Thực tiễn phát triển chính quyền số tại các nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 10:39 | 09/10/2026
Đến đầu năm 2025, ASEAN tiếp tục xác nhận tăng cường dịch vụ chính phủ điện tử, niềm tin số, an ninh mạng và kỹ năng số là các nội dung ưu tiên của hợp tác khu vực. Mặc dù cùng chịu tác động của xu hướng số hóa, nhưng các nước ASEAN lựa chọn những con đường khác nhau.

ThS. Lê Anh Tuấn

NCS ngành Quản lý kinh tế, Trường Đại học Vinh

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực tiễn phát triển chính quyền số tại 11 quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) giai đoạn 2020-2025, trên cơ sở Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc (EGDI), Chỉ số trưởng thành GovTech của Ngân hàng Thế giới (GTMI) và các chiến lược, chương trình chính phủ số của từng quốc gia. Kết quả cho thấy, EGDI bình quân của khu vực tăng từ khoảng 0,63 năm 2020 lên 0,69 năm 2024; Singapore duy trì vị trí dẫn đầu, Indonesia và Việt Nam có mức cải thiện tương đối rõ. Nghiên cứu nhận diện các xu hướng chủ đạo gồm xây dựng định danh số thống nhất, phát triển hạ tầng và nền tảng số dùng chung, chuyển từ dịch vụ trực tuyến đơn lẻ sang dịch vụ tích hợp theo nhu cầu người dân, thúc đẩy quản trị dựa trên dữ liệu và tăng cường năng lực điều phối GovTech ở cấp trung ương. Từ kinh nghiệm khu vực, nghiên cứu đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Từ khóa: Chính quyền số, chính phủ số, dịch vụ công số, Đông Nam Á, Việt Nam

Abstract

This study analyzes the development of digital government in 11 Southeast Asian countries (ASEAN) during the 2020-2025 period, drawing on the United Nations E-Government Development Index (EGDI), the World Bank GovTech Maturity Index (GTMI), and each country's digital government strategies and programs. The results show that the region's average EGDI increased from approximately 0.63 in 2020 to 0.69 in 2024; Singapore maintained its leading position, while Indonesia and Viet Nam showed relatively clear improvements. The study identifies major trends, including the development of unified digital identification systems, shared digital infrastructure and platforms, a shift from standalone online services to integrated services tailored to citizens' needs, the promotion of data-driven governance, and the strengthening of GovTech coordination capacity at the central level. Drawing on regional experience, the study provides several lessons for Viet Nam.

Keywords: Digital government, e-government, digital public services, Southeast Asia, Viet Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chuyển đổi số (CĐS) trong khu vực công hiện nay không đơn thuần là ứng dụng công nghệ thông tin vào các quy trình hành chính có sẵn. Chính phủ số đòi hỏi thay đổi đồng thời cả về công nghệ, quy trình, dữ liệu, năng lực tổ chức và phương thức tương tác giữa nhà nước với người dân, doanh nghiệp. Mergel và cộng sự (2019) cho rằng, CĐS khu vực công là quá trình thay đổi mang tính tổ chức, trong đó công nghệ trở thành tác nhân thúc đẩy thiết kế lại dịch vụ, phương thức làm việc và quan hệ với các bên liên quan, thay vì chỉ tạo thêm các kênh dịch vụ trực tuyến. Quan niệm này kế thừa logic của mô hình quản trị trong kỷ nguyên số, nhấn mạnh 3 xu hướng là tái tích hợp bộ máy, tổ chức quản trị theo nhu cầu của người sử dụng và số hóa sâu các quá trình hành chính (Dunleavy và cộng sự, 2006). Janowski (2015) tiếp tục phát triển cách tiếp cận này khi chỉ ra sự tiến hóa của chính phủ số từ số hóa, chuyển đổi sang tương tác và cuối cùng là thích ứng với bối cảnh. Vì vậy, mức độ phát triển chính quyền số không thể chỉ đánh giá thông qua số lượng cổng thông tin hay dịch vụ công trực tuyến.

