Triển khai thực hiện tài chính toàn diện tại các tổ chức tín dụng: Kinh nghiệm từ Trung Quốc và Malaysia

Nghiên cứu - Trao đổi 14:27 | 09/10/2026
Trong bối cảnh chuyển đổi số, tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững, tài chính toàn diện ngày càng trở thành định hướng quan trọng của nhiều quốc gia

ThS. Phạm Văn Thắng, ThS. Trương Thị Kim Ngân

Ngân hàng Chính sách xã hội

TS. Bùi Thị Thanh Tình

Học viện Ngân hàng; Email: [email protected]

Tóm tắt

Trong bối cảnh tài chính toàn diện ngày càng trở thành một định hướng quan trọng của phát triển bền vững, bài viết tập trung phân tích kinh nghiệm triển khai tại các tổ chức tín dụng của Trung Quốc và Malaysia. Bài viết làm rõ các nội dung nổi bật như mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, phát triển tài chính số, nâng cao quản trị rủi ro và giáo dục tài chính. Qua đó, Việt Nam cần hoàn thiện chính sách, thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng dịch vụ tới các nhóm yếu thế và nâng cao hiệu quả tài chính toàn diện.

Từ khóa: Tài chính toàn diện, tổ chức tín dụng, tài chính số, Trung Quốc, Malaysia.

Abstract

In the context of financial inclusion becoming an increasingly important orientation for sustainable development, this article focuses on analyzing implementation experiences at credit institutions in China and Malaysia. The article highlights key aspects such as expanding access to financial services, supporting small and medium-sized enterprises (SMEs), developing digital finance, strengthening risk management, and promoting financial education. Based on these experiences, Vietnam should further improve its policy framework, accelerate digital transformation, expand services to vulnerable groups, and enhance the effectiveness of financial inclusion.

Keywords: Financial inclusion, Credit institutions, Digital finance, China, Malaysia.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh chuyển đổi số, tăng trưởng bao trùm và phát triển bền vững, tài chính toàn diện ngày càng trở thành định hướng quan trọng của nhiều quốc gia. Việc mở rộng khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức không chỉ giúp người dân, doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm thu nhập thấp và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), tiếp cận nguồn lực tài chính thuận lợi hơn mà còn góp phần giảm bất bình đẳng và nâng cao phúc lợi xã hội. Trong quá trình này, các tổ chức tín dụng giữ vai trò trung tâm thông qua cung ứng tín dụng, tiết kiệm, thanh toán và các dịch vụ tài chính số. Trung Quốc và Malaysia là hai quốc gia châu Á có nhiều kinh nghiệm đáng chú ý trong mở rộng độ bao phủ tài chính, ứng dụng công nghệ số, hỗ trợ DNNVV và tăng cường quản trị rủi ro.

TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN

Tài chính toàn diện (financial inclusion) phản ánh khả năng các cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi từ các dịch vụ tài chính chính thức một cách thuận tiện, an toàn và với chi phí hợp lý. Theo Demirgüç-Kunt và Hu (2015), tài chính toàn diện không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận mà còn nhấn mạnh chất lượng, tính phù hợp và tính bền vững của sản phẩm tài chính, đặc biệt đối với nhóm thu nhập thấp và dễ bị tổn thương. Arun và Kamath (2015) cho rằng tài chính toàn diện còn bao gồm việc hoàn thiện hệ thống tài chính, cải thiện thể chế và giảm các rào cản về chi phí, thông tin và hiểu biết tài chính. Sarma và Pais (2011) nhấn mạnh vai trò của tài chính toàn diện trong thúc đẩy tiết kiệm, đầu tư, phân bổ nguồn lực hiệu quả, giảm bất bình đẳng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi số, Cheng và cộng sự (2024) cho rằng tài chính toàn diện số giúp mở rộng tiếp cận dịch vụ, giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính thông qua FinTech và các nền tảng số. Từ các quan điểm trên, có thể hiểu tài chính toàn diện là quá trình bảo đảm mọi cá nhân và tổ chức có khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dịch vụ tài chính chính thức, phù hợp, an toàn và với chi phí hợp lý, thông qua cả kênh truyền thống và kênh số, từ đó góp phần nâng cao phúc lợi xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững.

