Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Nghiên cứu - Trao đổi 09:19 | 26/09/2026
Sự mở rộng của xuất nhập khẩu, thương mại điện tử và sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2022-2025 tạo dư địa lớn cho thị trường logistics Việt Nam. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics thời kỳ 2025-2035 xác định nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là những định hướng trọng tâm.

PGS,TS. Trần Đình Tuấn

NCS, ThS. Nguyễn Ngọc Thuyên (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam giai đoạn 2022-2025. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù thị trường, số lượng doanh nghiệp và mức độ ứng dụng công nghệ đều tăng trưởng, nhưng quá trình phát triển vẫn chủ yếu theo chiều rộng… Nghiên cứu nhận diện 3 nghịch lý cấu trúc: số lượng lớn nhưng thị phần nhỏ; thị trường tăng trưởng nhanh nhưng khả năng tích tụ vốn và công nghệ thấp; đầu tư phần mềm tác nghiệp tăng nhưng mức độ trưởng thành số còn thấp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm: chuẩn hóa hệ thống thống kê dữ liệu, gắn hỗ trợ chính sách với kết quả đầu ra thực tế, phát triển hạ tầng dùng chung kèm liên kết mạng lưới, kết nối hệ sinh thái dữ liệu số, và thiết lập lộ trình logistics xanh có thể đo lường, kiểm chứng.

Từ khóa: Doanh nghiệp logistics, phát triển doanh nghiệp, dịch vụ logistics, chuyển đổi số, logistics xanh

Abstract

This study analyzes the current state of logistics enterprise development in Viet Nam during the 2022-2025 period. The findings indicate that although the market, number of enterprises, and level of technology adoption have all increased, development has remained primarily extensive. The study identifies three structural paradoxes: a large number of enterprises but a small market share; rapid market growth but low capacity for capital and technology accumulation; and increased investment in operational software but low levels of digital maturity. On this basis, the study proposes five key groups of solutions: standardizing statistical data systems; linking policy support to actual outcomes; developing shared infrastructure alongside network linkages; connecting digital data ecosystems; and establishing a measurable and verifiable green logistics roadmap.

Keywords: Logistics enterprises, enterprise development, logistics services, digital transformation, green logistics

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự mở rộng của xuất nhập khẩu, thương mại điện tử và sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2022-2025 tạo dư địa lớn cho thị trường logistics Việt Nam. Chiến lược phát triển dịch vụ logistics thời kỳ 2025-2035 xác định nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là những định hướng trọng tâm (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương năm 2026 tiếp tục cụ thể hóa các nhiệm vụ về năng lực doanh nghiệp, thống kê, nguồn nhân lực và liên kết chuỗi cung ứng (Bộ Công Thương, 2026).

Sự cải thiện của môi trường logistics quốc gia chưa phản ánh trực tiếp mức độ phát triển của doanh nghiệp. Năm 2025, Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá, xếp hạng thuộc top 10 thị trường logistics mới nổi; top 4 trong khu vực về Chỉ số cơ hội logistics và top 5 ASEAN, top 40 thế giới về Chỉ số Hiệu quả logistics. Trước đó, năm 2023, Việt Nam xếp thứ 43 trong 139 nền kinh tế về Chỉ số năng lực logistics (LPI), đạt 3,3 điểm (AVIRAC, 2025). Chỉ số này đánh giá hạ tầng, thông quan, chất lượng dịch vụ và độ tin cậy ở cấp quốc gia; trong khi khả năng tích tụ nguồn lực, tích hợp dịch vụ và nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị vẫn phụ thuộc vào năng lực riêng của từng doanh nghiệp.

Các nghiên cứu trước cung cấp 2 lớp tiếp cận bổ sung. Vương Thị Bích Ngà (2022) phân tích sự phát triển logistics ở cấp ngành thông qua chính sách, hạ tầng, nguồn nhân lực, doanh nghiệp, công nghệ và thương mại hàng hóa. Lâm Tuấn Hưng (2020) tiếp cận ở cấp doanh nghiệp, nhấn mạnh năng lực nhận biết và đáp ứng nhu cầu khách hàng, tác nghiệp, quản lý thông tin, tích hợp và kết nối.

