Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam
Mai Hoàng Hạnh
Trường Đại học Thủ Dầu Một
Email: [email protected]
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm phân tích rủi ro pháp lý của hành vi chia nhỏ thu nhập, chi trả tiền lương bằng tiền mặt dưới ngưỡng quy định tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Thông qua phương pháp định tính, nghiên cứu làm rõ các quy định tại Nghị định số 320/2025/NĐ-CP, theo đó các khoản chi tiền lương từ 5 triệu đồng trở lên bắt buộc phải thanh toán không dùng tiền mặt để được tính vào chi phí được trừ. Kết quả phân tích chỉ ra rằng, việc cố tình phân tách quỹ lương thành nhiều đợt chi tiền mặt dưới 5 triệu đồng trái với thỏa thuận kỳ hạn trong hợp đồng lao động là giải pháp tình thế có nguy cơ rủi ro cao. Cơ quan Thuế có đầy đủ thẩm quyền gộp các giao dịch dựa trên nguyên tắc bản chất kinh tế để thực hiện ấn định thuế, loại trừ chi phí hợp lý và truy thu thuế doanh nghiệp. Từ thực trạng đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp kiểm soát nội bộ trọng tâm, hướng dẫn doanh nghiệp chuẩn hóa hồ sơ chứng từ lao động và tuân thủ đồng bộ quy trình thanh toán số nhằm tối thiểu hóa rủi ro hậu kiểm, đảm bảo tính bền vững trong hoạt động tài chính - kế toán.
Từ khóa: Ấn định thuế, lương, thuế thu nhập doanh nghiệp
Abstract
The study analyzes the legal risks associated with income splitting and cash salary payments structured below the statutory threshold in Vietnamese enterprises. Employing a qualitative research approach, the study examines the provisions of Decree No. 320/2025/ND-CP, under which salary payments of VND 5 million or more must be made through non-cash payment methods to qualify as deductible expenses for corporate income tax purposes. The findings indicate that deliberately dividing salary payments into multiple cash installments, each below VND 5 million, in contravention of the payment schedule stipulated in employment contracts constitutes a high-risk, short-term workaround. Tax authorities are empowered to aggregate transactions based on the principle of economic substance over form for tax assessment purposes, disallow deductible expenses, and recover additional corporate income tax liabilities. In response to these risks, the study proposes key internal control measures to help enterprises standardize employment-related documentation and supporting records, as well as ensure consistent compliance with digital payment procedures. These measures aim to minimize the risks associated with post-audit tax inspections and promote the sustainability of financial and accounting operations.
Keywords: Tax assessment, salaries, corporate income tax
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp, tiền lương không chỉ là công cụ duy trì nguồn nhân lực mà còn là một khoản chi phí trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Nhằm thắt chặt kỷ cương quản lý tài chính và thúc đẩy định hướng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, Luật Thuế TNDN số 67/2025/QH15 ngày 14/6/2025 và cụ thể là Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN, đã thiết lập một ngưỡng giới hạn mang tính bước ngoặt: Các khoản chi trả tiền lương, tiền công cho người lao động có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên bắt buộc phải thực hiện qua phương thức thanh toán không dùng tiền mặt để được ghi nhận là chi phí hợp lý (Quốc hội, 2025; Chính phủ, 2025 b).
Sự thay đổi này đã tác động mạnh mẽ đến thói quen vận hành của một bộ phận doanh nghiệp. Thay vì chuyển đổi đồng bộ sang phương thức thanh toán số, một số đơn vị đã lựa chọn giải pháp tình thế mang tính đối phó bằng cách chia nhỏ quỹ lương của một cá nhân trong tháng thành nhiều khoản chi tiền mặt có giá trị dưới 5 triệu đồng, nhằm cố tình lách qua các điều kiện kiểm soát dòng tiền. Tuy nhiên, dưới lăng kính của cơ quan quản lý, hành vi này đang đặt doanh nghiệp trước những rủi ro tài khóa nghiêm trọng khi ngành Thuế thực thi ngày càng nghiêm ngặt nguyên tắc “bản chất kinh tế quyết định hình thức pháp lý”.