Nội dung tài chính toàn diện tại các tổ chức tín dụng (TCTD) tập trung vào một số phương diện chủ yếu. Thứ nhất, mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức thông qua mạng lưới chi nhánh, điểm giao dịch và các kênh số. Thứ hai, nâng cao mức độ sử dụng các dịch vụ như thanh toán, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm và chuyển tiền. Thứ ba, bảo đảm chất lượng và tính phù hợp của sản phẩm, dịch vụ đối với nhu cầu và khả năng tài chính của từng nhóm khách hàng. Thứ tư, duy trì chi phí hợp lý, tăng cường an toàn giao dịch, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Thứ năm, đẩy mạnh giáo dục và nâng cao hiểu biết tài chính nhằm giúp khách hàng sử dụng dịch vụ hiệu quả, hạn chế rủi ro. Thứ sáu, phát triển tài chính toàn diện số thông qua ngân hàng số, e-KYC, Mobile Banking, Internet Banking, FinTech và các công nghệ hiện đại, qua đó mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ tài chính.

KINH NGHIỆM TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG CỦA TRUNG QUỐC VÀ MALAYSIA

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc được xem là một trong những quốc gia đang phát triển đạt nhiều kết quả nổi bật trong triển khai tài chính toàn diện với vai trò quan trọng của hệ thống các TCTD. Với quy mô dân số lớn và tỷ lệ dân cư nông thôn còn tương đối cao, Chính phủ Trung Quốc xác định mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính là một trong những công cụ quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, hỗ trợ các nhóm thu nhập thấp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bao trùm. Nhờ sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng địa phương và các tổ chức tài chính cơ sở, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản tại tổ chức tài chính chính thức đã vượt 85%. Các dịch vụ tài chính như thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm ngày càng được phổ biến rộng rãi, qua đó từng bước nâng cao cả phạm vi và chiều sâu của tài chính toàn diện.

Thứ nhất, mở rộng mức độ bao phủ tài chính. Các NHTM nhà nước quy mô lớn như Industrial and Commercial Bank of China (ICBC), Agricultural Bank of China (ABC), Bank of China (BOC) và China Construction Bank (CCB) giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện. Nhóm ngân hàng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của hệ thống ngân hàng và sở hữu mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch rộng khắp. Trong đó, ABC đặc biệt chú trọng cung ứng tài chính cho khu vực “tam nông”, gồm nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi và mạng lưới rộng, các ngân hàng lớn giúp người dân, hộ sản xuất và doanh nghiệp tại những khu vực còn hạn chế về dịch vụ tài chính tiếp cận nguồn vốn chính thức với chi phí hợp lý hơn.

Bên cạnh các ngân hàng nhà nước, Trung Quốc còn phát triển mạnh hệ thống NHTM cổ phần, ngân hàng địa phương, ngân hàng nông thôn và hợp tác xã tín dụng. Những tổ chức này tập trung phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hộ kinh doanh và người dân ở khu vực nông thôn. Lợi thế của nhóm ngân hàng địa phương là khả năng hiểu rõ đặc điểm khách hàng, linh hoạt trong thiết kế sản phẩm và cung cấp các khoản vay có quy mô phù hợp. Việc phát triển mạng lưới tài chính đa dạng giúp giảm chi phí giao dịch, hạn chế sự phụ thuộc vào tín dụng phi chính thức và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân.

Thứ hai, chú trọng mở rộng dịch vụ tài chính cho các nhóm yếu thế. Hộ gia đình thu nhập thấp, nông dân, hộ sản xuất nhỏ và DNNVV được xác định là những đối tượng ưu tiên trong chiến lược tài chính toàn diện của Trung Quốc. Các TCTD cung cấp ngày càng đa dạng các sản phẩm như tài khoản thanh toán, tiết kiệm, tín dụng vi mô, bảo hiểm cơ bản và các khoản vay phục vụ sản xuất, kinh doanh. Việc mở rộng mạng lưới và đơn giản hóa thủ tục đã giúp nhiều người dân ở khu vực nông thôn có điều kiện tiếp cận dịch vụ ngân hàng chính thức.

Khả năng tiếp cận tài chính được cải thiện không chỉ giúp hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ có thêm nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh mà còn góp phần nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động về thu nhập và thị trường. Đồng thời, việc sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức giúp giảm tình trạng vay vốn từ các nguồn phi chính thức có chi phí cao, qua đó cải thiện sinh kế và thúc đẩy phát triển kinh tế tại khu vực nông thôn.