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả và đối chiếu chéo dữ liệu thứ cấp, tập trung vào giai đoạn 2022-2025 và cập nhật chính sách đến tháng 8/2026. Hệ thống thống kê hiện hành đã có nhóm chỉ tiêu về doanh nghiệp và lao động logistics, nhưng dữ liệu vẫn phân tán theo mã ngành và nguồn công bố. Nguồn dữ liệu gồm Báo cáo Logistics Việt Nam các năm 2021-2025, số liệu công bố tại Diễn đàn Logistics Việt Nam, khảo sát về logistics xanh và tài liệu chính thức về Cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon của Liên minh châu Âu (European Commission, 2026). Ba lớp dữ liệu được phân biệt: doanh nghiệp vận tải - kho bãi theo mã ngành; doanh nghiệp logistics theo báo cáo chuyên ngành; và doanh nghiệp thực tế cung ứng dịch vụ logistics, trong đó có logistics bên thứ ba (3PL) và logistics bên thứ tư (4PL). Cách phân lớp này hạn chế việc đồng nhất quy mô ngành với năng lực cung ứng dịch vụ tích hợp.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá thực trạng theo 3 phương diện: quy mô và vị thế trong chuỗi giá trị; năng lực nội sinh về nhân lực, số hóa và xanh hóa; các điểm nghẽn cấu trúc. Phần kiến nghị tập trung vào những công cụ có thể theo dõi kết quả thực hiện, thay vì mở rộng các đề xuất chung về phát triển ngành.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP LOGISTICS TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2022-2025

Quy mô, cơ cấu và vị thế trong chuỗi giá trị

Thị trường logistics Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng ước tính khoảng 14-16%/năm trong giai đoạn nghiên cứu (Bộ Công Thương, 2026). Năm 2024, có 46.428 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải - kho bãi (Bộ Công Thương, 2025). Theo phạm vi hẹp hơn của các báo cáo chuyên ngành, số doanh nghiệp tham gia logistics và dịch vụ liên quan năm 2025 ở mức khoảng 34.000-35.000; nhóm có khả năng cung cấp dịch vụ 3PL được ước tính khoảng 5.000 doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa các con số bắt nguồn từ phạm vi nhận diện, không phải từ một quy mô thống nhất của doanh nghiệp logistics.

Cơ cấu doanh nghiệp thể hiện mức độ phân mảnh cao. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 95%; hơn 90% doanh nghiệp liên quan logistics có dưới 50 lao động. Doanh nghiệp 100% vốn trong nước chiếm 89% về số lượng nhưng chỉ nắm khoảng 30% thị phần tại thời điểm công bố năm 2022 (Phan Trang, 2024). Tỷ trọng số lượng lớn chưa chuyển thành vị thế tương xứng ở các phân khúc có biên lợi nhuận và giá trị gia tăng cao.

Phần lớn doanh nghiệp nội địa tập trung ở vận tải nội địa, giao nhận, khai báo hải quan, đại lý vận tải và cho thuê kho. Các dịch vụ 4PL, tư vấn chuỗi cung ứng, logistics xuyên biên giới và giải pháp tích hợp quy mô lớn vẫn chủ yếu do doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp FDI đảm nhận (Bộ Công Thương, 2025). Hạn chế này phù hợp với kết quả của Lâm Tuấn Hưng (2020) khi cho rằng năng lực cung ứng dịch vụ phụ thuộc đồng thời vào tác nghiệp, quản lý thông tin, nhận biết nhu cầu khách hàng và khả năng tích hợp, kết nối. Thiếu một trong các năng lực trên, doanh nghiệp thường chỉ đảm nhận một công đoạn hoặc giữ vị trí nhà thầu phụ.

Năng lực nội sinh của doanh nghiệp

Nguồn nhân lực và quản trị

Năm 2024, khoảng 24% nhân lực logistics được ghi nhận đã qua đào tạo chuyên ngành; theo tiêu chí đào tạo bài bản đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm, tỷ lệ tương ứng chỉ khoảng 5-7% (Bộ Công Thương, 2025). Sự khác biệt về phạm vi đo lường không làm thay đổi nhận định cốt lõi: nguồn nhân lực có khả năng thiết kế giải pháp tích hợp, quản trị dữ liệu, sử dụng ngoại ngữ và xử lý yêu cầu pháp lý của chuỗi cung ứng còn thiếu.

