Chính sách quản lý về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp
Lê Anh Tuấn
NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh
Email: [email protected]
PGS, TS. Đinh Trung Thành
Trường Đại học Vinh
Tóm tắt
Trong tiến trình phát triển chính quyền số, chính sách quản lý nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc xác lập mục tiêu, thiết kế thể chế, huy động và phân bổ nguồn lực, tổ chức hạ tầng - dữ liệu, phát triển nhân lực, điều phối liên ngành và giám sát kết quả. Nghiên cứu phân tích chính sách quản lý nhà nước về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh giai đoạn 2020-2025 bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp, phân tích nội dung văn bản chính sách, thống kê mô tả và so sánh chỉ số chuyển đổi số. Kết quả cho thấy hệ thống chính sách của Hà Tĩnh đã chuyển tương đối rõ từ ứng dụng công nghệ thông tin sang quản trị chuyển đổi số toàn diện. Tuy nhiên, vẫn còn những điểm nghẽn về quản trị dữ liệu, liên thông hệ thống, mức độ sử dụng thực chất của cán bộ, đo lường giá trị công và khả năng thích ứng của cấp xã với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất chuyển trọng tâm chính sách từ đầu tư và số hóa sang quản trị dựa trên dữ liệu và kết quả, xây dựng cơ chế quản trị dữ liệu thống nhất, tái cấu trúc dịch vụ công, củng cố năng lực số cấp xã và áp dụng hệ thống KPI dựa trên giá trị công.
Từ khóa: Chính quyền số, chính sách công, quản lý nhà nước, quản trị dữ liệu, Hà Tĩnh
Abstract
In the development of digital government, public management policies play a decisive role in setting objectives, designing institutions, mobilizing and allocating resources, organizing infrastructure and data systems, developing human resources, coordinating across agencies, and monitoring outcomes. This study analyzes public management policies for digital government development in Ha Tinh Province during the 2020-2025 period using a case study approach, policy document content analysis, descriptive statistics, and comparisons of digital transformation indicators. The results show that Ha Tinh’s policy system has shifted relatively clearly from the application of information technology toward comprehensive digital transformation governance. However, bottlenecks remain in data governance, system interoperability, the substantive use of digital tools by officials, public value measurement, and the capacity of commune-level authorities to adapt to the two-tier local government model. Accordingly, the study proposes shifting the policy focus from investment and digitalization toward data- and outcome-based governance, establishing a unified data governance mechanism, restructuring public services, strengthening digital capacity at the commune level, and applying a public value-based KPI system.
Keywords: Digital government, public policy, public management, data governance, Ha Tinh Province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuyển đổi số trong khu vực công không còn được hiểu đơn giản là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử hay đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Quá trình này ngày càng gắn với sự thay đổi sâu sắc về cấu trúc tổ chức, quy trình ra quyết định, phương thức cung cấp dịch vụ công và quan hệ giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp. Janowski (2015) mô tả sự tiến hóa của chính phủ số qua các giai đoạn từ số hóa - chuyển đổi - tương tác - quản trị theo bối cảnh, hàm ý rằng công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi được tích hợp vào chính sách và phương thức quản trị. Mergel và cộng sự (2019) cũng chứng minh rằng, chuyển đổi số khu vực công là quá trình thay đổi toàn tổ chức, bao gồm quy trình, sản phẩm, văn hóa và quan hệ với các bên liên quan, chứ không phải một chương trình công nghệ đơn lẻ.
Ở cấp độ chính sách, OECD xác định 6 chiều của chính phủ số trưởng thành gồm: thiết kế số ngay từ đầu (digital by design), khu vực công dựa trên dữ liệu, chính phủ như một nền tảng, mặc định mở, lấy người dùng làm trung tâm và tính chủ động. Điểm đáng chú ý là công nghệ được đặt trong mối quan hệ với năng lực lãnh đạo, điều phối, thực thi và giám sát chính sách chứ không được xem như mục tiêu tự thân (Ubaldi và Okubo, 2020). Tương tự, GovTech Maturity Index của Ngân hàng Thế giới đánh giá chuyển đổi số khu vực công theo 4 cấu phần: hệ thống lõi và hạ tầng dùng chung; dịch vụ công trực tuyến; tương tác số với công dân; và các điều kiện bảo đảm gồm chiến lược, thể chế, pháp luật, kỹ năng và đổi mới sáng tạo (World Bank, 2025).