Thứ ba, phát triển mạng lưới tài chính cơ sở. Trung Quốc đã hình thành mạng lưới ngân hàng nông thôn, ngân hàng làng xã, hợp tác xã tín dụng và các tổ chức tài chính địa phương với số lượng lớn điểm giao dịch trên phạm vi cả nước. Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong đưa dịch vụ ngân hàng đến các vùng sâu, vùng xa và những khu vực mà mạng lưới ngân hàng truyền thống chưa hiện diện đầy đủ.

Thông qua mạng lưới tài chính cơ sở, người dân có thể tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ tiết kiệm, thanh toán, tín dụng và bảo hiểm ngay tại địa phương. Điều này giúp giảm thời gian, chi phí đi lại, đồng thời đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp, kinh doanh hộ gia đình và đời sống. Việc kết hợp mạng lưới vật lý với các kênh ngân hàng số còn giúp TCTD mở rộng phạm vi hoạt động mà không phải gia tăng quá lớn chi phí mở mới chi nhánh. Đây là một trong những nền tảng quan trọng giúp Trung Quốc tăng độ bao phủ của tài chính toàn diện.

Thứ tư, gia tăng tín dụng cho DNNVV và khu vực nông nghiệp, nông thôn. Dưới sự định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, các NHTM được khuyến khích dành nguồn lực tín dụng cho DNNVV, hộ kinh doanh và khu vực nông nghiệp. Nhiều chương trình tín dụng chuyên biệt được triển khai với hạn mức phù hợp, quy trình đơn giản và thời gian phê duyệt nhanh hơn so với phương thức truyền thống.

Tại nhiều ngân hàng, các khoản vay dành cho doanh nghiệp nhỏ được thiết kế theo hướng giảm yêu cầu về tài sản bảo đảm, tăng cường đánh giá dựa trên dòng tiền, lịch sử giao dịch và hoạt động kinh doanh thực tế. Một số chương trình còn áp dụng mức lãi suất ưu đãi so với khoản vay thương mại thông thường. Qua đó, doanh nghiệp nhỏ có thêm nguồn vốn để mở rộng hoạt động, đầu tư công nghệ, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc tăng tín dụng cho khu vực này đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.

Thứ năm, ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ. Một đặc điểm nổi bật trong quá trình phát triển tài chính toàn diện tại Trung Quốc là việc đẩy mạnh ứng dụng Big Data, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây và các mô hình chấm điểm tín dụng tự động. Các công nghệ này được sử dụng trong tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, phê duyệt khoản vay và quản lý rủi ro, đặc biệt đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ.

Nhờ số hóa quy trình, thời gian xét duyệt khoản vay được rút ngắn đáng kể, đồng thời giảm chi phí xử lý hồ sơ và các thủ tục hành chính. Việc khai thác dữ liệu giao dịch và hành vi tài chính còn giúp ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng chính xác hơn, qua đó nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng kiểm soát rủi ro. Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng có thể phục vụ số lượng lớn khách hàng với các khoản vay có giá trị nhỏ mà vẫn bảo đảm hiệu quả hoạt động.

Thứ sáu, đẩy mạnh tài chính số và thanh toán điện tử. Các NHTM lớn của Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào nền tảng ngân hàng số, ứng dụng di động, hệ thống thanh toán điện tử và nhận diện khách hàng điện tử (e-KYC). Nhiều nghiệp vụ trước đây phải thực hiện trực tiếp tại quầy đã được chuyển sang môi trường số, giúp khách hàng có thể mở tài khoản, thanh toán, chuyển tiền và tiếp cận một số sản phẩm tín dụng từ xa. Đến năm 2023, phần lớn giao dịch thanh toán bán lẻ tại Trung Quốc được thực hiện qua các kênh điện tử và tỷ lệ khách hàng sử dụng thường xuyên ứng dụng ngân hàng số ở mức cao. Việc phát triển tài chính số đặc biệt có ý nghĩa đối với khu vực nông thôn, bởi ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ mà không phụ thuộc hoàn toàn vào mạng lưới chi nhánh vật lý. Qua đó, chi phí giao dịch giảm, khả năng tiếp cận dịch vụ tăng và khoảng cách về dịch vụ tài chính giữa các khu vực từng bước được thu hẹp.