Tại nhiều doanh nghiệp nhỏ, quản trị vẫn dựa chủ yếu vào kinh nghiệm của người sáng lập; quy trình phụ thuộc vào cá nhân, dữ liệu phân tán và các chức năng chiến lược, quản trị rủi ro, công nghệ hoặc chất lượng chưa được chuyên môn hóa. Cấu trúc này hạn chế khả năng ký kết hợp đồng dài hạn, phục vụ khách hàng FDI và mở rộng từ dịch vụ đơn lẻ lên 3PL.

Mức độ chuyển đổi số

Ứng dụng phần mềm quản lý giao nhận, vận tải, kho và đơn hàng ngày càng phổ biến, nhưng mức độ trưởng thành số còn thấp. Khảo sát công bố năm 2023 cho thấy, 90,5% doanh nghiệp mới ở cấp độ tin học hóa và kết nối; 5% đạt mức trực quan hóa, 2,2% đạt mức minh bạch hóa, 1,9% có khả năng dự báo và 0,4% đạt mức thích ứng (Bộ Công Thương, 2025).

Đầu tư công nghệ phần lớn mới giải quyết thao tác ở từng khâu. Dữ liệu quản lý kho, vận tải và đơn hàng chưa được kết nối xuyên suốt; chuẩn trao đổi giữa doanh nghiệp với cảng, Hải quan, hãng tàu và chủ hàng còn khác biệt. Vì vậy, tỷ lệ sử dụng phần mềm tăng nhưng khả năng dự báo, tối ưu hóa và thiết kế dịch vụ dựa trên dữ liệu cải thiện chậm. Năng lực công nghệ nội bộ và mức độ sẵn sàng số của hệ sinh thái phải được nâng cấp đồng thời.

Thực hành logistics xanh

Logistics xanh đã được nhận diện như một yêu cầu cạnh tranh, nhưng mức độ triển khai chưa đồng đều. Trong nhóm doanh nghiệp logistics vừa và lớn, 53% đã áp dụng giải pháp tiết kiệm năng lượng trong vận tải và kho bãi, 38% đã đầu tư phương tiện sử dụng năng lượng sạch (Bộ Công Thương, 2025). Các tỷ lệ này phản ánh nhóm doanh nghiệp có khả năng đầu tư tương đối tốt, không đại diện đầy đủ cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Khảo sát 115 doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp sản xuất - thương mại cho thấy, 73,2% đã đưa logistics xanh vào chiến lược kinh doanh và gần 65% có hoạt động kiểm soát môi trường. Tuy nhiên, 66,2% chưa áp dụng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001; 68,6% chưa sử dụng năng lượng tái tạo trong vận hành kho. Khoảng cách giữa định hướng chiến lược và thực hành có thể kiểm chứng vẫn còn lớn.

Cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon của Liên minh châu Âu (CBAM) bước vào giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026. CBAM không đánh thuế trực tiếp dịch vụ logistics, nhưng làm gia tăng yêu cầu đối với dữ liệu phát thải trong chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp phục vụ hàng xuất khẩu cần ghi nhận nhiên liệu, quãng đường, tải trọng, điện năng và phương thức vận tải để cung cấp dữ liệu có thể truy xuất và kiểm chứng. Khoảng cách về dữ liệu số do đó có thể chuyển thành khoảng cách về năng lực xanh.

Ba nghịch lý cấu trúc

Thứ nhất, nghịch lý số lượng - thị phần: doanh nghiệp nội địa chiếm đa số nhưng tập trung ở các phân khúc giá trị gia tăng thấp và nắm giữ thị phần hạn chế. Số lượng lớn chưa chuyển thành khả năng điều phối chuỗi hoặc cung cấp giải pháp tích hợp.

Thứ hai, nghịch lý tăng trưởng - tích tụ: thị trường mở rộng nhanh nhưng số đông doanh nghiệp vẫn có quy mô nhỏ, biên lợi nhuận thấp và khó tích lũy vốn, công nghệ, nhân lực và mạng lưới cho đầu tư dài hạn.

Thứ ba, nghịch lý đầu tư công nghệ - trưởng thành số: phần mềm tác nghiệp được sử dụng rộng hơn nhưng dữ liệu và quy trình chưa tích hợp đủ sâu để hỗ trợ dự báo, tối ưu hóa và ra quyết định chiến lược.