Tại Việt Nam, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 đã xác lập Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 chuyển trọng tâm từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số. Đây là 2 nền tảng chính sách quan trọng làm thay đổi cách tiếp cận của địa phương đối với ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước (Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2021).
Hà Tĩnh là trường hợp có ý nghĩa nghiên cứu đáng chú ý. Tỉnh xuất phát ở nhóm thấp về chỉ số đánh giá chuyển đổi số (DTI) nhưng đã có sự cải thiện nhanh trong giai đoạn 2020-2025. Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 22/10/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định chuyển đổi số gắn trực tiếp với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng dịch vụ công; đồng thời đặt mục tiêu xây dựng đồng bộ chính quyền số, kinh tế số và xã hội số (Tỉnh ủy Hà Tĩnh, 2021). Năm 2022, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Quyết định số 424/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025, chuyển chủ trương thành chương trình tổ chức thực hiện cụ thể (UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2022).
Đến năm 2025, Hà Tĩnh đạt nhiều chỉ tiêu tích cực: tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 97,02%, cao hơn mức bình quân cả nước 82,7%; DTI năm 2024 (công bố năm 2025) xếp thứ 11/63 tỉnh, thành phố theo địa giới trước sắp xếp và tương đương thứ 7/34 theo hệ thống địa phương hiện nay. Tuy vậy, các kết quả này không đồng nghĩa hệ thống chính sách đã hoàn thiện. Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch Tỉnh chỉ ra tình trạng dữ liệu còn phân tán, năng lực tích hợp - chia sẻ dữ liệu chưa cao, hạ tầng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và trung tâm dữ liệu chưa tương xứng; đồng thời chỉ khoảng 50% cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử công vụ (UBND tỉnh Hà Tĩnh & Sở Tài chính, 2026).
Vì vậy, vấn đề nghiên cứu không còn chỉ là Hà Tĩnh đã ban hành bao nhiêu chính sách hay đầu tư bao nhiêu hệ thống, mà là cấu trúc chính sách quản lý nhà nước hiện nay đã tạo ra một chính quyền vận hành thực sự dựa trên dữ liệu, liên thông, hiệu quả và hướng đến giá trị công hay chưa. Nghiên cứu tập trung phân tích câu hỏi này trong giai đoạn 2020-2025 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khái niệm và khung phân tích
Trong nghiên cứu này, chính sách quản lý nhà nước về phát triển chính quyền số được hiểu là tổng thể các mục tiêu, quy tắc, công cụ và quyết định của các cơ quan nhà nước nhằm định hướng, tổ chức, huy động nguồn lực, điều phối, kiểm tra và đánh giá quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động của chính quyền từ mô hình hành chính truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu, nền tảng số và dịch vụ số.
Khái niệm này có phạm vi rộng hơn chính sách công nghệ thông tin. Điểm phân biệt quan trọng nằm ở chỗ: chính sách công nghệ chú trọng hệ thống nào cần được xây dựng, còn chính sách chính quyền số phải trả lời “quy trình quản trị nào cần thay đổi, dữ liệu nào cần được chia sẻ, giá trị gì phải tạo ra và trách nhiệm thuộc về ai”.
Từ Janowski (2015), Mergel và cộng sự (2019), Ubaldi và Okubo (2020), World Bank (2025) và Lý thuyết giá trị công của Twizeyimana và Andersson (2019), nghiên cứu hình thành khung phân tích gồm 6 cấu phần (Bảng 1). Trong đó, Twizeyimana và Andersson (2019) nhấn mạnh giá trị của chính phủ điện tử phải biểu hiện qua chất lượng dịch vụ, hiệu quả hành chính, tính mở, tính chuyên nghiệp, niềm tin vào chính quyền và phúc lợi xã hội, thay vì chỉ qua mức độ ứng dụng công nghệ. Khung này cho phép tránh một hạn chế khá phổ biến trong đánh giá chính quyền số: đồng nhất đầu tư công nghệ với hiệu quả quản trị.