Việc xem xét lại toàn bộ quy trình cấu trúc chứng từ, hợp đồng lao động và thực hiện gộp dòng tiền thanh toán để ấn định thuế, truy thu chi phí được trừ đang trở thành một thách thức lớn đối với công tác tuân thủ của doanh nghiệp. Xuất phát từ thực tiễn cấp bách đó, nghiên cứu này tập trung làm rõ các rào cản pháp lý, phân tích hành vi sai phạm và kiến nghị giải pháp kiểm soát nội bộ an toàn.
CĂN CỨ PHÁP LÝ VỀ ĐIỀU KIỆN CHỨNG TỪ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT ĐỐI VỚI CHI PHÍ TIỀN LƯƠNG
Hệ thống quy phạm pháp luật tài chính hiện hành đã ban hành các tiêu chuẩn đồng bộ, gắn liền phương thức thanh toán với điều kiện xác lập chi phí được trừ khi tính thuế TNDN thông qua 3 trụ cột pháp lý cốt lõi:
Thứ nhất, về hạn mức giao dịch quy định đối với chứng từ thanh toán: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/12/2025, điều kiện ghi nhận chi phí được trừ khi tính thuế TNDN được quy định cụ thể như sau: “Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên”. Quy định này đóng vai trò là căn cứ pháp lý ràng buộc phương thức thanh toán bắt buộc chuyển khoản chung cho mọi giao dịch, bao gồm cả nghĩa vụ trả lương và các khoản thu nhập mang tính chất tiền lương, tiền công phát sinh tại tổ chức.
Thứ hai, về tiêu chuẩn pháp lý đối với hình thức chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt: Căn cứ Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025, khi phát sinh giao dịch mua vào đạt hạn mức giao dịch quy định từ 5 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế Giá trị gia tăng), cơ sở kinh doanh bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Quy định này làm rõ bản chất kỹ thuật của chứng từ hợp lệ như sau: “Chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán” (Chính phủ, 2025 a). Đây là căn cứ pháp lý ràng buộc phương thức thanh toán, trực tiếp xóa bỏ tính hợp lệ của việc nộp tiền mặt tại quầy ngân hàng vào tài khoản đối tác để thay thế cho lệnh chuyển tiền điện tử. Qua đó, cơ quan quản lý định rõ dòng tiền đáp ứng điều kiện khấu trừ thuế phải là dòng dịch chuyển trực tiếp giữa các tài khoản mở tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Thứ ba, về chế tài xử lý đối với chi phí tiền lương thiếu chứng từ thanh toán hợp lệ: Mối quan hệ ràng buộc giữa hồ sơ nhân sự và nghĩa vụ thuế được thiết lập tại Điểm a Khoản 8 Điều 10 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế: “Chi cho người lao động thuộc một trong các trường hợp sau: a) Chi tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định của pháp luật”. Sự liên thông của các văn bản quy phạm nêu trên dẫn đến một hệ quả pháp lý tất yếu: Kể từ ngày Nghị định số 320/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành (15/12/2025), bất kỳ khoản chi trả thu nhập nào cho người lao động đạt hạn mức giao dịch quy định từ 5 triệu đồng trở lên mà không đính kèm chứng từ chuyển khoản ngân hàng đều không hợp lệ, không được công nhận là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN trong kỳ quyết toán.
RỦI RO PHÁP LÝ TÀI CHÍNH KHI CHIA NHỎ DÒNG TIỀN CHI TRẢ THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
Rủi ro bị loại chi phí khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Hậu quả tài chính trực diện nhất khi doanh nghiệp cố tình “chia nhỏ” chứng từ chi tiền mặt dưới 5 triệu đồng là bị cơ quan thuế loại toàn bộ chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN. Dù pháp luật không cấm chi trả lương bằng tiền mặt, việc phân tách một khoản thu nhập duy nhất thành nhiều phiếu chi nhỏ lẻ để tránh nghĩa vụ chuyển khoản hoàn toàn không phải giải pháp an toàn.