Tại khu vực ASEAN, quá trình này diễn ra mạnh trong giai đoạn 2020-2025. Đại dịch COVID-19 tạo áp lực chưa từng có đối với việc cung cấp dịch vụ không tiếp xúc; sự phát triển nhanh của định danh điện tử, điện toán đám mây, nền tảng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo tạo điều kiện chuyển từ chính phủ điện tử sang chính phủ số và công nghệ chính phủ (GovTech). ASEAN Digital Masterplan 2025 xác định, nâng cao chất lượng và mức độ sử dụng dịch vụ chính phủ điện tử là 1 trong 8 kết quả trọng tâm của quá trình xây dựng xã hội và nền kinh tế số ASEAN (ASEAN, 2021). Đến đầu năm 2025, ASEAN tiếp tục xác nhận tăng cường dịch vụ chính phủ điện tử, niềm tin số, an ninh mạng và kỹ năng số là các nội dung ưu tiên của hợp tác khu vực. Mặc dù cùng chịu tác động của xu hướng số hóa, nhưng các nước ASEAN lựa chọn những con đường khác nhau.

Singapore phát triển kiến trúc chính phủ đóng vai trò nền tảng dựa trên định danh Singpass, Government on Commercial Cloud và Singapore Government Tech Stack. Malaysia thúc đẩy MyDIGITAL, MyDigital ID và cổng MyGOV Malaysia. Thái Lan hình thành hệ sinh thái các nền tảng dùng chung dưới sự điều phối của Digital Government Development Agency. Indonesia chuyển từ hàng chục nghìn ứng dụng phân tán sang GovTech INA Digital. Philippines phát triển eGovPH Super App. Trong khi đó, các quốc gia có nền tảng hạ tầng và nguồn lực hạn chế hơn vẫn tập trung vào kết nối, số hóa cơ bản và nâng khả năng tiếp cận dịch vụ (Digital Government Development Agency, 2023; Government Technology Agency of Singapore, 2025; Ministry of Digital Malaysia, 2025; Philippine News Agency, 2023; Secretariat of State of the Republic of Indonesia, 2024).

Tại Việt Nam, Chương trình CĐS quốc gia năm 2020, Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số năm 2021 và Đề án 06 năm 2022 đã tạo nền tảng quan trọng cho phát triển chính phủ số (Thủ tướng Chính phủ, 2020, 2021, 2022). Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm Đông Nam Á có ý nghĩa không phải để sao chép một mô hình cụ thể mà nhằm xác định những nguyên tắc có khả năng thích ứng với điều kiện thể chế, quy mô dân số, hệ thống hành chính và trình độ phát triển của Việt Nam.

KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khung lý thuyết

Theo Dunleavy và cộng sự (2006), công nghệ số có khả năng khắc phục những hạn chế của mô hình quản lý công mới thông qua tái tích hợp các chức năng từng bị chia cắt, thiết kế tổ chức dựa trên nhu cầu của người dùng và số hóa toàn diện quy trình. Logic này đặc biệt phù hợp để giải thích tại sao những quốc gia có nhiều ứng dụng hoặc dịch vụ điện tử chưa nhất thiết đạt mức trưởng thành chính phủ số cao nếu dữ liệu và quy trình vẫn phân mảnh. Janowski (2015) phân chia quá trình tiến hóa thành 4 nấc, theo đó, chính phủ số trưởng thành không dừng ở chuyển hồ sơ giấy thành dữ liệu điện tử mà tiến tới tái cấu trúc hoạt động chính quyền, tạo ra tương tác 2 chiều và cung cấp dịch vụ phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh cụ thể của cá nhân và tổ chức.