Bảng 1: Khung phân tích quản lý nhà nước về phát triển chính quyền số
|
Cấu phần chính sách |
Nội dung quản lý chủ yếu |
Tiêu chí đánh giá |
|---|---|---|
|
Định hướng và thể chế |
Chiến lược, nghị quyết, kế hoạch, quy định |
Tính nhất quán, ổn định, rõ trách nhiệm |
|
Tổ chức và điều phối |
Phân công cơ quan, trách nhiệm người đứng đầu, liên ngành |
Khả năng phối hợp, tránh cát cứ |
|
Hạ tầng - nền tảng - dữ liệu |
Mạng, cloud, CSDL, LGSP, nền tảng dùng chung |
Liên thông, chia sẻ, tái sử dụng |
|
Dịch vụ và quy trình số |
TTHC trực tuyến, thanh toán, chữ ký số |
Mức sử dụng thực tế, thời gian, chi phí |
|
Nhân lực và bao trùm số |
Kỹ năng cán bộ, người dân, Tổ CĐS cộng đồng |
Năng lực sử dụng, khả năng tiếp cận |
|
Giám sát và giá trị công |
DTI, KPI, hài lòng, ATTT |
Kết quả đầu ra và tác động |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp Hà Tĩnh, kết hợp 4 kỹ thuật: phân tích văn bản chính sách; thống kê mô tả; phân tích xu hướng; và đối sánh giữa Hà Tĩnh với các địa phương Bắc Trung Bộ.
Phạm vi thời gian là 2020-2025. Đối với DTI, số liệu chính thức sử dụng đến năm 2024 (dti.gov.vn, nd.); không gán giá trị DTI giả định cho năm 2025. Năm 2025 được đánh giá bằng các chỉ tiêu vận hành thực tế về hồ sơ trực tuyến, số hóa TTHC, nền tảng và dữ liệu. Cách xử lý này cần thiết vì DTI công bố có độ trễ và cấu trúc chỉ tiêu được điều chỉnh qua các kỳ. Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, hệ thống DTI còn trình bày song song kết quả theo 63 và 34 tỉnh, thành phố; cơ quan công bố cũng lưu ý kết quả sau sắp xếp được tính lại từ các chỉ số của địa phương trước sắp xếp. Vì vậy, nghiên cứu không diễn giải biến động thứ hạng như một chuỗi tuyệt đối đồng nhất.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Tiến trình hình thành chính sách quản lý nhà nước giai đoạn 2020-2025
Hệ thống chính sách tại Hà Tĩnh cho thấy sự chuyển đổi qua 3 giai đoạn: tạo lập định hướng, thiết lập kiến trúc và chương trình, chuyển sang quản lý dựa trên kết quả và dữ liệu.
Bảng 2: Một số dấu mốc chính sách chủ yếu giai đoạn 2020-2025
|
Năm |
Văn bản/công cụ chính sách đáng chú ý |
Ý nghĩa quản lý |
|---|---|---|
|
2020 |
Quyết định 749/QĐ-TTg; Kế hoạch 393/KH-UBND của Hà Tĩnh |
Chuyển từ ứng dụng CNTT sang chương trình chuyển đổi số |
|
2021 |
Quyết định 942/QĐ-TTg; Nghị quyết 05-NQ/TU; Kiến trúc CQĐT phiên bản 2.0 |
Xác lập chính quyền số là nhiệm vụ của toàn hệ thống |
|
2022 |
Quyết định 424/QĐ-UBND; Danh mục CSDL dùng chung |
Chuyển chiến lược thành đề án, hạ tầng và dữ liệu cụ thể |
|
2023 |
Bộ chỉ số đánh giá CĐS cấp sở/huyện/xã; Nghị quyết 119/2023/NQ-HĐND |
Tăng giám sát và mở rộng chuyển đổi số xuống cộng đồng |
|
2024 |
Chiến dịch nâng hiệu quả DVCTT; Nghị quyết 140/2024/NQ-HĐND về đầu tư, mua sắm CNTT |
Chuyển trọng tâm từ “có dịch vụ” sang “sử dụng dịch vụ” |
|
2025 |
Chương trình 42-CTr/TU; Kế hoạch 231/KH-UBND triển khai Nghị quyết 57 |
Gắn chính quyền số với KH&CN, ĐMST, dữ liệu và mô hình quản trị mới |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp
Bảng 2 cho thấy chuyển biến chính sách đáng ghi nhận: Trước đây, chuyển đổi số chủ yếu nằm trong phạm vi cơ quan chuyên môn về thông tin - truyền thông; từ Nghị quyết 05-NQ/TU trở đi, trách nhiệm được mở rộng sang người đứng đầu, các sở, ngành và chính quyền địa phương. Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, trong đó có hạ tầng - dữ liệu, nhân lực, chính quyền số, kinh tế - xã hội số và an toàn thông tin (Tỉnh ủy Hà Tĩnh, 2021).
