Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Nghiên cứu - Trao đổi 16:18 | 09/10/2026
Công nghệ số có thể hỗ trợ tăng trưởng xanh bằng cách tối ưu hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải thiện khả năng giám sát môi trường. Tuy nhiên, tác động môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời của công nghệ và hạ tầng số, từ khai thác nguyên liệu đến xử lý chất thải điện tử.

TS. Dương Hải Hà

Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

Email: [email protected]

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích khoảng trống giữa các chỉ tiêu đo lường kinh tế số và yêu cầu tăng trưởng xanh, cũng như mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam. Bằng phương pháp phân tích nội dung và đối chiếu chính sách, nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu hiện hành chủ yếu phản ánh quy mô, mức độ phổ cập và ứng dụng số, nhưng chưa đo lường trực tiếp nhu cầu năng lượng và tác động đến môi trường. Nghiên cứu đề xuất bổ sung các chỉ tiêu về hiệu quả năng lượng, năng lượng sạch, cường độ carbon, hiệu quả tài nguyên, chất thải điện tử và trách nhiệm công bố môi trường. Các đề xuất không thay thế hệ thống chỉ tiêu hiện hành, mà mở rộng khả năng đánh giá chất lượng môi trường của phát triển kinh tế số. Việc áp dụng cần được thí điểm theo từng nhóm chủ thể và phù hợp với khả năng thu thập dữ liệu tại Việt Nam.

Từ khóa: Kinh tế số, tăng trưởng xanh, hiệu quả năng lượng, phát thải carbon, bộ chỉ tiêu

Abstract

This study examines the gaps between existing digital economy indicators and the requirements of green growth and Viet Nam’s net-zero emissions target. Using content analysis and policy comparison, the study finds that current indicators primarily reflect the scale, diffusion, and adoption of digital technologies, but do not directly measure energy demand or environmental impacts. It proposes additional indicators covering energy efficiency, clean energy, carbon intensity, resource efficiency, electronic waste, and environmental disclosure responsibilities. These proposals are intended not to replace the existing indicator system, but to enhance the assessment of the environmental quality of digital economy development. Implementation should be piloted across different stakeholder groups and aligned with Viet Nam’s data collection capacity.

Keywords: Digital economy, green growth, energy efficiency, carbon emissions, indicator system

GIỚI THIỆU

Phát triển kinh tế số và tăng trưởng xanh là 2 định hướng quan trọng. Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 xác lập mục tiêu phát triển kinh tế số và xã hội số; Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 đặt ra yêu cầu giảm cường độ phát thải và xanh hóa các ngành kinh tế. Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 (Thủ tướng Chính phủ, 2022a, 2021, 2022b). Vì vậy, quá trình số hóa cần được đánh giá cả về tốc độ phát triển, chất lượng môi trường và mức độ đóng góp vào lộ trình Net Zero.

Công nghệ số có thể hỗ trợ tăng trưởng xanh bằng cách tối ưu hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải thiện khả năng giám sát môi trường. Tuy nhiên, số hóa cũng cần thiết bị, mạng viễn thông, trung tâm dữ liệu và điện năng. UNCTAD (2024) chỉ ra rằng, tác động môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời của công nghệ và hạ tầng số, từ khai thác nguyên liệu đến xử lý chất thải điện tử. Calvino và cộng sự (2025) cho rằng, chuyển đổi số đồng thời ảnh hưởng tới hiệu quả năng lượng, nhu cầu năng lượng và cường độ carbon; do đó, chuyển đổi số không tự động dẫn đến chuyển đổi xanh.