Khung chính sách chính phủ số của OECD (2020) bổ sung 6 chiều đánh giá gồm: thiết kế theo hướng kỹ thuật số; khu vực công dựa trên dữ liệu; chính phủ như một nền tảng; mở theo mặc định; hướng đến người dùng và chủ động. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá chất lượng CĐS vượt ra ngoài các chỉ tiêu về số lượng thủ tục trực tuyến. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sử dụng 5 nhóm tiêu chí so sánh: thể chế và năng lực điều phối; hạ tầng và nền tảng số dùng chung; dữ liệu và định danh số; mức độ tích hợp và lấy người dùng làm trung tâm của dịch vụ công; mức độ tham gia, tin cậy và năng lực số.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp và nghiên cứu trường hợp so sánh. Dữ liệu định lượng chủ yếu lấy từ United Nations E-Government Survey các năm 2020, 2022 và 2024. EGDI là chỉ số tổng hợp của 3 thành phần: chỉ số dịch vụ công trực tuyến, chỉ số hạ tầng viễn thông và chỉ số nguồn nhân lực (United Nations, 2020, 2022, 2024).

Để mở rộng phân tích đến năm 2025, nghiên cứu sử dụng GTMI 2025 của World Bank. Chỉ số này xem xét 4 nhóm năng lực gồm hệ thống chính phủ lõi và hạ tầng số dùng chung, cung cấp dịch vụ công số, sự tham gia số của công dân và các điều kiện thúc đẩy công nghệ chính phủ. World Bank lưu ý GTMI không phải bảng xếp hạng thành tích mà là công cụ nhận diện mức trưởng thành và khoảng trống công nghệ chính phủ; do đó nghiên cứu chỉ sử dụng 4 nhóm A-D để bổ sung cho phân tích EGDI.

Bên cạnh 11 quốc gia trong bảng so sánh, 6 quốc gia gồm: Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines và Brunei Darussalam được phân tích sâu hơn vì đại diện cho những cách tiếp cận khác nhau về nền tảng chính phủ số.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Thực trạng phát triển chính phủ số tại ASEAN giai đoạn 2020-2025

Bảng 1: EGDI của các quốc gia ASEAN và nhóm GTMI năm 2025

Quốc gia

EGDI 2020 (hạng)

EGDI 2022 (hạng)

EGDI 2024 (hạng)

GTMI 2025

Singapore

0,92 (11)

0,91 (12)

0,97 (3)

A

Thái Lan

0,76 (57)

0,77 (55)

0,84 (52)

A

Malaysia

0,79 (47)

0,77 (53)

0,81 (57)

A

Indonesia

0,66 (88)

0,72 (77)

0,80 (64)

A

Việt Nam

0,67 (86)

0,68 (86)

0,77 (71)

B

Philippines

0,69 (77)

0,65 (89)

0,76 (73)

B

Brunei Darussalam

0,74 (60)

0,73 (68)

0,76 (75)

B

Campuchia

0,51 (124)

0,51 (127)

0,58 (120)

B

Myanmar

0,43 (146)

0,50 (134)

0,50 (138)

C

Lào

0,33 (167)

0,38 (159)

0,44 (152)

C

Timor-Leste

0,46 (134)

0,44 (147)

0,40 (159)

C

Bình quân khu vực

0,63

0,64

0,69

-

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ United Nations (2020, 2022, 2024) và World Bank (2025)