Khi thanh tra, cơ quan Thuế sẽ đối chiếu phiếu chi với Hợp đồng lao động và Bảng lương tổng hợp theo nguyên tắc bản chất kinh tế quyết định hình thức. Ví dụ: Nhân viên X có lương 15 triệu đồng/tháng (thanh toán 1 lần/tháng). Kế toán lập 5 phiếu chi tiền mặt 3 triệu đồng/lần để lách quy định. Về hình thức, mỗi phiếu chi đều dưới 5 triệu đồng, nhưng về bản chất, đây là một nghĩa vụ thanh toán duy nhất. Cơ quan Thuế sẽ thực hiện gộp dòng tiền, xác định đúng bản chất 15 triệu đồng, loại toàn bộ khỏi chi phí được trừ, đồng thời truy thu thuế TNDN và phạt chậm nộp.
Hành vi “chia nhỏ” chứng từ thể hiện tư duy quản trị mang tính tình thế và tiềm ẩn rủi ro về tuân thủ pháp luật thuế. Cách thức này không chỉ khó đáp ứng yêu cầu minh bạch trong quá trình thanh tra, kiểm tra mà còn có thể làm gia tăng rủi ro vi phạm các quy định về quản lý thuế của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15. Do đó, việc minh bạch hóa các dòng tiền qua ngân hàng ngay từ đầu là một giải pháp quản trị rủi ro chi phí theo hướng chủ động, minh bạch và bền vững.
Tiêu chí kiểm tra của cơ quan Thuế và cơ chế hậu kiểm dữ liệu số hóa
Cơ quan Thuế khẳng định tiền lương là nghĩa vụ tài chính liên tục theo Hợp đồng lao động và Quy chế lương; việc lập nhiều phiếu chi tiền mặt nhỏ lẻ không làm thay đổi bản chất tổng thu nhập trong kỳ của người lao động. Khi thanh tra, đoàn kiểm tra sẽ áp dụng 3 tiêu chí kỹ thuật để phát hiện vi phạm:
Thứ nhất, tính nhất quán của kỳ hạn thanh toán: Đối chiếu ngày lập phiếu chi với điều khoản trên Hợp đồng lao động. Nếu hợp đồng quy định trả lương theo tháng nhưng sổ sách phát sinh phiếu chi liên tục theo ngày/tuần cho cùng một người mà không có lý do chính đáng, đây bị coi là hành vi ngụy tạo chứng từ.
Thứ hai, theo Mã số thuế (MST) cá nhân: Hệ thống số hóa theo dõi dòng thu nhập dựa trên MST. Việc chia nhỏ số lần chi không thể che giấu tổng thu nhập tích lũy trong tháng. Khi tổng thu nhập tháng vượt 5 triệu đồng, nghĩa vụ thanh toán không dùng tiền mặt lập tức kích hoạt cho toàn bộ kỳ lương.
Thứ ba, tổng hợp và xác định lại thu nhập: Cơ quan Thuế có thẩm quyền gộp toàn bộ các khoản chi tiền mặt nhỏ lẻ để xác định lại bản chất nghĩa vụ thuế. Nếu doanh nghiệp không chứng minh được tính độc lập khách quan của các khoản chi, toàn bộ quỹ lương chi sai phương thức sẽ bị loại khỏi chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
Sự chuyển dịch từ kiểm tra thủ công sang hậu kiểm tự động bằng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) đã thay đổi hoàn toàn vấn đề tuân thủ. Quan điểm cho rằng cơ quan Thuế không đủ nguồn lực để rà soát từng khoản chi riêng lẻ là cách tiếp cận không còn phù hợp với bối cảnh quản lý thuế dựa trên dữ liệu số. Khi dữ liệu được số hóa tập trung, các dấu hiệu bất thường theo MST đều bị phát hiện tự động. Do đó, năng lực cốt lõi của bộ phận kế toán hiện nay phải là làm sạch dữ liệu và bảo đảm tính khớp đúng tuyệt đối giữa các hệ thống báo cáo.