Tại Việt Nam, Quyết định số 1354/QĐ-BTTTT tạo cơ sở để theo dõi kinh tế số ở cấp quốc gia, ngành, lĩnh vực và địa phương. Thông tư số 10/2023/TT-BKHĐT quy định các chỉ tiêu thống kê về tăng trưởng xanh. Thông tư số 02/2025/TT-BKHĐT mở rộng nền tảng giám sát phát triển bền vững. Tuy nhiên, các hệ thống này chưa nêu rõ cách nhận diện năng lượng, phát thải, tài nguyên và chất thải gắn với hoạt động số (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2022; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2023, 2025). Do đó, nghiên cứu phân loại phạm vi phản ánh của các chỉ tiêu hiện hành, xác định những khía cạnh môi trường còn thiếu và đề xuất khung chỉ tiêu bổ sung có thể thí điểm tại Việt Nam.

PHƯƠNG PHÁP VÀ CƠ SỞ XÂY DỰNG KHUNG CHỈ TIÊU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nội dung văn bản và đối chiếu chính sách. Nguồn tài liệu trong nước gồm các bộ chỉ tiêu về kinh tế số, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; cùng các chiến lược quốc gia về kinh tế số, tăng trưởng xanh và biến đổi khí hậu. Các yêu cầu về môi trường được đối chiếu với cách tiếp cận vòng đời công nghệ và hạ tầng số của UNCTAD (2024) và khung phân tích tác động của chuyển đổi số đối với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của OECD (2025). Phép đối chiếu tập trung vào phạm vi đo lường, đơn vị tính, khả năng đánh giá tác động của hoạt động số và tính khả thi của nguồn dữ liệu tại Việt Nam.

Quy trình phân tích gồm 3 bước: (1) Các chỉ tiêu kinh tế số được phân loại theo 4 chức năng gồm quy mô, mức độ phổ cập, mức độ ứng dụng và năng lực cung ứng; (2) Từng nhóm được đối chiếu với 4 áp lực môi trường gồm năng lượng, carbon, tài nguyên và chất thải; (3) Chỉ tiêu bổ sung phải có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động số, có ý nghĩa đối với tăng trưởng xanh và có thể xác định được chủ thể cung cấp dữ liệu. Quy trình này hạn chế việc đưa ra những biến môi trường quá chung hoặc không thể theo dõi riêng cho khu vực kinh tế số.

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ KHUNG CHỈ TIÊU ĐỀ XUẤT

Khoảng trống giữa đo lường phát triển số và kết quả môi trường

Bộ chỉ tiêu hiện hành cho biết kinh tế số phát triển đến đâu nhưng chưa phản ánh trực tiếp năng lượng tiêu thụ, phát thải carbon và chất lượng quản trị môi trường. Đây không phải là sai sót, bởi chức năng ban đầu của hệ thống là đo lường quy mô và mức độ phát triển của kinh tế số. Khoảng trống xuất hiện khi sự gia tăng quy mô hoặc ứng dụng số được đồng nhất với tiến bộ trong tăng trưởng xanh. Bảng 1 trình bày kết quả đối chiếu phạm vi đo lường kinh tế số với yêu cầu tăng trưởng xanh nhằm xác định khoảng trống.

Bảng 1: Đối chiếu phạm vi đo lường kinh tế số với yêu cầu tăng trưởng xanh

Nhóm chỉ tiêu đo lường

Nội dung phản ánh

Khoảng trống khi đánh giá tăng trưởng xanh

Quy mô

Giá trị tăng thêm và tỷ trọng kinh tế số trong GDP

Chưa cho biết năng lượng, carbon và tài nguyên sử dụng để tạo ra giá trị số

Giao dịch và ứng dụng

Thương mại điện tử, hợp đồng điện tử, nền tảng số và mức độ số hóa doanh nghiệp

Chưa phản ánh mức tiêu thụ vật liệu và tác động đến phát thải ròng

Lao động và năng lực

Lao động kinh tế số và nhân lực công nghệ số

Chưa phản ánh năng lực quản lý năng lượng, carbon và vòng đời của thiết bị số

Hạ tầng và tiếp cận

Kết nối, người sử dụng và khả năng tiếp cận dịch vụ số

Chưa đo hiệu suất điện, nước, thiết bị và chất thải của hạ tầng

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Thủ tướng Chính phủ (2021), Bộ Thông tin và Truyền thông (2022), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023)