Số liệu (bảng 1) cho thấy, EGDI bình quân 11 quốc gia tăng từ khoảng 0,63 năm 2020 lên 0,69 năm 2024, tương ứng mức tăng khoảng 9,5%. Tuy nhiên, khoảng cách nội vùng vẫn lớn: năm 2024 Singapore đạt 0,9691 trong khi Timor-Leste đạt 0,4020; Singapore tạo ra một khoảng cách đáng kể so với nhóm còn lại. Năm 2024, Singapore xếp thứ 3/193 quốc gia, với EGDI 0,9691; trong khi Thái Lan, quốc gia đứng tiếp theo trong Đông Nam Á, xếp thứ 52 với 0,8351. Singapore cũng đạt đồng thời mức rất cao về dịch vụ trực tuyến, hạ tầng viễn thông và vốn nhân lực. Indonesia tăng từ hạng 88 năm 2020 lên 64 năm 2024, còn Việt Nam tăng từ hạng 86 lên 71. Riêng Việt Nam tăng 15 bậc giữa hai kỳ 2022 và 2024 và lần đầu được xếp vào nhóm “Very High EGDI” thể hiện xu hướng bắt kịp trong khu vực. Tuy nhiên, cải thiện EGDI không đồng nghĩa hoàn toàn với mức trưởng thành công nghệ chính phủ. GTMI 2025 xếp Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia vào nhóm A - mức trưởng thành GovTech rộng; trong khi Việt Nam, Philippines, Brunei và Campuchia thuộc nhóm B. Điều này hàm ý rằng thách thức sau số hóa dịch vụ là phát triển hệ thống lõi, nền tảng liên thông, cơ chế quản trị dữ liệu, năng lực triển khai và mức độ sử dụng thực tế của người dân.

Các mô hình phát triển chính quyền số tiêu biểu

Bảng 2: So sánh một số mô hình trong khu vực

Quốc gia

Đặc trưng nổi bật giai đoạn

2020-2025

Hàm ý quản trị

Singapore

Singpass, MyInfo, LifeSG, SGTS, Government on Commercial Cloud

Chính phủ như một nền tảng; xây một lần, dùng nhiều lần

Malaysia

MyDIGITAL, MyDigital ID, MyGOV Malaysia

Tích hợp định danh và các dịch vụ vào một điểm truy cập

Thái Lan

Digital Government Development Plan 2023-2027; nền tảng dữ liệu và dịch vụ dùng chung

Cơ quan GovTech trung tâm điều phối chuẩn, nền tảng và liên thông

Indonesia

SPBE; INA Digital; hợp nhất hệ sinh thái ứng dụng

Chuyển từ “nhiều ứng dụng” sang kiến trúc dịch vụ thống nhất

Philippines

eGovPH Super App

Mobile-first và mô hình một ứng dụng cho nhiều dịch vụ

Brunei

Digital Economy Masterplan 2025

Gắn chính phủ số với chiến lược quốc gia thông minh và hạ tầng số

Nguồn: Tổng hợp từ Digital Government Development Agency (2023), Government Technology Agency of Singapore (2025), Ministry of Digital Malaysia (2025), Ministry of Transport and Infocommunications, Brunei Darussalam (2020), Philippine News Agency (2023) và Secretariat of State of the Republic of Indonesia (2024)

Singapore là trường hợp rõ nhất của cách tiếp cận chính phủ như một nền tảng. Singapore Government Tech Stack (SGTS) cung cấp các thành phần dùng chung như định danh Singpass, MyInfo để tự động điền dữ liệu, thanh toán, thông báo, hạ tầng đám mây và API. Đến năm 2025, hơn 40 cơ quan sử dụng SGTS với hơn 200 hệ thống trên đám mây; một số chu kỳ phát triển dịch vụ có thể giảm từ khoảng 1 năm xuống 4 tháng nhờ tái sử dụng các cấu phần chung; khoảng 99% giao dịch với chính phủ Singapore có thể được thực hiện trực tuyến; LifeSG cho phép truy cập hơn 100 dịch vụ dựa trên nhu cầu và các giai đoạn của cuộc sống.

