoàn ở vùng đệm
Sản xuất tại vùng đệm chủ yếu ở quy mô hộ gia đình và cộng đồng, nên khả năng đáp ứng ổn định về sản lượng, chất lượng và tiêu chuẩn thị trường du lịch còn hạn chế, gây khó khăn cho việc hình thành chuỗi cung ứng tại chỗ và liên kết “từ nông trại đến bàn ăn”. Bên cạnh đó, các liên kết thu gom, phân loại, tái sử dụng và tái chế chất thải chưa hoàn thiện; chất thải hữu cơ chưa được kết nối hiệu quả với hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong khi chất thải có khả năng tái chế chưa hình thành được mạng lưới thu gom và phân loại ổn định. Những hạn chế này làm cho dòng vật chất sau tiêu dùng chưa được đưa trở lại chu trình sản xuất, khiến các vòng tuần hoàn trong DLST chưa được khép kín.
Điểm nghẽn trong huy động vốn xã hội hóa cho các hạng mục ít khả năng sinh lợi
Trong tổng vốn 568 tỷ đồng của Đề án, vốn xã hội hóa chiếm tới 98,8% (561,2 tỷ). Các nhà đầu tư tư nhân thường ưu tiên rót vốn vào các hạng mục tạo doanh thu nhanh (lưu trú, dịch vụ) hơn là đầu tư vào hệ thống tuần hoàn tài nguyên, xử lý môi trường hay các dự án tái tạo vốn tự nhiên (như phục hồi rừng, bảo tồn voi) vốn có mức đầu tư cao và thời gian hoàn vốn rất dài.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Kết luận
Thông qua lý luận TSX của C. Mác, nghiên cứu khẳng định phát triển DLST theo hướng KTTH tại VQG Yok Đôn là phương thức chuyển dịch căn bản từ “khai thác tài nguyên” sang “phát triển gắn với tái tạo”. Việc tái đầu tư một phần giá trị kinh tế thu được từ du lịch trở lại phục hồi hệ sinh thái rừng khộp, nâng cao sinh kế cộng đồng và hoàn thiện hạ tầng công nghệ xanh là chìa khóa cốt lõi để khép kín chu trình phát triển. Kháo gỡ các rào cản về cơ chế, hạ tầng đặc thù và kết nối chuỗi giá trị vùng đệm sẽ đảm bảo cho VQG Yok Đôn duy trì sự phát triển liên tục, bền vững qua từng chu kỳ du lịch.
Khuyến nghị chính sách
Hoàn thiện bộ quy chuẩn kỹ thuật riêng cho các công trình tuần hoàn (bể lọc sinh học modular, hệ thống thu gom nước mưa, xử lý nước thải phi tập trung) theo hướng công trình mô-đun, dễ tháo lắp, không sử dụng bê tông móng sâu để không ảnh hưởng đến mật độ xây dựng kiên cố.
Thiết lập hành lang an toàn nhiệt và hệ thống tự động ngắt điện, cảnh báo sự cố cháy nổ đối với các hạ tầng năng lượng trong rừng. Ban hành quy định bắt buộc đối với tất cả các cơ sở du lịch trong VQG về việc áp dụng tiêu chuẩn tích trữ và tái sử dụng nước.
Xây dựng cơ chế kết nối giữa VQG, các doanh nghiệp lữ hành với các hộ gia đình, hợp tác xã ở vùng đệm. Hỗ trợ chuẩn hóa quy trình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, bảo đảm năng lực cung ứng rau, củ, quả, thực phẩm đạt tiêu chuẩn phục vụ du khách. Xây dựng mô hình hợp tác công - tư (PPP) nhỏ thu gom, phân loại rác tại nguồn, kết nối trực tiếp với các cơ sở tái chế chuyên nghiệp ngoài vùng đệm.
Xây dựng cơ chế để doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tuần hoàn, bảo tồn tự nhiên tại Yok Đôn được hưởng ưu đãi về thuế, tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam hoặc các Quỹ Tài chính Xanh quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Quyết định số 2577/QĐ-BNNMT ban hành Đề án Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí vườn quốc gia Yok Đôn đến năm 2030.
2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (2004). Toàn tập, tập 25, I. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
3. C. Mác và Ph.Ăng-ghen, (2004). Toàn tập, tập 23. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Vườn quốc gia Yok Đôn. (n.d.). Các tour du lịch. https://tour.yokdonnationalpark.vn/
5. Vietnam News Agency (2018). Yok Don National Park to boost elephant-friendly tourism. https://en.vietnamplus.vn/yok-don-national-park-to-boost-elephant-friendly-tourism-post134574.vnp
| Ngày nhận bài: 5/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 12/10/2026; Ngày duyệt đăng: 22/10/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của hành vi mua sắm tìm kiếm đến sự gắn kết của khách hàng trong xu hướng bán lẻ hợp kênh tại TP. Hồ Chí Minh
Đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của chuyển đổi số đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại các trường đại học trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh chuyển đổi số: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách
Nghiên cứu tác động của thực hành quản trị nhân sự xanh đến hiệu quả môi trường: Vai trò trung gian của hành vi công dân tổ chức hướng về môi trường
Chuyển đổi số trong các trường đại học công lập: Thực trạng và giải pháp
Từ tập trung định chế đến khơi thông nguồn vốn qua trung tâm tài chính quốc tế: Hàm ý cho Việt Nam
Đề xuất mô hình mở rộng TPB về ý định chia sẻ tri thức trên nền tảng số của giảng viên đại học
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Sự thích ứng của người tiêu dùng thương mại điện tử trong bối cảnh toàn cầu hóa: Nghiên cứu tại Thái Nguyên