Thứ bảy, tăng cường quản trị rủi ro trong quá trình mở rộng tài chính toàn diện. Việc gia tăng tín dụng cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và hộ sản xuất có thể làm tăng số lượng các khoản vay nhỏ, từ đó đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hệ thống quản trị rủi ro. Vì vậy, các ngân hàng Trung Quốc đã đẩy mạnh sử dụng mô hình chấm điểm tín dụng dựa trên dữ liệu giao dịch, lịch sử thanh toán và hành vi tài chính của khách hàng.

Big Data và AI giúp tự động hóa quá trình đánh giá rủi ro, đồng thời hỗ trợ ngân hàng phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường trong khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, việc phân tán tín dụng trên số lượng lớn khách hàng với quy mô khoản vay nhỏ góp phần hạn chế rủi ro tập trung. Nhiều ngân hàng còn phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức bảo lãnh tín dụng để chia sẻ rủi ro đối với các khoản vay dành cho DNNVV và hộ gia đình. Nhờ vậy, mục tiêu mở rộng tài chính toàn diện được thực hiện song song với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống.

Thứ tám, phát huy vai trò điều tiết và hỗ trợ của Nhà nước. Chính phủ và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc giữ vai trò quan trọng trong tạo lập khuôn khổ và động lực để các TCTD tham gia phát triển tài chính toàn diện. Một trong những công cụ được sử dụng là chương trình tái cấp vốn ưu đãi nhằm hỗ trợ nguồn vốn cho các ngân hàng cho vay DNNVV, khu vực nông nghiệp và nông thôn. Các ngân hàng tích cực tham gia các chương trình tài chính toàn diện có thể được hưởng điều kiện vốn thuận lợi hơn.

Bên cạnh chính sách tín dụng, Nhà nước còn thúc đẩy phát triển hạ tầng thanh toán và tài chính số, tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng dịch vụ với chi phí thấp. Các mục tiêu về tài chính toàn diện cũng được lồng ghép vào hệ thống đánh giá hoạt động của TCTD, từ đó tạo động lực để ngân hàng vừa theo đuổi hiệu quả kinh doanh vừa thực hiện trách nhiệm hỗ trợ các nhóm khách hàng còn hạn chế khả năng tiếp cận tài chính.

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy phát triển tài chính toàn diện cần dựa trên sự kết hợp đồng bộ giữa mạng lưới ngân hàng rộng khắp, hệ thống tài chính cơ sở, chính sách hỗ trợ của Nhà nước và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số. Việc ưu tiên DNNVV, hộ gia đình thu nhập thấp và khu vực nông thôn giúp mở rộng phạm vi thụ hưởng dịch vụ tài chính, trong khi ứng dụng công nghệ và cơ chế quản trị rủi ro hiện đại giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững. Đây là những kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển trong quá trình thúc đẩy tài chính toàn diện gắn với ổn định hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế bao trùm.

Kinh nghiệm của Malaysia

Malaysia được xem là một trong những quốc gia đang phát triển triển khai tài chính toàn diện tương đối bài bản và có định hướng dài hạn. Dưới sự điều phối của Ngân hàng Trung ương Malaysia (Bank Negara Malaysia - BNM), các mục tiêu tài chính toàn diện được lồng ghép trong chiến lược phát triển tài chính quốc gia, gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống, giảm bất bình đẳng và thúc đẩy tăng trưởng bao trùm. Các TCTD được khuyến khích mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ, đồng thời tuân thủ các quy định về quản trị rủi ro và bảo vệ người tiêu dùng. Qua đó, Malaysia từng bước hình thành mô hình tài chính toàn diện có tính hệ thống và bền vững.

Thứ nhất, mức độ bao phủ dịch vụ tài chính tại Malaysia tương đối cao. Khoảng 88-90% người trưởng thành sở hữu tài khoản tại tổ chức tài chính chính thức, trong khi số lượng tài khoản thanh toán bình quân vượt 1,2 tài khoản/người trưởng thành. Các NHTM lớn như Maybank, CIMB Bank, Public Bank và RHB Bank đóng vai trò quan trọng trong phổ cập tài khoản ngân hàng và cung ứng các dịch vụ tài chính cơ bản. Bên cạnh việc duy trì mạng lưới chi nhánh rộng khắp, các ngân hàng còn phát triển tài khoản chi phí thấp, đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản để hỗ trợ nhóm khách hàng có thu nhập thấp. Nhờ đó, tỷ lệ người trưởng thành chưa có tài khoản ngân hàng giảm xuống dưới 10%. Đồng thời, khoảng 95% các khoản trợ cấp xã hội được thực hiện thông qua tài khoản ngân hàng, cho thấy tài chính toàn diện đã gắn khá chặt với hệ thống an sinh xã hội.