Kết quả đối chiếu (Bảng 1) cho thấy, có 4 khoảng trống. Thứ nhất, thiếu chỉ tiêu về cường độ; cần theo dõi đồng thời tổng năng lượng tiêu thụ và năng lượng trên một đơn vị kết quả kinh tế số. Thứ hai, thiếu thông tin về cơ cấu nguồn điện, trong khi cùng một lượng điện có thể tạo ra mức phát thải khác nhau tùy theo tỷ trọng nguồn phát thải thấp. Thứ ba, đánh giá ở giai đoạn vận hành sẽ bỏ qua nguyên liệu, sản xuất thiết bị và chất thải điện tử trong vòng đời số. Thứ tư, nếu không xác định được doanh nghiệp hoặc cơ quan cung cấp dữ liệu, thì chỉ tiêu khó được duy trì định kỳ. Việc kết hợp chỉ tiêu tuyệt đối và cường độ còn giúp nhận diện hiệu ứng quy mô, cụ thể là, hiệu quả kỹ thuật có thể được cải thiện nhưng tổng áp lực môi trường vẫn tăng khi hoạt động số mở rộng nhanh.

Khung chỉ tiêu đề xuất bổ sung

Khung chỉ tiêu đề xuất không thay thế các chỉ tiêu kinh tế số hiện hành, mà phân biệt chỉ tiêu áp lực tuyệt đối với chỉ tiêu hiệu quả. Nhóm thứ nhất phản ánh tổng nhu cầu tài nguyên và tổng phát thải. Nhóm thứ hai phản ánh hiệu quả trên một đơn vị dịch vụ, lưu lượng hoặc giá trị tăng thêm. Bảng 2 trình bày các chi tiết đề xuất.

Bảng 2: Đề xuất khung chỉ tiêu kinh tế số gắn với tăng trưởng xanh

Nhóm

Chỉ tiêu đề xuất

Đơn vị/định hướng đo

Nguồn dữ liệu tiềm năng

Năng lượng

Điện năng của hạ tầng số, cường độ điện năng

kWh; kWh trên đơn vị lưu lượng hoặc giá trị tăng thêm

Doanh nghiệp viễn thông, trung tâm dữ liệu, cơ quan năng lượng

Năng lượng sạch

Tỷ lệ điện phát thải thấp sử dụng cho hạ tầng số

% tổng điện tiêu thụ

Doanh nghiệp và đơn vị cung cấp điện

Carbon

Tổng phát thải và cường độ carbon của hoạt động số hóa

tCO2e; tCO2e trên đơn vị kết quả

Kiểm kê khí nhà kính và báo cáo của doanh nghiệp

Hiệu quả hạ tầng

Hiệu suất sử dụng điện của trung tâm dữ liệu

PUE và chỉ tiêu kỹ thuật liên quan

Đơn vị/doanh nghiệp vận hành trung tâm dữ liệu

Tài nguyên và nước

Nước sử dụng, tỷ lệ thiết bị kéo dài vòng đời

m3, % thiết bị được sửa chữa hoặc tái sử dụng

Doanh nghiệp hạ tầng và nhà sản xuất

Chất thải điện tử

Thiết bị thu hồi và xử lý

% số lượng hoặc khối lượng thiết bị đưa ra thị trường được thu hồi, tái sử dụng hoặc thải bỏ

Nhà sản xuất, đơn vị thu hồi và cơ quan môi trường

Quản trị

Công bố năng lượng, carbon và mục tiêu giảm phát thải

% doanh nghiệp thuộc diện theo dõi

Báo cáo bền vững và cơ quan quản lý

Nguồn: Đề xuất của tác giả trên cơ sở đối chiếu UNCTAD (2024), OECD (2025) và điều kiện dữ liệu tại Việt Nam

Trong giai đoạn đầu, không nên gộp các chỉ tiêu thành một điểm số duy nhất, vì trọng số thiếu căn cứ có thể che khuất một kết quả môi trường xấu. Thay vào đó, cần công bố đồng thời giá trị tuyệt đối, cường độ và xu hướng. Chỉ nên xây dựng chỉ số tổng hợp khi dữ liệu đủ dài, định nghĩa thống nhất và chất lượng báo cáo đã được kiểm chứng.

HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI

Hàm ý chính sách

Một là, cần duy trì bộ chỉ tiêu hiện hành và bổ sung một mô-đun chỉ tiêu môi trường riêng. Cách tổ chức này giữ nguyên chức năng đo lường kinh tế số, đồng thời cho phép đánh giá liệu sự phát triển của hoạt động số có đi cùng với việc cải thiện hiệu quả năng lượng và giảm phát thải carbon hay không. Mô-đun nên công bố riêng giá trị tuyệt đối, cường độ và xu hướng để tránh việc một kết quả số hóa tích cực che khuất áp lực môi trường gia tăng.

Hai là, nên thí điểm với các doanh nghiệp viễn thông, trung tâm dữ liệu và các nhà cung cấp hạ tầng điện toán; đây là những chủ thể có dữ liệu tập trung và tác động trực tiếp đến năng lượng. Nhóm chỉ tiêu ban đầu gồm điện năng, hiệu suất sử dụng điện năng (PUE), tỷ lệ điện từ nguồn phát thải thấp và lượng thiết bị được thu hồi. Kết quả thí điểm giúp chuẩn hóa ranh giới đo lường, phương pháp kiểm chứng và chi phí báo cáo trước khi mở rộng sang các doanh nghiệp sử dụng nền tảng số.

Ba là, các mục tiêu số hóa cần được đánh giá cùng với mục tiêu giảm cường độ tiêu thụ năng lượng, carbon và lộ trình phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Lộ trình triển khai nên được chia thành 3 giai đoạn

Giai đoạn chuẩn bị: Cơ quan quản lý thống nhất ranh giới hoạt động số, phương pháp phân bổ điện năng cho các dịch vụ dùng chung và hệ số phát thải, nhằm tránh tính trùng khi trung tâm dữ liệu phục vụ đồng thời nhiều ngành hoặc khi doanh nghiệp viễn thông thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh khác.

Giai đoạn thí điểm: Lựa chọn doanh nghiệp có hệ thống dữ liệu tương đối hoàn chỉnh, áp dụng biểu mẫu báo cáo thống nhất trong ít nhất 2 kỳ và kiểm tra chéo với hóa đơn điện, hồ sơ kiểm kê khí nhà kính và báo cáo thu hồi thiết bị.

Giai đoạn mở rộng: Tích hợp Mô-đun môi trường vào hệ thống thống kê kinh tế số và liên kết báo cáo năng lượng, khí nhà kính và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Cần duy trì dữ liệu gốc bên cạnh chỉ tiêu cường độ để nhận diện trường hợp hiệu quả kỹ thuật tăng nhưng tổng nhu cầu năng lượng hoặc phát thải tăng theo quy mô.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cho thấy, hệ thống chỉ tiêu hiện hành là nền tảng cần thiết để đánh giá sự phát triển của kinh tế số Việt Nam, nhưng chưa đo lường đầy đủ tác động môi trường của quá trình số hóa. Nghiên cứu đề xuất bổ sung các chỉ tiêu về năng lượng, carbon, hiệu quả hạ tầng số, tài nguyên, chất thải điện tử và trách nhiệm công bố, qua đó tách biệt quy mô số hóa với chất lượng môi trường trong cùng một hệ thống giám sát.