Quyết định 424/QĐ-UBND năm 2022 có ý nghĩa đặc biệt vì chuyển yêu cầu chính trị thành một chương trình hành động có chủ thể và trách nhiệm thực hiện, giao cơ quan chuyên môn theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp kết quả (UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2022).
Từ năm 2023, chính sách bắt đầu hướng nhiều hơn tới phía người sử dụng. Nghị quyết 119/2023/NQ-HĐND quy định hỗ trợ 600.000 đồng/tổ/tháng cho các Tổ chuyển đổi số cộng đồng giai đoạn 2024-2025, bao gồm kinh phí thực hiện nhiệm vụ và đào tạo kỹ năng. Đây là ví dụ đáng chú ý về công cụ tài chính để đưa chính sách số từ cấp tỉnh xuống cộng đồng dân cư (HĐND tỉnh Hà Tĩnh, 2023).
Năm 2025 đánh dấu bước chuyển tiếp theo. Kế hoạch 231/KH-UBND yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của từng sở, ngành và địa phương trong thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, đồng thời coi cơ quan quản lý khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đầu mối hướng dẫn, phối hợp và giải quyết các vấn đề phát sinh (UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2025).
Bảng 3: DTI Hà Tĩnh giai đoạn 2020-2024 và kết quả vận hành năm 2025
|
Năm |
DTI |
Xếp hạng |
Nhận xét |
|---|---|---|---|
|
2020 |
0,2775 |
59/63 |
Điểm xuất phát thấp |
|
2021 |
0,3272 |
22/63 |
Tăng mạnh sau khi chuyển trọng tâm sang CĐS |
|
2022 |
0,5676 |
37/63 |
Điểm tăng nhưng thứ hạng giảm |
|
2023 |
0,6993 |
25/63 |
Cải thiện rõ về mức độ trưởng thành |
|
2024 |
0,7629 |
11/63 |
Thuộc nhóm khá cao cả nước |
Nguồn: dti.gov.vn (nd.) và cơ quan quản lý KH&CN Hà Tĩnh
Bảng 3 cho thấy, từ năm 2020 đến 2024, DTI tăng 0,4854 điểm và thứ hạng cải thiện từ 59 lên 11. Tuy nhiên, điểm DTI và thứ hạng không biến động cùng chiều trong mọi năm. Năm 2022, điểm tăng đáng kể nhưng thứ hạng giảm xuống 37/63. Điều này cho thấy đánh giá chính sách không được dựa duy nhất vào thứ hạng: địa phương có thể tiến bộ nhưng các địa phương khác tiến bộ nhanh hơn hoặc phương pháp đánh giá thay đổi.
Cấu trúc DTI 2024 còn cho thấy Hà Tĩnh đạt DTI tổng hợp 0,7629 nhưng điểm hoạt động chính quyền số chỉ 0,6331, thấp hơn một số nhóm điều kiện nền tảng. Có thể diễn giải rằng chính sách đã xây dựng được khá tốt điều kiện cần, nhưng khoảng cách vẫn tồn tại từ năng lực sẵn có đến hiệu quả sử dụng thực tế.
Tổ chức thực hiện các chính sách hạ tầng số
Đến năm 2025, mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối 100% cơ quan nhà nước của Tỉnh; Trung tâm Điều hành thông minh được đưa vào hoạt động; cổng dịch vụ công được hợp nhất với hệ thống giải quyết TTHC và triển khai trợ lý ảo.
Ở cấp cơ sở, mạng chuyên dùng kết nối tới 69 xã, phường và hệ thống hội nghị trực tuyến hình thành mạng kết nối từ trung tâm Tỉnh tới 69 điểm cầu. Đây là điều kiện đặc biệt quan trọng sau khi Hà Tĩnh tổ chức lại 209 xã, phường thành 69 đơn vị và chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp trong năm 2025.