Thứ hai, Malaysia chú trọng mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Dư nợ cho vay DNNVV chiếm khoảng 35-40% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng. Các NHTM đã xây dựng nhiều sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc điểm và quy mô của DNNVV, đồng thời đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian xét duyệt khoản vay. Chính phủ Malaysia còn triển khai các chương trình bảo lãnh tín dụng với tỷ lệ bảo lãnh khoảng 50-80% giá trị khoản vay, qua đó giảm rủi ro cho TCTD và hỗ trợ doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm tiếp cận vốn. Nhờ đó, tỷ lệ DNNVV có quan hệ tín dụng với ngân hàng vượt 70%, trong khi thời gian xét duyệt khoản vay được rút ngắn trung bình khoảng 30–40%. Việc mở rộng tín dụng giúp DNNVV tăng khả năng đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thứ ba, tài chính số trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tài chính toàn diện. Tỷ lệ giao dịch thanh toán bán lẻ không dùng tiền mặt đạt khoảng 80-85%, trong khi Mobile Banking và Internet Banking ngày càng trở thành các kênh giao dịch chủ đạo. Số người sử dụng dịch vụ ngân hàng số vượt 30 triệu người, phản ánh mức độ ứng dụng công nghệ tài chính tương đối cao. Các NHTM đẩy mạnh đầu tư hạ tầng công nghệ, số hóa quy trình giao dịch, thanh toán và phê duyệt tín dụng. Nhờ đó, chi phí giao dịch điện tử thấp hơn khoảng 40–60% so với giao dịch truyền thống, đồng thời thời gian xử lý nghiệp vụ được rút ngắn đáng kể. Hơn 85% khách hàng sử dụng ít nhất một dịch vụ ngân hàng số. Sự phát triển của tài chính số không chỉ cải thiện trải nghiệm khách hàng mà còn giúp các TCTD mở rộng phạm vi phục vụ với chi phí thấp hơn.

Thứ tư, Malaysia phát triển tài chính toàn diện thông qua hệ thống tài chính Hồi giáo. Khu vực ngân hàng Hồi giáo chiếm khoảng 30% tổng tài sản của toàn hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng như Bank Islam Malaysia và Bank Muamalat cung cấp nhiều sản phẩm tuân thủ nguyên tắc Shariah, đáp ứng nhu cầu của các nhóm khách hàng có đặc điểm văn hóa và tôn giáo riêng. Điều này giúp đa dạng hóa sản phẩm tài chính và mở rộng khả năng tiếp cận hệ thống tài chính chính thức. Số lượng khách hàng sử dụng sản phẩm tài chính Hồi giáo tăng bình quân khoảng 8–10% mỗi năm, trong khi các khoản vay bán lẻ Hồi giáo chiếm gần một phần ba tổng tín dụng cá nhân. Đây là một nét đặc trưng nổi bật trong mô hình tài chính toàn diện của Malaysia.

Thứ năm, quá trình mở rộng tài chính toàn diện được gắn với yêu cầu bảo đảm chất lượng và an toàn hệ thống. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Malaysia được duy trì dưới 2% tổng dư nợ, trong khi tỷ lệ an toàn vốn đạt trên 17%. Các khoản tín dụng được kiểm soát thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng và cơ chế chia sẻ thông tin giữa các TCTD. BNM thường xuyên giám sát hoạt động ngân hàng, đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ thanh khoản và tái cấp vốn nhằm tạo điều kiện mở rộng tín dụng nhưng vẫn bảo đảm an toàn. Việc kiểm soát tốt chất lượng tín dụng giúp Malaysia duy trì sự cân bằng giữa mục tiêu mở rộng tiếp cận tài chính và ổn định hệ thống ngân hàng.

Thứ sáu, tài chính toàn diện góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hội. Việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức giúp người dân tăng khả năng tiết kiệm, tiếp cận tín dụng và đầu tư, trong khi doanh nghiệp có thêm nguồn lực để phát triển sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, các chương trình tín dụng dành cho DNNVV góp phần hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng hoạt động, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Malaysia cũng đẩy mạnh số hóa các chương trình an sinh xã hội, với hơn 95% các khoản trợ cấp của Chính phủ được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng và các kênh thanh toán điện tử. Cách thức này giúp tăng tính minh bạch, rút ngắn thời gian chi trả, giảm chi phí hành chính và khuyến khích người dân tham gia sâu hơn vào hệ thống tài chính chính thức. Qua đó, tài chính toàn diện góp phần giảm bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận nguồn vốn và thúc đẩy tăng trưởng bao trùm.