Khung đề xuất mới dừng ở cấp độ chính sách và cần được kiểm chứng về tính sẵn có, độ tin cậy và chi phí dữ liệu. Việc triển khai nên bắt đầu từ hạ tầng số trọng yếu rồi điều chỉnh và mở rộng. Kết nối dữ liệu kinh tế số với năng lượng, phát thải và chất thải sẽ hỗ trợ đánh giá tăng trưởng xanh, đồng thời làm rõ đóng góp, chi phí môi trường và trách nhiệm của phát triển kinh tế số trong lộ trình cam kết Net Zero của Việt Nam đến năm 2050.

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2023). Thông tư số 10/2023/TT-BKHĐT ngày 1/11/2023 quy định về Bộ chỉ tiêu thống kê tăng trưởng xanh.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BKHĐT ngày 3/1/2025 quy định Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững của Việt Nam.

3. Bộ Thông tin và Truyền thông (2022). Quyết định số 1354/QĐ-BTTTT ngày 7/7/2022 ban hành Bộ chỉ tiêu đo lường kinh tế số.

4. Calvino, F., Dechezleprêtre, A. và Haerle, D. (2025). How Can the Digital Transformation Affect the Net-Zero Transition? A Conceptual Framework for the Twin Transition. OECD Science, Technology and Industry Working Papers, No. 2025/17, OECD Publishing.

5. UNCTAD (2024). Digital Economy Report 2024: Shaping an Environmentally Sustainable and Inclusive Digital Future. United Nations, Geneva.

6. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.

7. Thủ tướng Chính phủ (2022a). Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

8. Thủ tướng Chính phủ (2022b). Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050.

Ngày nhận bài: 1/9/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 7/10/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng mạng xã hội đã làm thay đổi đáng kể cách doanh nghiệp tiếp cận, tương tác và xây dựng mối quan hệ với khách hàng
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Dự báo giá là một trong những thách thức quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ, bởi những giao dịch điện tử ngày càng có quy mô lớn.
Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Trong hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp, tiền lương không chỉ là công cụ duy trì nguồn nhân lực mà còn là một khoản chi phí trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp lữ hành, nơi chất lượng dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào năng lực xử lý nghiệp vụ và tình huống của người lao động.
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, người dân Trà Quế (Đà Nẵng) đã chuyển từ nghề chài lưới sang làm nông dân và khai sinh ra nghề trồng rau nổi tiếng. Bề dày lịch sử và sự độc đáo của nghề trồng rau đã giúp làng rau Trà Quế nổi tiếng không chỉ trong Thành phố, khu vực mà trên cả nước.
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Trong bối cảnh các sàn thương mại điện tử ngày càng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để cá nhân hóa đề xuất sản phẩm, người tiêu dùng dễ bị tác động bởi các gợi ý phù hợp với sở thích, nhu cầu và lịch sử mua sắm.
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Biến đổi khí hậu toàn cầu và nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng truyền thống đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Để hướng tới mục tiêu trung hòa carbon, giảm cường độ năng lượng, tức nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên một đơn vị đầu ra kinh tế đã trở thành chiến lược cốt lõi của nhiều quốc gia.
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Phát triển du lịch hiện nay phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng liên kết giữa các ngành, địa phương và chủ thể kinh tế. Đối với du lịch sinh thái, yêu cầu này càng rõ do tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa vừa là nguồn lực khai thác, vừa cần được bảo vệ để bảo đảm phát triển bền vững.
Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Ngành ngân hàng Việt Nam có mức độ số hóa ngày càng cao, kéo theo yêu cầu lớn về bảo đảm an toàn dữ liệu và hạ tầng mật mã
Triển khai thực hiện tài chính toàn diện tại các tổ chức tín dụng: Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Malaysia

Triển khai thực hiện tài chính toàn diện tại các tổ chức tín dụng: Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Malaysia

Trong bối cảnh chuyển đổi số, tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững, tài chính toàn diện ngày càng trở thành định hướng quan trọng của nhiều quốc gia