Hạ tầng viễn thông xã hội cũng được mở rộng. Năm 2025, Tỉnh có 287.775 thuê bao băng rộng cố định; khoảng 73,5% hộ có kết nối băng rộng cố định; cáp quang đã tới 100% xã, phường. Mạng băng rộng di động có khoảng 1,159 triệu thuê bao và 3.819 trạm BTS; 5G được triển khai tại 333 vị trí.
Tuy nhiên, chính tỷ lệ 73,5% hộ có băng rộng cố định cũng cho thấy không nên đồng nhất cáp quang tới xã với tiếp cận số phổ quát. Khoảng cách sử dụng vẫn có thể tồn tại giữa đô thị - nông thôn, nhóm thu nhập khác nhau và người có kỹ năng số khác nhau. Chính sách giai đoạn tiếp theo vì vậy phải quản lý cả độ phủ, khả năng chi trả, kỹ năng và mức sử dụng, thay vì chỉ quản lý số lượng tuyến cáp hoặc thiết bị.
Một kết quả nổi bật khác là Tỉnh đang quản lý, khai thác 124 nền tảng số, phần mềm và cơ sở dữ liệu, gồm 56 nền tảng/CSDL dùng chung quốc gia và 68 hệ thống của Tỉnh; trong 28 nền tảng, CSDL dùng chung của Tỉnh đã có 16 nền tảng kết nối với nền tảng dữ liệu quốc gia. Hệ thống thông tin giải quyết TTHC đã đồng bộ 2.010 thủ tục và kết nối với nhiều hệ thống Trung ương như định danh điện tử, đất đai và lý lịch tư pháp. Đây là biểu hiện của quá trình chuyển từ mỗi cơ quan một phần mềm sang nền tảng dùng chung.
Tuy nhiên, báo cáo của Tỉnh cũng đồng thời cho thấy, dữ liệu khoa học - công nghệ và một số dữ liệu chuyên ngành vẫn phân tán, kho dữ liệu mở chưa hoàn thiện; khả năng tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu liên ngành còn hạn chế. Vì vậy, Hà Tĩnh cần chuyển từ quản lý dự án cơ sở dữ liệu sang quản trị vòng đời dữ liệu.
Năm 2025, Hà Tĩnh đạt 21,5/22 điểm về số hóa hồ sơ giải quyết TTHC, xếp thứ nhất trong 34 tỉnh, thành phố ở thời điểm tổng hợp của báo cáo. Tỷ lệ hồ sơ cấp kết quả điện tử đạt 99,8%; số hóa hồ sơ và kết quả đạt 99,87%; khai thác, tái sử dụng thông tin, dữ liệu số hóa đạt 96,19%.
Cũng trong năm 2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 97,02%, cao hơn bình quân cả nước 82,7%, đứng đầu Bắc Trung Bộ. Các chỉ tiêu này thể hiện bước chuyển quan trọng: mục tiêu quản lý không còn chỉ là đưa thủ tục lên mạng mà đã hướng sang phát sinh hồ sơ thực tế trên môi trường số (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh, 2026).
Một nghịch lý đáng quan tâm là Hà Tĩnh đã cấp hơn 16.873 tài khoản thư điện tử cho cán bộ, công chức, viên chức, song chỉ khoảng 50% CBCCVC thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử.
Kết quả này cho thấy chính sách không thể coi việc cấp tài khoản, cài phần mềm hay tập huấn là đầu ra cuối cùng. Năng lực số chỉ tồn tại thực chất khi công chức thay đổi phương pháp làm việc, sử dụng dữ liệu và nền tảng trong tác nghiệp thường xuyên. Điều này phù hợp với Mergel và cộng sự (2019), theo đó chuyển đổi số chỉ hoàn thành khi thay đổi được văn hóa và quy trình của tổ chức.
Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, vấn đề này càng quan trọng bởi cấp xã phải xử lý nhiều nhiệm vụ trực tiếp hơn sau khi bỏ cấp huyện. Nếu chính sách phân quyền tăng nhanh hơn năng lực số của cấp xã, nguy cơ “phi tập trung trách nhiệm nhưng tập trung điểm nghẽn” sẽ xuất hiện.