Thứ bảy, Malaysia chú trọng giáo dục tài chính và nâng cao nhận thức của người dân. BNM phối hợp với các TCTD, cơ sở giáo dục và tổ chức xã hội triển khai nhiều chương trình đào tạo, truyền thông và tư vấn về tiết kiệm, vay vốn, quản lý chi tiêu, thanh toán điện tử và phòng ngừa rủi ro tài chính. Hơn 85% khách hàng được tiếp cận các chương trình hướng dẫn tài chính cơ bản. Việc cải thiện kiến thức tài chính giúp người dân chủ động hơn trong quản lý tài chính cá nhân, sử dụng tín dụng hợp lý và hạn chế nguy cơ vay nợ vượt khả năng chi trả. Đồng thời, giáo dục tài chính còn hỗ trợ người dân sử dụng an toàn các dịch vụ ngân hàng số, phòng tránh gian lận và nâng cao hiệu quả khai thác các sản phẩm tài chính hiện đại.

Thực tiễn Malaysia cho thấy tài chính toàn diện được triển khai dựa trên sự kết hợp giữa chính sách đồng bộ, mạng lưới ngân hàng phát triển, hỗ trợ tín dụng DNNVV, tài chính số, tài chính Hồi giáo, giáo dục tài chính và quản trị rủi ro. Cách tiếp cận này giúp Malaysia vừa mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, vừa duy trì ổn định hệ thống và gắn tài chính toàn diện với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

Tài chính toàn diện ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, hỗ trợ các nhóm yếu thế, thúc đẩy DNNVV phát triển và góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng bao trùm, bền vững. Kinh nghiệm của Trung Quốc và Malaysia cho thấy, để triển khai tài chính toàn diện hiệu quả cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng; đồng thời phải gắn mở rộng độ bao phủ với chuyển đổi số, quản trị rủi ro, bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao hiểu biết tài chính.

Việt Nam, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế chính sách về tài chính toàn diện; khuyến khích các TCTD mở rộng dịch vụ tới khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nhóm thu nhập thấp và DNNVV; đẩy mạnh phát triển ngân hàng số, e-KYC, thanh toán không dùng tiền mặt và ứng dụng dữ liệu trong đánh giá tín dụng. Bên cạnh đó, cần tăng cường các cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng quản trị tại các TCTD, bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền lợi khách hàng. Đồng thời, giáo dục tài chính cần được triển khai rộng hơn để giúp người dân sử dụng dịch vụ tài chính an toàn, hiệu quả. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao mức độ tài chính toàn diện, giảm khoảng cách tiếp cận dịch vụ tài chính và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Arun, T., & Kamath, R. (2015). Financial inclusion: Policies and practices. IIMB Management Review, 27(4), 267–287.

2. Cheng, Q., Zhao, X., Zhong, S., & Xing, Y. (2024). Digital financial inclusion, resident consumption, and urban carbon emissions in China: A transaction cost perspective. Economic Analysis and Policy, 81, 1336–1352.

3. Demirgüç-Kunt, A., & Hu, B. (2015). Financial inclusion. In The Oxford Handbook of Africa and Economics: Volume 2: Policies and Practices (p. 388). Oxford University Press.

4. Fungáčová, Z., & Weill, L. (2015). Understanding financial inclusion in China. China Economic Review, 34, 196–206.

5. G20. (2010). Principles for Innovative Financial Inclusion.

6. G20. (2016). High-Level Principles for Digital Financial Inclusion.

7. Hiew, L. C., Lam, M. T., & Ho, S. J. (2025). Unveiling the nexus: Unravelling the dynamics of financial inclusion, FinTech adoption and societal sustainability in Malaysia. Journal of Financial Reporting and Accounting, 23(2), 575–593.

8. Razak, A. A., & Asutay, M. (2022). Financial inclusion and economic well-being: Evidence from Islamic Pawnbroking (Ar-Rahn) in Malaysia. Research in International Business and Finance, 59, 101557.

9. Sarma, M., & Pais, J. (2011). Financial inclusion and development. Journal of International Development, 23(5), 613–628.

10. Umar, M., & Akhtar, M. (2024). Financial inclusion and bank risk-taking nexus: Evidence from China. China Finance Review International, 14(2), 352–362.

11. Wang, L., Wang, Y., Sun, Y., Han, K., & Chen, Y. (2022). Financial inclusion and green economic efficiency: Evidence from China. Journal of Environmental Planning and Management, 65(2), 240–271.

12. Zulkhibri, M. (2016). Financial inclusion, financial inclusion policy and Islamic finance. Macroeconomics and Finance in Emerging Market Economies, 9(3), 303–320.

Ngày nhận bài: 4/8/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 2/10/2026; Ngày duyệt đăng: 9/10/2026

Các tin khác

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Ảnh hưởng của marketing mạng xã hội đến ý định lựa chọn hãng hàng không của hành khách tại Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng mạng xã hội đã làm thay đổi đáng kể cách doanh nghiệp tiếp cận, tương tác và xây dựng mối quan hệ với khách hàng
Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Kết nối các chỉ tiêu đo lường kinh tế số với tăng trưởng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và đề xuất

Công nghệ số có thể hỗ trợ tăng trưởng xanh bằng cách tối ưu hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và cải thiện khả năng giám sát môi trường. Tuy nhiên, tác động môi trường phát sinh trong toàn bộ vòng đời của công nghệ và hạ tầng số, từ khai thác nguyên liệu đến xử lý chất thải điện tử.
Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Ứng dụng học máy trong dự báo giá sản phẩm: Nghiên cứu đối với ngành chăm sóc sắc đẹp và cá nhân trên Titok Shop, Việt Nam

Dự báo giá là một trong những thách thức quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ, bởi những giao dịch điện tử ngày càng có quy mô lớn.
Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Nhận diện rủi ro thuế từ phương thức chia nhỏ quỹ lương bằng tiền mặt tại các doanh nghiệp Việt Nam

Trong hệ thống quản trị tài chính doanh nghiệp, tiền lương không chỉ là công cụ duy trì nguồn nhân lực mà còn là một khoản chi phí trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Điểm nghẽn trong đào tạo nguồn nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành: Tiếp cận từ chuyển giao kết quả đào tạo

Đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp lữ hành, nơi chất lượng dịch vụ phụ thuộc trực tiếp vào năng lực xử lý nghiệp vụ và tình huống của người lao động.
Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Phát triển du lịch tại làng rau Trà Quế, TP. Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay

Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, người dân Trà Quế (Đà Nẵng) đã chuyển từ nghề chài lưới sang làm nông dân và khai sinh ra nghề trồng rau nổi tiếng. Bề dày lịch sử và sự độc đáo của nghề trồng rau đã giúp làng rau Trà Quế nổi tiếng không chỉ trong Thành phố, khu vực mà trên cả nước.
Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Tác động của gợi ý thuật toán đến hành vi mua sắm bốc đồng thông qua cảm xúc người tiêu dùng trên nền tảng thương mại điện tử

Trong bối cảnh các sàn thương mại điện tử ngày càng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để cá nhân hóa đề xuất sản phẩm, người tiêu dùng dễ bị tác động bởi các gợi ý phù hợp với sở thích, nhu cầu và lịch sử mua sắm.
Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Nghiên cứu tác động của thương mại dịch vụ số đến cường độ năng lượng: Phân tích thực nghiệm các nước OECD

Biến đổi khí hậu toàn cầu và nguy cơ cạn kiệt nguồn năng lượng truyền thống đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Để hướng tới mục tiêu trung hòa carbon, giảm cường độ năng lượng, tức nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên một đơn vị đầu ra kinh tế đã trở thành chiến lược cốt lõi của nhiều quốc gia.
Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Liên kết kinh tế trong phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Nình hiện nay

Phát triển du lịch hiện nay phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng liên kết giữa các ngành, địa phương và chủ thể kinh tế. Đối với du lịch sinh thái, yêu cầu này càng rõ do tài nguyên tự nhiên, môi trường và văn hóa bản địa vừa là nguồn lực khai thác, vừa cần được bảo vệ để bảo đảm phát triển bền vững.
Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Xu hướng công nghệ lượng tử và hoạt động ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế, cơ hội - thách thức và khuyến nghị đối với ngành ngân hàng Việt Nam

Ngành ngân hàng Việt Nam có mức độ số hóa ngày càng cao, kéo theo yêu cầu lớn về bảo đảm an toàn dữ liệu và hạ tầng mật mã