Ba nghịch lý phản ánh cùng một điểm nghẽn: năng lực nội sinh và cơ chế liên kết chưa đủ mạnh để chuyển hóa sự mở rộng của thị trường thành năng lực cạnh tranh. Vấn đề trọng tâm không còn là gia tăng số lượng doanh nghiệp, mà là tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích tụ, hợp tác và nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị.

Tóm lược các chỉ số thực trạng nổi bật và kiến nghị trọng tâm được trình bày tại Hình.

Hình: Thực trạng phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Chỉ số nổi bật và kiến nghị trọng tâm

Phát triển doanh nghiệp logistics tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị

Nguồn: Tổng hợp của các tác giả

KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP

Một là, chuẩn hóa nhận diện và dữ liệu thống kê doanh nghiệp logistics

Cơ sở dữ liệu doanh nghiệp logistics cần được tổ chức theo nhiều lớp: doanh nghiệp theo mã ngành vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ; doanh nghiệp có doanh thu thực tế từ dịch vụ logistics; doanh nghiệp phân theo cấp độ 1PL - 4PL, quy mô, thị trường và mức độ tích hợp. Dữ liệu đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan, vận tải và báo cáo chuyên ngành cần được kết nối trên nguyên tắc bảo mật, xác định rõ trách nhiệm cung cấp và khai thác dữ liệu.

Bộ chỉ tiêu theo dõi phải chuyển từ đếm số lượng đăng ký sang đo doanh thu dịch vụ logistics, năng suất, tỷ lệ dịch vụ tích hợp, mức độ kết nối dữ liệu, tiêu chuẩn chất lượng và kết quả xanh. Đây là cơ sở đánh giá thực chất việc thực hiện Chiến lược 2025-2035 và Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương.

Hai là, gắn hỗ trợ doanh nghiệp với kết quả đầu ra

Chính sách hỗ trợ cần phân nhóm theo quy mô và mức độ trưởng thành. Doanh nghiệp siêu nhỏ cần chuẩn hóa quy trình, đào tạo quản trị cơ bản và nền tảng số dùng chung; doanh nghiệp vừa cần hỗ trợ nâng cấp lên 3PL, tiếp cận vốn, chứng nhận và mạng lưới quốc tế; doanh nghiệp lớn cần cơ chế đổi mới sáng tạo, logistics xuyên biên giới và dẫn dắt liên kết chuỗi.

Tín dụng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, thuê tài chính và hỗ trợ đào tạo phải gắn với chỉ số đầu ra cụ thể, như: doanh thu từ dịch vụ tích hợp, số hợp đồng dài hạn, năng suất lao động, mức độ liên thông hệ thống quản lý kho (WMS) và hệ thống quản lý vận tải (TMS), tỷ lệ giảm tiêu hao năng lượng hoặc số nhân sự đạt chuẩn năng lực. Kết quả cần được hậu kiểm để hạn chế phân bổ dàn trải và tạo động lực nâng cấp năng lực nội sinh.

Ba là, phát triển hạ tầng dùng chung và liên kết mạng lưới

Hạ tầng dùng chung là công cụ khắc phục giới hạn quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thông tin về năng lực, giá và điều kiện khai thác tại trung tâm logistics, cảng cạn, kho, bãi và điểm gom hàng cần được số hóa và công bố minh bạch. Nền tảng chia sẻ phương tiện, kho bãi và nguồn hàng có thể giảm đầu tư trùng lặp, tăng hệ số sử dụng tài sản và hạn chế vận chuyển rỗng.

Hiệp hội nghề nghiệp cần hỗ trợ chuẩn hóa dịch vụ, thiết lập cơ chế hợp tác theo hành lang vận tải hoặc ngành hàng và kết nối doanh nghiệp với mạng lưới đại lý quốc tế. Liên kết ổn định giúp doanh nghiệp nhỏ hình thành quy mô mạng lưới, tiếp cận khách hàng lớn và cung cấp gói dịch vụ đồng bộ mà không phải tự sở hữu toàn bộ nguồn lực.

Bốn là, kết nối hệ sinh thái dữ liệu và nâng mức trưởng thành số

Cần thiết lập chuẩn trao đổi dữ liệu thống nhất giữa doanh nghiệp logistics với Hải quan, cảng, hãng tàu, kho bãi, chủ hàng và nền tảng thương mại điện tử. Việc sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) và giao diện lập trình ứng dụng (API) phải đi kèm quy định về giá trị pháp lý của chứng từ, chất lượng dữ liệu, quyền truy cập và an toàn thông tin.