Các hạn chế chủ yếu của chính sách hiện hành
Thứ nhất, hệ thống chính sách khá đầy đủ nhưng có nguy cơ phân mảnh. Nhiều kế hoạch, chương trình, đề án và bộ chỉ số được ban hành theo từng năm, ngành hoặc mục tiêu. Nếu thiếu một kiến trúc chính sách tổng thể và cơ chế quản lý danh mục dự án số cấp tỉnh, các cơ quan vẫn có thể tối ưu hệ thống riêng thay vì tối ưu toàn chính quyền.
Thứ hai, chính sách dữ liệu đi sau chính sách hạ tầng. Hà Tĩnh có nhiều cơ sở dữ liệu và nền tảng, nhưng chia sẻ dữ liệu liên ngành, dữ liệu mở và năng lực phân tích lớn còn hạn chế. Điều đó làm giảm hiệu quả của nguyên tắc “khai một lần, sử dụng nhiều lần”.
Thứ ba, chính sách đánh giá vẫn thiên về đầu vào và mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Số nền tảng, số tài khoản, tỷ lệ số hóa là cần thiết nhưng chưa cho biết người dân tiết kiệm bao nhiêu giờ, doanh nghiệp giảm bao nhiêu chi phí, cán bộ giảm bao nhiêu thao tác và quyết định công có chính xác hơn hay không.
Thứ tư, năng lực sử dụng chưa theo kịp đầu tư công nghệ. Tỷ lệ sử dụng thư điện tử thường xuyên khoảng 50% là chỉ báo rõ ràng về khoảng cách này.
Thứ năm, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp làm thay đổi căn bản kiến trúc chính sách. Các nền tảng trước đây được tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương 3 cấp; nay phải thiết kế lại luồng công việc, dữ liệu, phân quyền và hỗ trợ kỹ thuật theo mô hình tỉnh, xã. Việc giữ nguyên hệ thống cũ và chỉ loại bỏ một tầng tổ chức sẽ không tạo thành quản trị số 2 cấp thực sự.
Giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về phát triển chính quyền số
Một là, chuyển từ chính sách chuyển đổi số sang chính sách quản trị số dựa trên kết quả. Hà Tĩnh cần xây dựng một khung chính sách chính quyền số 2026-2030 thống nhất, trong đó mọi dự án phải xác định rõ vấn đề quản trị cần giải quyết, dữ liệu sử dụng, nhóm người hưởng lợi và kết quả cần đạt. Không nên phê duyệt dự án chỉ vì “cần một phần mềm”.
KPI cần chuyển từ số lượng sang kết quả, như: thời gian TTHC giảm bao nhiêu phần trăm; số trường dữ liệu người dân không phải kê khai lại; tỷ lệ hồ sơ hoàn thành hoàn toàn không cần hỗ trợ trực tiếp; chi phí hành chính tiết kiệm; tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu; mức hài lòng và số sự cố an toàn thông tin.
Hai là, xây dựng mô hình quản trị dữ liệu cấp tỉnh. Theo đó, cần xác lập dữ liệu là tài sản công chiến lược, không phải sản phẩm phụ của phần mềm. Mỗi tập dữ liệu quan trọng phải có cơ quan chủ quản, cán bộ chịu trách nhiệm chất lượng, chuẩn kỹ thuật, tần suất cập nhật, quy tắc truy cập và cơ chế kiểm toán.
Kho dữ liệu dùng chung cần chuyển từ chức năng tập hợp dữ liệu sang hạ tầng ra quyết định, tích hợp dashboard, phân tích dự báo và API phục vụ các hệ thống nghiệp vụ. Đây là hướng phù hợp với mô hình data-driven public sector của OECD.
Ba là, áp dụng triệt để nguyên tắc nền tảng dùng chung. Cấp tỉnh nên cung cấp các dịch vụ nền tảng về định danh, thanh toán, chữ ký số, thông báo, lưu trữ, bản đồ, dữ liệu, AI và an toàn thông tin dưới dạng dịch vụ dùng chung. Các sở và xã chỉ xây dựng ứng dụng nghiệp vụ khi nền tảng chung không đáp ứng được yêu cầu.
Điều này đặc biệt quan trọng với 69 xã, phường hiện nay: không nên để 69 đơn vị mua 69 giải pháp riêng, bởi sẽ tái tạo chính sự phân mảnh mà chuyển đổi số phải giải quyết.