Malaysia Digital Economy Blueprint xác định CĐS khu vực công là một trụ cột và đặt trọng tâm vào National Digital Identity. Mục tiêu không chỉ là số hóa hồ sơ mà tạo một cơ chế nhận diện đáng tin cậy để công dân sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau (Economic Planning Unit, 2021). Năm 2025, Malaysia tiếp tục phát triển MyGOV Malaysia như cổng di động thống nhất, tích hợp với MyDigital ID. Đến ngày 23/6/2025, MyDigital ID ghi nhận hơn 2,6 triệu đăng ký; kế hoạch tích hợp đăng nhập một lần áp dụng cho 34 hệ thống chính phủ chủ chốt. Kinh nghiệm Malaysia cho thấy định danh số chỉ phát huy giá trị khi trở thành thành phần của hệ sinh thái dịch vụ thống nhất thay vì tồn tại như một ứng dụng độc lập.

Kế hoạch phát triển chính phủ số năm 2023 đến năm 2027 của Thái Lan xác định 4 mục tiêu lớn: chính phủ linh hoạt, đáp ứng tốt hơn, nâng sức cạnh tranh và tăng tính mở, minh bạch. Đặc biệt, kế hoạch nhấn mạnh tiêu chuẩn chính phủ số, quản trị và tích hợp dữ liệu, trung tâm trao đổi dữ liệu, nền tảng chung, dịch vụ dùng chung và tái thiết kế quy trình theo hướng không giấy tờ (Digital Government Development Agency, 2023).

Indonesia là một bài học quan trọng cho những quốc gia có quy mô dân số lớn và bộ máy hành chính phân cấp. Trước khi INA Digital được triển khai, Indonesia có khoảng 27.000 ứng dụng và nền tảng của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, nhiều hệ thống hoạt động biệt lập và trùng lặp. Năm 2024, Chính phủ Indonesia giới thiệu INA Digital như công nghệ quốc gia nhằm tạo trải nghiệm dịch vụ thống nhất và thúc đẩy liên thông dữ liệu. Indonesia đồng thời đạt mức cải thiện EGDI mạnh, từ 0,66 năm 2020 lên 0,7991 năm 2024 và được World Bank xếp nhóm A về trưởng thành công nghệ chính phủ năm 2025. Trường hợp này cho thấy càng số hóa nhanh thì rủi ro cát cứ ứng dụng càng lớn nếu thiếu kiến trúc tổng thể.

Năm 2023 eGovPH được Philippines ra mắt theo mô hình điểm cung cấp dịch vụ trọn gói, tích hợp dịch vụ trung ương và địa phương vào một ứng dụng. Kiến trúc này phản ánh thực tế rằng, với nhiều quốc gia Đông Nam Á, điện thoại thông minh là phương tiện tiếp cận dịch vụ số phổ biến hơn máy tính. Philippines tăng EGDI từ 0,6523 năm 2022 lên 0,7621 năm 2024 và chuyển lên nhóm rất cao. Tuy nhiên, GTMI 2025 vẫn thuộc nhóm B. Điều đó cho thấy một siêu ứng dụng có thể cải thiện trải nghiệm người dùng nhưng chưa thể thay thế việc hoàn thiện các hệ thống dữ liệu và hệ thống lõi phía sau.

Kế hoạch tổng thể về kinh tế số năm 2025 của Brunei sử dụng tầm nhìn “Quốc gia Thông minh thông qua CĐS” và đặt chính phủ, doanh nghiệp, các cơ sở giáo dục và người dân trong một cách tiếp cận toàn quốc gia. Brunei có lợi thế rất cao về hạ tầng viễn thông - TII năm 2024 đạt 0,9868 nhưng Online Service Index chỉ đạt 0,5802. Kinh nghiệm của Brunei chỉ ra rằng, hạ tầng tốt là điều kiện cần nhưng không đủ; giá trị của chính quyền số chỉ hình thành khi hạ tầng được chuyển hóa thành dịch vụ tích hợp và mức sử dụng thực tế.