Rủi ro liên đới theo căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội và trách nhiệm hình sự
Hành vi chia nhỏ thu nhập bằng tiền mặt thường gắn liền với các vi phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội (BHXH), đặc biệt là hành vi ngụy tạo các loại hợp đồng thời vụ dưới 1 tháng để trục lợi. Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, đối tượng bắt buộc tham gia BHXH áp dụng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên (bao gồm cả trường hợp 2 bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên). Đồng thời, căn cứ Điều 38 Luật BHXH 2024, hành vi cố ý không đăng ký, đăng ký không đủ số người, hoặc kê khai tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn thực tế bị định danh chính thức là hành vi chậm đóng, trốn đóng BHXH bắt buộc (Quốc hội, 2024). Sự kết nối và chia sẻ dữ liệu liên thông giữa cơ quan Thuế và cơ quan BHXH hiện nay khiến các phương thức lách luật bằng phiếu chi nhỏ tiền mặt bị vô hiệu hóa. Khi các khoản chi tiền mặt chia nhỏ bị kết luận là tiền lương, tiền công mang tính chất thường xuyên nhưng doanh nghiệp cố tình chia nhỏ, doanh nghiệp sẽ bị xử lý theo các chế tài nghiêm khắc về hành chính hoặc cũng có thể về hình sự.
Đánh giá tổng thể hệ thống pháp luật, việc xem xét rủi ro thuế độc lập với rủi ro bảo hiểm là một thiếu sót nghiêm trọng trong quản trị doanh nghiệp. Cơ chế liên thông dữ liệu giữa Thuế - BHXH tạo ra hiệu ứng dây chuyền: một sai phạm nhỏ ở khâu chứng từ tiền mặt có thể kích hoạt các truy thu tài chính kép và trách nhiệm hình sự cho nhà quản lý. Do đó, ban lãnh đạo doanh nghiệp bắt buộc phải nâng tầm công tác quản trị tuân thủ lên mức độ ưu tiên chiến lược.
KHÓ KHĂN VÀ RẢO CẢN THỰC THI ĐỐI VỚI NHÓM ĐỐI TƯỢNG LAO ĐỘNG ĐẶC THÙ
Dù chuyển đổi sang thanh toán không dùng tiền mặt là xu thế tất yếu, nhưng việc áp dụng cứng nhắc quy định này mà bỏ qua các yếu tố địa lý và nhân khẩu học đang tạo ra những rào cản thực tế đối với nhóm lao động đặc thù:
Bất cập hạ tầng tài chính - viễn thông tại vùng sâu, vùng xa
Mạng lưới ATM và các điểm giao dịch ngân hàng còn hạn chế về độ bao phủ tại một số khu vực, khiến người lao động phải dành thêm thời gian và chi phí di chuyển, trong một số trường hợp phải đi hàng chục kilômét để thực hiện giao dịch rút tiền. Bên cạnh đó, chất lượng và độ ổn định của hạ tầng viễn thông chưa đồng đều cũng tạo ra những trở ngại đối với việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử.
Rào cản công nghệ ở lao động lớn tuổi
Hạn chế về thị lực, nhận thức công nghệ và tâm lý e ngại đối với giao dịch số khiến nhóm lao động lớn tuổi khó thao tác trên ứng dụng thông minh. Do đó, thói quen sử dụng tiền mặt không chỉ phản ánh lựa chọn cá nhân mà còn gắn với điều kiện tiếp cận hạ tầng tài chính và năng lực số của nhóm lao động lớn tuổi.