Bốn là, tái thiết kế dịch vụ theo sự kiện cuộc sống và sự kiện doanh nghiệp. Thay vì số hóa từng TTHC độc lập, Tỉnh cần nhóm thủ tục theo nhu cầu thực của người dùng: sinh con, nhập học, khám chữa bệnh, đất đai, thành lập doanh nghiệp, đầu tư, xây dựng, giải thể doanh nghiệp...
Một sự kiện nên được xử lý theo quy trình liên thông, trong đó người dân chỉ cung cấp những dữ liệu Nhà nước chưa có. Đây mới là bước chuyển từ chính quyền điện tử sang chính quyền số lấy người dùng làm trung tâm theo Ubaldi và Okubo (2020).
Năm là, thiết kế chính sách nhân lực riêng cho chính quyền địa phương 2 cấp. Cấp xã phải được xem là điểm cung ứng dịch vụ số tuyến đầu, không phải cấp sử dụng cuối cùng của hệ thống do Tỉnh thiết kế. Mỗi xã cần có đầu mối đủ năng lực về vận hành nền tảng, dữ liệu, an toàn thông tin và hỗ trợ công dân.
Đào tạo phải gắn với công việc và kết quả, thay vì tính số lượt người tham dự. Đối với lãnh đạo, trọng tâm là quản trị dựa trên dữ liệu; đối với công chức nghiệp vụ là tái thiết kế quy trình và khai thác nền tảng; đối với cán bộ kỹ thuật là dữ liệu, cloud, API, AI và an toàn mạng.
Sáu là, đổi mới chính sách tài chính và mua sắm công nghệ. Nguồn lực số nên được quản lý theo danh mục đầu tư số toàn Tỉnh, đánh giá vòng đời và tổng chi phí sở hữu. Hợp đồng công nghệ cần gắn thanh toán với kết quả vận hành, chất lượng dịch vụ, khả năng liên thông và mức độ sử dụng thay vì chỉ nghiệm thu việc cài đặt phần mềm.
Đây cũng là cơ sở để hạn chế tình trạng đầu tư xong nhưng không dùng, mà tỷ lệ sử dụng thư điện tử hiện nay là một chỉ báo cảnh báo.
Bảy là, tăng cường bảo vệ dữ liệu, an ninh mạng và quản trị AI. Khi chính quyền chuyển sang khai thác dữ liệu lớn và AI, chính sách phải quy định rõ phân loại dữ liệu, quyền truy cập, nhật ký khai thác, sao lưu, phục hồi, ứng phó sự cố và trách nhiệm giải trình đối với thuật toán.
Nguyên tắc cần đặt ra là AI hỗ trợ quyết định chứ không thay thế trách nhiệm của cán bộ có thẩm quyền. Các ứng dụng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích người dân cần được kiểm tra về độ chính xác, thiên lệch, khả năng giải thích và bảo vệ dữ liệu.
Tám là, thay đổi hệ thống đánh giá từ mức độ số hóa sang giá trị công. DTI vẫn cần thiết để so sánh, nhưng đánh giá nội bộ của Hà Tĩnh nên bổ sung bộ chỉ số giá trị công gồm: chất lượng dịch vụ; hiệu quả hành chính; tính minh bạch; khả năng tiếp cận; niềm tin; và tác động kinh tế - xã hội.
Cách tiếp cận này phù hợp với Twizeyimana và Andersson (2019) và xu hướng của World Bank khi GTMI 2025 tăng cường các chỉ tiêu về mức độ sử dụng thực tế chứ không chỉ việc tồn tại của hệ thống.
KẾT LUẬN
Giai đoạn 2020-2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chính sách quản lý nhà nước về phát triển chính quyền số tại Hà Tĩnh. Từ một địa phương có DTI xếp thứ 59/63 vào năm 2020, Hà Tĩnh đã vươn lên vị trí 11/63 năm 2024; năm 2025 tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 97,02%, mạng truyền số liệu chuyên dùng bao phủ toàn bộ cơ quan nhà nước, hệ thống nền tảng và dữ liệu dùng chung từng bước được mở rộng. Những kết quả này phản ánh hiệu quả của quá trình chuyển từ chính sách ứng dụng CNTT sang chính sách chuyển đổi số có sự tham gia của cả hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, giai đoạn tiếp theo đặt ra yêu cầu cao hơn. Chính quyền số không thể tiếp tục được đánh giá chủ yếu thông qua việc đã xây dựng bao nhiêu phần mềm, đã cấp bao nhiêu tài khoản hoặc số hóa bao nhiêu hồ sơ. Điểm nghẽn mới nằm ở khả năng tái sử dụng dữ liệu, kết nối liên ngành, thay đổi hành vi công chức, tạo giá trị cho người dùng và tổ chức lại phương thức quản trị trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Do đó, định hướng ưu tiên cần chuyển từ số hóa chính quyền sang quản trị chính quyền bằng dữ liệu. Chính sách phải lấy dữ liệu làm tài sản chiến lược, nền tảng dùng chung làm hạ tầng, người dân - doanh nghiệp làm trung tâm và giá trị công làm thước đo. Đây chính là điều kiện để Hà Tĩnh duy trì vị trí tương đối cao về chuyển đổi số nhưng quan trọng hơn là biến lợi thế số thành năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh và chất lượng phục vụ thực chất.
Tài liệu tham khảo:
1. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh (2026). Hà Tĩnh lấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm động lực phát triển.
2. dti.gov.vn (nd.). Kết quả đánh giá và xếp hạng Chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh - DTI.
3. HĐND tỉnh Hà Tĩnh (2023). Nghị quyết số 119/2023/NQ-HĐND ngày 8/12/2023 quy định chính sách hỗ trợ hoạt động của Tổ chuyển đổi số cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, giai đoạn 2024-2025.
4. HĐND tỉnh Hà Tĩnh (2024). Nghị quyết 140/2024/NQ-HĐND ngày 13/12/2024 quy định thẩm quyền quyết định việc đầu tư, mua sắm các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Hà Tĩnh.
5. Janowski, T. (2015). Digital government evolution: From transformation to contextualization. Government Information Quarterly, 32(3), 221-236. DOI: 10.1016/j.giq.2015.07.001
6. Mergel, I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4), 101385. DOI: 10.1016/j.giq.2019.06.002
7. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
8. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
9. Tỉnh ủy Hà Tĩnh (2021). Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 22/10/2021 về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuyển đổi số tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
10. Twizeyimana, J. D., & Andersson, A. (2019). The public value of E-Government - A literature review. Government Information Quarterly, 36(2), 167-178. DOI: 10.1016/j.giq.2019.01.001
11. Ubaldi, B., & Okubo, T. (2020). OECD Digital Government Index (DGI): Methodology and 2019 results. OECD Working Papers on Public Governance, No. 41. OECD Publishing.
12. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2022). Quyết định số 424/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt Đề án Chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021-2025.
13. UBND tỉnh Hà Tĩnh (2025). Kế hoạch số 231/KH-UBND ngày 10/5/2025 triển khai Nghị quyết số 71/NQ-CP và Chương trình hành động số 42-CTr/TU về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
14. UBND tỉnh Hà Tĩnh & Sở Tài chính (2026). Báo cáo tổng hợp Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
15. World Bank (2025). GovTech Maturity Index 2025: Tracking Public Sector Digital Transformation Worldwide. World Bank Group.
| Ngày nhận bài: 6/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 15/9/2026; Ngày duyệt đăng: 23/9/2026 |
Các tin khác
Nhận thức môi trường, chuẩn mực chủ quan và sẵn sàng trả giá cao cho bao bì thân thiện môi trường tại Việt Nam: Kiểm định mô hình Lý thuyết TPB mở rộng
Phát triển logistics thương mại điện tử xuyên biên giới tại Việt Nam
Xuất nhập khẩu Việt Nam sau 40 năm đổi mới
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong bối cảnh chuyển đổi số: Trường hợp doanh nghiệp sản xuất tại Hà Nội
Mô hình nghiên cứu tác động của thương hiệu nhà tuyển dụng số đến ý định ứng tuyển của thế hệ Z tại Việt Nam
Các nhân tố ảnh hưởng đến khởi nghiệp xanh của sinh viên khối ngành kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội
Tuân thủ thuế của hộ kinh doanh trong bối cảnh số hóa quản lý thuế: Bằng chứng từ Đồng Nai
Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực và hiệu quả của doanh nghiệp nhỏ và vừa vùng Đông Nam Bộ
Tác động của áp lực khách hàng đến xuất khẩu đối với doanh nghiệp tại Việt Nam