Thảo luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Kết quả so sánh cho thấy bài học quan trọng nhất đối với Việt Nam là phải chuyển từ tư duy đưa thủ tục hành chính lên mạng sang thiết kế lại quy trình để vận hành trên môi trường số. Đây là khác biệt căn bản giữa chính phủ điện tử và chính phủ số. Một thủ tục được nộp trực tuyến nhưng vẫn phải kiểm tra giấy tờ bằng tay, yêu cầu khai lại dữ liệu đã có hoặc chuyển hồ sơ qua nhiều hệ thống không liên thông chưa phải là dịch vụ số trưởng thành.

Việt Nam cần đẩy mạnh mô hình chính phủ là nền tảng cốt lõi. Kinh nghiệm Singapore cho thấy nền tảng định danh, dữ liệu, thanh toán, thông báo, API và cloud nên được xây như các tài sản số dùng chung. Điều này giúp giảm đầu tư trùng lặp và tạo khả năng mở rộng. Định hướng này phù hợp với Chiến lược Chính phủ số của Việt Nam, nhưng thách thức nằm ở việc chuyển từ quy định kiến trúc sang sử dụng bắt buộc các nền tảng chung trong đầu tư và triển khai thực tế (Thủ tướng Chính phủ, 2021).

Cần thực hiện thực chất nguyên tắc “Chỉ một lần duy nhất” - người dân cung cấp dữ liệu một lần. Đề án 06 đã tạo nền móng quan trọng thông qua cơ sở dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử. Giai đoạn tiếp theo cần mở rộng logic này sang đất đai, đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm, giáo dục, y tế và các dữ liệu thiết yếu khác trên cơ sở phân quyền truy cập, bảo vệ dữ liệu và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý dữ liệu (Thủ tướng Chính phủ, 2022).

Đồng thời, cần giảm mạnh hiện tượng phân mảnh ứng dụng. Bài học Indonesia đặc biệt phù hợp với Việt Nam. Nếu mỗi bộ, ngành hoặc địa phương tiếp tục phát triển ứng dụng riêng cho cùng một chức năng, chi phí CĐS có thể tăng trong khi trải nghiệm người dân trở nên phức tạp. Chính sách đầu tư số cần chuyển từ “phê duyệt dự án CNTT” sang quản trị danh mục sản phẩm số; trước khi xây dựng một hệ thống mới phải xác định liệu chức năng đó đã tồn tại trên nền tảng dùng chung hay chưa.

Việt Nam cần coi năng lực GovTech và nhân lực số của khu vực công là một cấu phần của cải cách. Các quốc gia đạt GTMI nhóm A không chỉ có công nghệ tốt mà còn có tổ chức điều phối, tiêu chuẩn, năng lực phát triển sản phẩm và quản trị dự án số. Điều này đòi hỏi hình thành đội ngũ kiến trúc sư hệ thống, kỹ sư dữ liệu, chuyên gia an toàn thông tin, quản lý sản phẩm số và cán bộ hoạch định chính sách hiểu biết dữ liệu trong các cơ quan nhà nước. World Bank (2025) cũng cho thấy các quốc gia đang tăng đầu tư vào chiến lược số, kỹ năng số, cơ quan quản trị dữ liệu và đổi mới khu vực công.

Hệ thống đánh giá chính quyền số cần chuyển từ đo có hay không sang đo dùng như thế nào và tạo giá trị gì. Tỷ lệ thủ tục cung cấp trực tuyến chỉ phản ánh năng lực cung ứng; cần bổ sung tỷ lệ người dân thực sự sử dụng, tỷ lệ hoàn thành toàn trình, thời gian xử lý, chi phí tuân thủ, mức độ hài lòng, số dữ liệu được tái sử dụng và số lần người dân không phải khai lại thông tin. Kinh nghiệm GTMI 2025 cũng chỉ ra khoảng trống toàn cầu về đo lường mức độ sử dụng thực tế của các nền tảng GovTech.

Cuối cùng, cần nhìn nhận khoảng cách số như một vấn đề quản trị chứ không chỉ là vấn đề hạ tầng. Người cao tuổi, người khuyết tật, nhóm thu nhập thấp và người dân vùng khó khăn vẫn cần các kênh hỗ trợ. Chính quyền số trưởng thành phải giảm bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ chứ không tạo ra một dạng loại trừ mới.