Dưới góc độ xã hội học kinh tế, hiệu quả thực thi chính sách pháp luật phụ thuộc đáng kể vào tính khả thi của các quy định và sự phù hợp của lộ trình chuyển tiếp. Việc tăng cường yêu cầu thanh toán qua ngân hàng khi hạ tầng tài chính số và năng lực số của một bộ phận người lao động chưa được cải thiện tương ứng có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ đối với cả người lao động và doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách tài chính và thuế trong giai đoạn chuyển đổi cần được thiết kế theo hướng linh hoạt, có lộ trình và phù hợp với sự khác biệt về điều kiện tiếp cận dịch vụ tài chính giữa các nhóm đối tượng.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO DOANH NGHIỆP
Trên cơ sở phân tích toàn diện các rủi ro hệ thống và thách thức thực tiễn, nghiên cứu đề xuất khung giải pháp quản trị tuân thủ nhằm giúp doanh nghiệp bảo toàn chi phí được trừ khi tính thuế TNDN:
Chuẩn hóa quy trình thanh toán theo đúng hạn mức pháp định
Doanh nghiệp cần chuyển đổi đồng bộ 100% phương thức chi trả thu nhập sang hình thức chuyển khoản ngân hàng đối với tất cả người lao động có tổng thu nhập tích lũy trong tháng từ 5 triệu đồng trở lên. Kế toán trưởng và Ban Giám đốc cần quán triệt nguyên tắc quản lý dòng tiền dựa trên “bản chất kinh tế tổng thể” thay vì chỉ nhìn vào từng chứng từ đơn lẻ. Tuyệt đối không thực hiện bóc tách, chia nhỏ quỹ lương thành nhiều đợt chi tiền mặt dưới ngưỡng. Kỳ hạn và phương thức chi trả phải bảo đảm tính liên tục, nhất quán và khớp đúng với Hợp đồng lao động và Quy chế tài chính của đơn vị. Giải pháp nền tảng mang tính chất phòng ngừa từ gốc này đòi hỏi các doanh nghiệp phải đưa quy tắc thanh toán không dùng tiền mặt vào Quy chế tài chính nội bộ như một chuẩn mực bắt buộc, cần loại bỏ các trường hợp ngoại lệ trong thanh toán bằng tiền mặt không dựa trên tiêu chí và quy trình được xác định rõ ràng, đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát thống nhất đối với các khoản chi nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý ngay từ khâu phát sinh giao dịch.
Áp dụng linh hoạt và chuẩn hóa cơ chế nhận lương ủy quyền cho đối tượng đặc thù
Để tháo gỡ khó khăn cho lao động vùng xa hoặc người lớn tuổi mà vẫn bảo đảm đầy đủ điều kiện chi phí được trừ, doanh nghiệp cần hướng dẫn người lao động vận dụng cơ chế nhận lương ủy quyền hợp pháp theo Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động (Quốc hội, 2019) và hướng dẫn tại Công văn số 654/TNI-QLDN1 ngày 4/2/2026 của Cục Thuế. Qua phân tích pháp lý, nghiên cứu đánh giá cơ chế nhận lương ủy quyền là một “điểm mở” pháp lý vô cùng giá trị, đóng vai trò là cầu nối hòa giải giữa yêu cầu quản lý minh bạch của Nhà nước và nhu cầu thực tiễn của người lao động yếu thế. Việc doanh nghiệp chủ động hỗ trợ người lao động hoàn thiện hồ sơ ủy quyền không chỉ giải quyết hiệu quả bài toán rủi ro thuế TNDN mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội và năng lực quản trị nhân sự linh hoạt của tổ chức.
Thiết lập hệ thống kiểm soát chéo và đồng bộ hóa chứng từ kế toán - nhân sự
Doanh nghiệp cần xây dựng sự đồng bộ, không có sai lệch giữa hệ thống hồ sơ nhân sự và dữ liệu kế toán. Định kỳ hằng tháng, bộ phận Kế toán và Nhân sự cần thiết lập cơ chế đối chiếu chéo để kiểm tra tính nhất quán của hệ thống hồ sơ bao gồm: Hợp đồng lao động, Quy chế lương, Bảng chấm công, Ủy nhiệm chi thực tế và Tờ khai quyết toán thuế Thu nhập cá nhân năm. Thực tế tại nhiều doanh nghiệp cho thấy, sự thiếu kết nối giữa phòng Nhân sự (quản lý hợp đồng, chấm công) và phòng Kế toán (quản lý chứng từ, chi trả) là nguyên nhân chính dẫn đến các sai lệch dữ liệu trong quá trình cơ quan Thuế kiểm tra và đối chiếu thông tin. Do đó, việc duy trì một hệ thống hồ sơ sạch, minh bạch, có số liệu khớp nhau hoàn toàn không chỉ phục vụ mục đích tuân thủ thuế mà còn nâng cao hiệu quả vận hành bộ máy tài chính - nhân sự nội bộ.