Hỗ trợ chuyển đổi số cần chuyển từ mua sắm phần mềm riêng lẻ sang tích hợp dữ liệu, trực quan hóa quản trị, dự báo và tối ưu. Doanh nghiệp nhỏ có thể tiếp cận WMS, TMS và quản lý đơn hàng theo mô hình thuê bao; doanh nghiệp đã có hệ thống cần được hỗ trợ kết nối với đối tác và khai thác dữ liệu để ra quyết định. Chỉ số trưởng thành số cần được sử dụng như một tiêu chí đánh giá kết quả chương trình hỗ trợ.

Năm là, hoàn thiện quy định và cơ chế đo lường logistics xanh

Chính sách logistics xanh cần chuyển từ khuyến khích chung sang lộ trình dựa trên dữ liệu. Giai đoạn đầu tập trung vào các biến doanh nghiệp có thể ghi nhận với chi phí hợp lý, gồm: nhiên liệu, quãng đường, tải trọng, tỷ lệ chạy rỗng, điện năng tại kho và sản lượng hàng hóa; trên cơ sở đó hướng dẫn tính phát thải theo hành trình, tấn-km hoặc lô hàng.

Tuy nhiên, lộ trình phải phân theo quy mô và thị trường. Doanh nghiệp nhỏ ưu tiên quản lý nhiên liệu, tối ưu tuyến, giảm chạy rỗng và tiết kiệm điện; doanh nghiệp lớn hoặc phục vụ chuỗi xuất khẩu tiến tới hạch toán phát thải, công bố dữ liệu và thẩm tra độc lập. Tín dụng xanh, ưu đãi thuế và mua sắm công cần căn cứ vào kết quả giảm tiêu hao năng lượng hoặc phát thải có thể xác minh. Trong bối cảnh yêu cầu các-bon ngày càng gắn với tiếp cận thị trường, năng lực đo lường và cung cấp dữ liệu xanh là điều kiện duy trì vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu.

KẾT LUẬN

Giai đoạn 2022-2025, thị trường logistics Việt Nam mở rộng nhanh, số lượng doanh nghiệp và mức độ ứng dụng công nghệ đều tăng. Tuy nhiên, năng lực nội sinh của phần lớn doanh nghiệp nội địa chưa thay đổi tương xứng. Cấu trúc phân mảnh, quy mô nhỏ, dịch vụ cơ bản và dữ liệu thiếu liên thông tiếp tục hạn chế khả năng tích hợp và cạnh tranh ở các phân khúc giá trị gia tăng cao.

Ba nghịch lý số lượng - thị phần, tăng trưởng - tích tụ và đầu tư công nghệ - trưởng thành số cho thấy định hướng phát triển cần chuyển từ gia tăng số lượng chủ thể sang nâng cấp năng lực lõi, chuẩn hóa dữ liệu và củng cố liên kết chuỗi. Các chương trình hỗ trợ chỉ tạo tác động khi gắn với chỉ số đầu ra, hạ tầng dùng chung, mức trưởng thành số và kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp nên chưa đo lường trực tiếp chất lượng dịch vụ, khả năng tích hợp dữ liệu và phát thải ở cấp doanh nghiệp. Hạn chế này đồng thời khẳng định nhu cầu xây dựng hệ thống thống kê và khảo sát doanh nghiệp logistics định kỳ, tạo cơ sở cho quản lý và hỗ trợ dựa trên bằng chứng.

Tài liệu tham khảo:

1. AVIRAC (2025). Báo cáo ngành logistics Việt Nam quý III/2025: Lọt top 10 thị trường mới nổi. https://viracresearch.com/nganh-logistics-2025-top-10-thi-truong-moi-noi/

2. Bộ Công Thương (2021). Báo cáo Logistics Việt Nam 2021. Nxb Công Thương.

3. Bộ Công Thương (2022). Báo cáo Logistics Việt Nam 2022. Nxb Công Thương.

4. Bộ Công Thương (2023). Báo cáo Logistics Việt Nam 2023. Nxb Công Thương.

5. Bộ Công Thương (2024). Báo cáo Logistics Việt Nam 2024. Nxb Công Thương.

6. Bộ Công Thương (2025). Báo cáo Logistics Việt Nam 2025. Nxb Công Thương.

7. Bộ Công Thương. (2026). Quyết định số 458/QĐ-BCT ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050.

8. European Commission (2026). Carbon Border Adjustment Mechanism: CBAM Definitive Regime. Taxation and Customs Union.

9. Lâm, T. H. (2020). Nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương.

10. Phan, T. (2024). Đưa logistics thành ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao. Báo Điện tử Chính phủ.

11. Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050.

12. Vương, T. B. N. (2022). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành logistics Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Ngoại thương.

Ngày nhận bài: 14/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 6/9/2026; Ngày duyệt đăng: 25/9/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện của sinh viên ngoại tỉnh tại Hà Nội

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện của sinh viên ngoại tỉnh tại Hà Nội

Trước lộ trình hạn chế phương tiện giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại Hà Nội, việc chuyển đổi từ xe máy xăng sang xe máy điện là xu thế tất yếu nhưng đặt ra nhiều thách thức cho sinh viên ngoại tỉnh - nhóm chịu ràng buộc lớn về tài chính và điều kiện nơi ở.
Chia sẻ tri thức, phong cách lãnh đạo và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên ngành du lịch - lữ hành Hà Nội

Chia sẻ tri thức, phong cách lãnh đạo và hành vi làm việc đổi mới của nhân viên ngành du lịch - lữ hành Hà Nội

Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, đổi mới ở cấp độ tổ chức bắt đầu từ các hành vi chủ động của nhân viên: nhận diện vấn đề, hình thành ý tưởng, huy động sự ủng hộ và hiện thực hóa giải pháp. Hành vi làm việc đổi mới không chỉ phản ánh năng lực sáng tạo cá nhân mà còn là cơ chế chuyển hóa tri thức thành cải tiến dịch vụ và lợi thế cạnh tranh.
Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Ảnh hưởng của công bố thông tin ESG đến năng lực huy động vốn và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp thủy sản xuất khẩu tại Việt Nam

Trong bối cảnh phát triển bền vững ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc trên thị trường quốc tế, công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường minh bạch, giảm bất cân xứng thông tin và cải thiện niềm tin của nhà đầu tư
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ của doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trên địa bàn TP. Hà Nội và giải pháp tăng cường hỗ trợ

Hà Nội là địa phương có số lượng doanh nghiệp đứng thứ hai cả nước, đồng thời là một trong ba địa phương có mật độ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ cao nhất cả nước
Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Ảnh hưởng của chất lượng tương tác doanh nghiệp đến kiến thức nghề nghiệp và niềm tin năng lực bản thân của sinh viên: Nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Dược Hà Nội

Trong bối cảnh giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng ứng dụng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, chất lượng tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một hoạt động bổ trợ mà đã trở thành một nhân tố chiến lược, quyết định sự thành công của quá trình đào tạo
Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Nguồn lực công nghệ trong các ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam: Từ ứng dụng đến làm chủ công nghệ

Các ngành công nghiệp sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế dựa trên tri thức, vì giá trị được tạo ra từ sự kết hợp giữa sáng tạo, văn hóa, tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ
Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng xe buýt điện của học sinh, sinh viên tại TP. Hồ Chí Minh

Sự mở rộng về hạ tầng xe buýt điện không đảm bảo việc người sử dụng sẽ chủ động thay đổi thói quen đi lại. Quá trình thay đổi từ phương tiện cá nhân sang phương tiện công cộng mới chịu tác động bởi các nguyên nhân: từ bỏ phương thức cũ, giá trị tiện ích của phương thức mới, thói quen và rủi ro cảm nhận.
Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp

Chuyển đổi số trong khu vực công không còn được hiểu đơn giản là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Quá trình này ngày càng gắn với sự thay đổi sâu sắc về cấu trúc tổ chức, quy trình ra quyết định, phương thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp.
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng

Tại Việt Nam, nơi thu nhập trung bình còn hạn chế nhưng nhận thức về môi trường đang tăng nhanh, việc hiểu cơ chế thúc đẩy việc sẵn sàng trả giá cao có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho cả chính sách lẫn hoạt động kinh doanh.
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam

Theo Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam từng ở mức tương đương 20,8% GDP, gần gấp đôi mức trung bình thế giới là 10,7%. Chiến lược phát triển logistics quốc gia đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa tỷ lệ này giảm xuống còn khoảng 16-18% GDP. Bên cạnh đó, thương mại điện tử Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.