KẾT LUẬN

Giai đoạn 2020-2025 đánh dấu bước chuyển đáng kể của các quốc gia ASEAN từ chính phủ điện tử sang chính phủ số. Giá trị EGDI bình quân của 11 quốc gia trong khu vực tăng từ khoảng 0,63 năm 2020 lên 0,69 năm 2024. Tuy vậy, khoảng cách phát triển vẫn rất lớn. Singapore đã hình thành mô hình chính phủ như một nền tảng với định danh, dữ liệu, cloud và các cấu phần số dùng chung; Thái Lan chú trọng thể chế điều phối; Malaysia và Philippines thúc đẩy một điểm truy cập dịch vụ thống nhất; Indonesia tìm cách khắc phục tình trạng phân mảnh ứng dụng; Brunei cho thấy hạ tầng viễn thông cao chưa đương nhiên tạo ra dịch vụ số trưởng thành.

Việt Nam đã có bước tiến rõ rệt khi EGDI tăng từ 0,67 và hạng 86 năm 2020 lên 0,7709 và hạng 71 năm 2024. Tuy nhiên, việc Việt Nam được xếp nhóm B trong GTMI 2025, trong khi Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia nằm ở nhóm A, cho thấy dư địa tiếp tục cải cách còn lớn.

Giai đoạn tiếp theo vì vậy không nên đặt trọng tâm chủ yếu vào tăng số lượng dịch vụ công trực tuyến. Trọng tâm cần chuyển sang tái cấu trúc quy trình, liên thông dữ liệu, nền tảng dùng chung, định danh số, dịch vụ chủ động, năng lực GovTech và đo lường giá trị công. Nói cách khác, mục tiêu của chính quyền số không phải là xây dựng một phiên bản điện tử của bộ máy hành chính truyền thống, mà là hình thành một mô hình quản trị mới trong đó dữ liệu và công nghệ cho phép chính quyền hoạt động thông minh hơn, liên thông hơn và phục vụ người dân tốt hơn.

Về phương pháp, nghiên cứu vẫn có giới hạn do EGDI là chỉ số quốc gia và được công bố 2 năm một lần, trong khi chất lượng chính quyền số ở cấp địa phương có thể khác đáng kể. GTMI cũng được World Bank xác định là công cụ phản ánh mức trưởng thành GovTech chứ không phải bảng xếp hạng thành tích. Vì vậy, các nghiên cứu tiếp theo có thể kết hợp EGDI, GTMI với dữ liệu về mức sử dụng dịch vụ công, chi phí giao dịch, mức hài lòng và các nghiên cứu trường hợp cấp tỉnh/thành phố để đánh giá chính quyền số một cách đầy đủ hơn.

Tài liệu tham khảo:

1. ASEAN (2021). ASEAN Digital Masterplan 2025. ASEAN Secretariat

2. Digital Government Development Agency (2023). Thailand Digital Government Development Plan 2023-2027. Government of Thailand

3. Dunleavy, P., Margetts, H., Bastow, S., & Tinkler, J. (2006). New public management is dead-Long live digital-era governance. Journal of Public Administration Research and Theory, 16(3), 467-494. https://doi.org/10.1093/jopart/mui057

4. Economic Planning Unit (2021). Malaysia Digital Economy Blueprint. Government of Malaysia

5. Government Technology Agency of Singapore (2025). Singapore Government Tech Stack. Government of Singapore

6. Janowski, T. (2015). Digital government evolution: From transformation to contextualization. Government Information Quarterly, 32(3), 221-236. https://doi.org/10.1016/j.giq.2015.07.001

7. Mergel, I., Edelmann, N., & Haug, N. (2019). Defining digital transformation: Results from expert interviews. Government Information Quarterly, 36(4), 101385. https://doi.org/10.1016/j.giq.2019.06.002

8. Ministry of Digital Malaysia (2025). MyGOV Malaysia mobile app to be launched next month. Government of Malaysia.

9. Ministry of Transport and Infocommunications, Brunei Darussalam (2020). Digital Economy Masterplan 2025.

10. OECD (2020). The OECD Digital Government Policy Framework: Six dimensions of a digital government. OECD Public Governance Policy Papers, No. 2. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/f64fed2a-en

11. Philippine News Agency (2023). eGov PH app to ease doing business, lessen corruption. Government of the Philippines

12. Secretariat of State of the Republic of Indonesia (2024). Optimalisasi Peran Pemerintah di Era Digital melalui INA Digital. Government of Indonesia

13. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình CĐS quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

14. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030

15. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ CĐS quốc gia giai đoạn 2022 -2025, tầm nhìn đến năm 2030.

16. United Nations (2020). United Nations E-Government Survey 2020: Digital Government in the Decade of Action for Sustainable Development. United Nations Department of Economic and Social Affairs.

17. United Nations (2022). United Nations E-Government Survey 2022: The Future of Digital Government. United Nations Department of Economic and Social Affairs.

18. United Nations (2024). United Nations E-Government Survey 2024: Accelerating Digital Transformation for Sustainable Development. United Nations Department of Economic and Social Affairs.

19. World Bank (2025). GovTech Maturity Index 2025: Tracking Public Sector Digital Transformation Worldwide. World Bank.

Ngày nhận: 10/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/10/2026; Ngày duyệt đăng: 7/10/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng mạng xã hội đã làm thay đổi đáng kể cách doanh nghiệp tiếp cận, tương tác và xây dựng mối quan hệ với khách hàng
Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Công nghệ số có thể hỗ trợ tăng trưởng xanh bằng cách tối ưu hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải thiện khả năng giám sát môi trường. Tuy nhiên, tác động môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời của công nghệ và hạ tầng số, từ khai thác nguyên liệu đến xử lý chất thải điện tử.
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Dự báo giá là một trong những thách thức quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ, bởi những giao dịch điện tử ngày càng có quy mô lớn.
Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Trong hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp, tiền lương không chỉ là công cụ duy trì nguồn nhân lực mà còn là một khoản chi phí trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp lữ hành, nơi chất lượng dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào năng lực xử lý nghiệp vụ và tình huống của người lao động.
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, người dân Trà Quế (Đà Nẵng) đã chuyển từ nghề chài lưới sang làm nông dân và khai sinh ra nghề trồng rau nổi tiếng. Bề dày lịch sử và sự độc đáo của nghề trồng rau đã giúp làng rau Trà Quế nổi tiếng không chỉ trong Thành phố, khu vực mà trên cả nước.
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Trong bối cảnh các sàn thương mại điện tử ngày càng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để cá nhân hóa đề xuất sản phẩm, người tiêu dùng dễ bị tác động bởi các gợi ý phù hợp với sở thích, nhu cầu và lịch sử mua sắm.
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Biến đổi khí hậu toàn cầu và nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng truyền thống đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Để hướng tới mục tiêu trung hòa carbon, giảm cường độ năng lượng, tức nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên một đơn vị đầu ra kinh tế đã trở thành chiến lược cốt lõi của nhiều quốc gia.
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Phát triển du lịch hiện nay phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng liên kết giữa các ngành, địa phương và chủ thể kinh tế. Đối với du lịch sinh thái, yêu cầu này càng rõ do tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa vừa là nguồn lực khai thác, vừa cần được bảo vệ để bảo đảm phát triển bền vững.
Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Ngành ngân hàng Việt Nam có mức độ số hóa ngày càng cao, kéo theo yêu cầu lớn về bảo đảm an toàn dữ liệu và hạ tầng mật mã