Quản trị lao động thời vụ và tuân thủ nguyên tắc đóng bảo hiểm xã hội theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024
Doanh nghiệp cần chấm dứt ngay hành vi ngụy tạo các loại hợp đồng thời vụ, hợp đồng giao khoán ngắn hạn để né tránh đóng BHXH và thực hiện các khoản chi bằng tiền mặt theo cách thức phân tách. Căn cứ Luật BHXH 2024, bộ phận quản trị nhân sự cần rà soát chính xác bản chất công việc thực tế như xác định đúng đối tượng tham gia, xác định đúng căn cứ đóng BHXH…Việc chuẩn hóa quản trị lao động thời vụ giúp doanh nghiệp loại bỏ hoàn toàn rủi ro bị truy thu tiền đóng BHXH, truy thu phạt chậm đóng, đồng thời ngăn ngừa triệt để nguy cơ bị xử lý hình sự. Chủ động tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ BHXH và thuế giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí phát sinh, rủi ro pháp lý và tổn thất uy tín khi bị thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã làm rõ bản chất pháp lý và hệ quả tài chính nghiêm khắc của hành vi chia nhỏ phiếu chi tiền mặt nhằm né tránh nghĩa vụ chuyển khoản. Việc chia nhỏ quỹ lương thành các khoản chi dưới 5 triệu đồng hoàn toàn không phải giải pháp quản trị an toàn. Dưới nguyên tắc “bản chất quyết định hình thức”, cơ quan Thuế sẽ xem xét các chứng từ không phù hợp từ đó loại khỏi chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, đồng thời ấn định thuế và phạt vi phạm. Trong bối cảnh liên thông dữ liệu số hóa theo thời gian thực giữa ngành Thuế và BHXH, vi phạm này có thể phát sinh rủi ro liên quan đến hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc, thậm chí bị xử lý hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành.
Đối với những rào cản khách quan về địa lý vùng xa hoặc đặc điểm lao động lớn tuổi, doanh nghiệp hoàn toàn có thể xử lý triệt để bằng cơ chế ủy quyền nhận lương hợp pháp theo Bộ luật Lao động. Nhằm giảm thiểu rủi ro hậu kiểm và bảo đảm phát triển tài chính bền vững, doanh nghiệp cần thực thi đồng bộ hệ giải pháp: chuẩn hóa hệ thống chứng từ, thiết lập cơ chế kiểm soát chéo giữa bộ phận Kế toán - Nhân sự và chủ động rà soát, kiểm toán nội bộ định kỳ.
Tài liệu tham khảo:
1. Chính phủ (2024). Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 quy định về thanh toán không dùng tiền mặt.
2. Chính phủ (2025a). Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng.
3. Chính phủ (2025). Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
4. Quốc hội (2019b). Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019.
5. Quốc hội (2024). Luật Bảo hiểm xã hội (Luật số 41/2024/QH15).
6. Quốc hội (2025). Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 ngày 25/11/2025.
7. Thuế tỉnh Khánh Hòa (2026). Công văn số 1267/KHH-QLDN2 về việc áp dụng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. https://thuvienphapluat.vn/cong-van/Thue-Phi-Le-Phi/Cong-van-1267-KHH-QLDN2-2026-ap-dung-chung-tu-thanh-toan-khong-dung-tien-mat-Khanh-Hoa-699959.aspx
| Ngày nhận: 6/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 3/10/2026; Ngày duyệt đăng: 9/10/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam
Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay
Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam