​​​​​​​Hoạt động kiểm toán năng lượng và tổ chức kiểm toán năng lượng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Kế toán - Kiểm toán 20:48 | 10/05/2026 Nguyễn Thị Lê
Kiểm toán năng lượng được xem là công cụ quan trọng giúp đánh giá hiện trạng sử dụng năng lượng, xác định tiềm năng tiết kiệm và đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả năng lượng trong các cơ sở sản xuất và tòa nhà.

Nguyễn Thị Lê

Email: [email protected]

Nguyễn Đạt Minh

Trường Đại học Điện lực

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động kiểm toán năng lượng và các tổ chức cung cấp dịch vụ này tại Việt Nam trong bối cảnh nhu cầu sử dụng năng lượng gia tăng và yêu cầu nâng cao hiệu quả năng lượng ngày càng cấp thiết. Trên cơ sở tổng hợp các quy định pháp lý hiện hành, kết hợp với phân tích các nghiên cứu liên quan và thực tiễn triển khai, nghiên cứu cho thấy, mặc dù kiểm toán năng lượng đã được triển khai trong nhiều lĩnh vực, song hiệu quả thực tế chưa tương xứng với tiềm năng tiết kiệm năng lượng, chất lượng kiểm toán năng lượng chưa đồng đều. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực tổ chức kiểm toán năng lượng, tăng cường cơ chế giám sát và thúc đẩy thị trường dịch vụ kiểm toán năng lượng theo hướng chuyên nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại Việt Nam.

Từ khóa: Kiểm toán năng lượng, tổ chức kiểm toán năng lượng, hiệu quả năng lượng, chính sách năng lượng

Abstract

This study analyzes the current state of energy auditing activities and the organizations providing such services in Viet Nam, in the context of increasing energy demand and the growing urgency to improve energy efficiency. Based on a synthesis of current legal regulations, an analysis of related studies, and practical implementation, the study reveals that although energy auditing has been implemented across various sectors, its actual effectiveness has not yet matched its potential for energy savings, and the quality of energy audits remains inconsistent. On this basis, the study proposes several groups of solutions to improve the legal framework, enhance the capacity of energy auditing organizations, strengthen supervision mechanisms, and promote the energy auditing service market toward greater professionalism, thereby contributing to improved energy efficiency in Viet Nam.

Keywords: Energy auditing, energy auditing organizations, energy efficiency, energy policy

GIỚI THIỆU

Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đảm bảo an ninh năng lượng, giảm chi phí sản xuất và hạn chế phát thải khí nhà kính (Tcvetkov và cộng sự, 2024; Bangura và Kai, 2025; Nordin và cộng sự, 2024). Kiểm toán năng lượng (KTNL) được xem là công cụ quan trọng giúp đánh giá hiện trạng sử dụng năng lượng, xác định tiềm năng tiết kiệm và đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả năng lượng trong các cơ sở sản xuất và tòa nhà (Kalantzis và Revoltella, 2019; Veronika Liberova và cộng sự, 2025; Abaubakry M'Baye, 2022).

Mặc dù hoạt động KTNL đã được quy định trong hệ thống pháp luật và từng bước triển khai trên thực tế tại Việt Nam, song các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật hoặc tiềm năng tiết kiệm năng lượng, trong khi còn thiếu các nghiên cứu mang tính hệ thống về thực trạng hoạt động KTNL gắn với năng lực của các tổ chức cung cấp dịch vụ và khung thể chế liên quan. Bên cạnh đó, các vấn đề như chất lượng kiểm toán chưa đồng đều, thiếu chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, hạn chế trong cơ chế giám sát và hỗ trợ thị trường dịch vụ KTNL vẫn chưa được phân tích đầy đủ và toàn diện. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu cần được làm rõ, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng ngày càng cấp thiết.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng hoạt động KTNL và các tổ chức KTNL tại Việt Nam, qua đó nhận diện những hạn chế chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy phát triển thị trường KTNL trong thời gian tới.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý thuyết

Có thể định nghĩa một cách khái quát: KTNL là quá trình kiểm tra, đánh giá, phân tích tình hình sử dụng năng lượng nhằm xác định khả năng tiết kiệm năng lượng và đề xuất các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Nói cách khác, KTNL là hệ thống công cụ kỹ thuật - kinh tế - quản lý có vai trò then chốt trong việc tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh, đồng thời hỗ trợ hoạch định chính sách quốc gia, giảm phát thải và thúc đẩy phát triển bền vững (Dall’O’ và cộng sự, 2012; Kluczek và Olszewski, 2017).

Tổ chức KTNL là tổ chức chuyên thực hiện việc đo lường, phân tích, đánh giá mức tiêu thụ năng lượng của đối tượng sử dụng năng lượng như nhà máy, tòa nhà, hay hệ thống sản xuất, qua đó đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng khả thi về kỹ thuật và kinh tế.

Theo quy định hiện nay của Việt Nam, tổ chức KTNL là đơn vị có đủ năng lực chuyên môn, nhân sự và trang thiết bị được Bộ Công Thương công nhận, có chức năng thực hiện hoạt động kiểm toán năng lượng cho các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm hoặc các tổ chức, doanh nghiệp khác có nhu cầu (Chính phủ, 2026; Bộ Công Thương, 2025).

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận đa phương pháp. Sự kết hợp này nhằm khai thác tối đa ưu điểm của các phương pháp giúp đảm bảo tính toàn diện, độ sâu và độ tin cậy của nghiên cứu.

- Phương pháp kế thừa: nghiên cứu kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan làm tài liệu tham khảo, đối chiếu trong nghiên cứu này.

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia được lựa chọn để khai thác sử dụng những hiểu biết sâu sắc của các chuyên gia đối với vấn đề nghiên cứu. Bên cạnh đó, phương pháp chuyên gia còn nhằm hoàn thiện bảng hỏi để sử dụng cho quá trình khảo sát.

- Phương pháp điều tra: Khảo sát, thu thập thông tin thông qua phỏng vấn trực tiếp tại các tổ chức KTNL, phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại, zalo,… khảo sát qua phiếu câu hỏi đã chuẩn bị sẵn được gửi đến các tổ chức KTNL và các doanh nghiệp công nghiệp/khách hàng kiểm toán.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tóm tắt kết quả khảo sát

Khảo sát bằng Phiếu khảo sát

Khảo sát bằng Phiếu khảo sát được thực hiện trong tháng 11/2025. Phiếu khảo sát - ngoài nội dung thông tin chung - có 2 phần được thiết kế để khảo sát 2 nhóm khác nhau (tổ chức KTNL và doanh nghiệp công nghiệp/khách hàng kiểm toán). Tổng số phiếu được gửi trực tuyến đến gần 200 đơn vị thuộc tất cả các nhóm đối tượng, trong đó có phản hồi là gần 30 đơn vị. Do điều kiện năm nay mới sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (số lượng từ 63 giảm còn 34) nên nhiều tổ chức công đang trong quá trình sắp xếp lại, nhân sự có sự điều chuyển lớn về công việc, đơn vị… nên ảnh hưởng rõ đến việc thực hiện, theo dõi, quản lý lĩnh vực này. Tuy nhiên, thông tin phản hồi qua phiếu đã tập hợp được một số tình hình thực tế về hiện trạng hoạt động, xác định các điểm thuận lợi, khó khăn, phù hợp, chưa phù hợp của quy định hiện hành về loại hình và trình tự KTNL, đào tạo KTNL, cơ chế tài trợ cho KTNL, báo cáo và xem xét KTNL, phạm vi KTNL, các biện pháp và đánh giá sau kiểm toán, các đề xuất và kiến nghị từ phía tổ chức và doanh nghiệp để thực hiện KTNL …

Khảo sát bằng phỏng vấn các bên liên quan

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn thêm, gián tiếp qua điện thoại, zalo đối với một số cá nhân chuyên gia thuộc một số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp-khách hàng của KTNL, đơn vị tư vấn KTNL (Công ty CP giải pháp công nghệ Việt Nam (VETS), Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về Tiết kiệm Năng lượng (Enerteam), Công ty CP tiết kiệm năng lượng Bách khoa, Công ty CP Kiểm định và Chứng nhận Bách Khoa), một số chuyên gia từ hội thảo và trường đại học (Hội Khoa học công nghệ điều hòa không khí, Đại học Điện lực, Trung tâm năng lượng mới Đại học Bách Khoa Hà Nội …). Qua đó làm rõ thêm sự đánh giá về nhận thức, năng lực, nhu cầu và mức độ sẵn sàng của các tổ chức KTNL và ý kiến của doanh nghiệp đối với KTNL, thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện KTNL theo quy định hiện hành, những vấn đề cần cải thiện, tháo gỡ về mặt pháp lý.

Khảo sát trực tiếp tại cơ sở đối với tổ chức kiểm toán năng lượng

Các đơn vị được lựa chọn đại diện đầy đủ cho các loại hình tổ chức công, đơn vị sự nghiệp công, tổ chức tư vấn tư nhân và doanh nghiệp cổ phần, tại 9 đơn vị tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành lân cận, cũng nhằm mục đích làm rõ hơn hiện trạng hoạt động, những thuận lợi, khó khăn mà các đơn vị tư vấn gặp phải trong việc thực hiện KTNL theo quy định hiện hành, những nội dung cần cải thiện, tháo gỡ về mặt pháp lý... Do điều kiện thời gian không cho phép, đợt khảo sát trực tiếp thực tế được triển khai trong các ngày 3 và 4/12/2025, sau đó tổ chức đồng thời hội thảo tham vấn, chia sẻ thông tin tại cả miền Bắc và miền Nam vào ngày 5/12/2025.

Bảng: Danh sách các tổ chức kiểm toán năng lượng tham gia phỏng vấn trực tiếp

TT

Đơn vị

Tỉnh, thành

Loại hình

1

Trung tâm Phát triển Công Thương Bắc Ninh 2

Bắc Ninh

Đơn vị công

2

Công ty Kiểm toán năng lượng và Môi trường Việt Nam

Hà Nội

Công ty tư nhân

3

Trung tâm Phát triển Công Thương Hà Nội, phòng Tiết kiệm năng lượng

Hà Nội

Tổ chức sự nghiệp có thu

4

Công ty CP Tiết kiệm năng lượng Bách Khoa (ECCbachkhoa)

Hà Nội

Công ty cổ phần

5

Trung tâm Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Doanh nghiệp (CSED), Sở Công Thương

TP. HCM

Tổ chức sự nghiệp có thu

6

Công ty Công ty TNHH Năng lượng Bền vững Việt Nga

TP. HCM

Công ty tư nhân

7

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển TKNL (Enerteam)

TP. HCM

Công ty tư nhân

8

Công ty TNHH GreenYellow Việt Nam

TP. HCM

Tổ chức ESCO có vốn nước ngoài

9

Công ty TNHH năng lượng sạch Ân Đan

TP. HCM

Công ty tư nhân

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Thực trạng hoạt động kiểm toán năng lượng và tổ chức kiểm toán năng lượng tại Việt Nam

Đánh giá chung

- Đa số các tổ chức KTNL tập trung tại một số thành phố lớn và khu vực tỉnh thành lân cận, nơi hiện hữu nhiều khu công nghiệp lớn và số lượng doanh nghiệp cao. Đơn cử như tại khu vực phía Bắc là Hà Nội và các tỉnh công nghiệp lân cận (Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên), tại khu vực phía Nam là TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận (Đồng Nai, Tây Ninh, Đà Nẵng, Cần Thơ…). Hoạt động KTNL tại các khu vực này phát triển mạnh hơn nhờ nhu cầu cao từ nhiều cơ sở sử dụng năng lượng - khách hàng của KTNL, sẵn nguồn cung nhân sự thực hiện quản lý năng lượng và KTNL từ một số trường đại học kỹ thuật, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp sản xuất có năng lực triển khai dịch vụ KTNL tương đối toàn diện, hệ thống hạ tầng dịch vụ tương đối phát triển.

- Các loại hình tổ chức KTNL:

Qua phân tích tài liệu và phản hồi từ các Phiếu khảo sát cho thấy các loại hình tổ chức KTNL gồm có: tổ chức dịch vụ năng lượng (ESCO) kiêm KTNL (chiếm 55-60%), tổ chức KTNL đơn thuần (khoảng 20%), tổ chức công (tỷ lệ khoảng 15%), số ít % còn lại là các tổ chức tư vấn nước ngoài tại Việt Nam có làm KTNL, các bộ phận KTNL nội bộ thuộc một số doanh nghiệp kỹ thuật - công nghiệp lớn.

+ Các doanh nghiệp ESCO kiêm thực hiện KTNL: Các doanh nghiệp ESCO kiêm KTNL có năng lực đầu tư thiết bị tốt hơn và có thể cung cấp trọn gói các dịch vụ từ kiểm toán (trường hợp lựa chọn tự thực hiện KTNL như một phần trong tổng thể dịch vụ) đến thiết kế, thi công và vận hành giải pháp tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, nhu cầu của khách hàng, một số báo cáo KTNL của nhóm này có xu hướng định hướng theo sản phẩm thương mại của chính doanh nghiệp.

+ Các tổ chức KTNL đơn thuần: Nhóm này bao gồm các công ty tư vấn kỹ thuật, viện nghiên cứu và một số đơn vị trực thuộc các trường đại học kỹ thuật. Điểm mạnh của nhóm là có đội ngũ kỹ sư được đào tạo bài bản và báo cáo KTNL thường có chất lượng chuyên môn khá tốt. Tuy nhiên, hạn chế chung là quy mô nhỏ và thiếu nguồn lực đầu tư thiết bị đo đạc hiện đại, thường phải chịu tình trạng cạnh tranh không lành mạnh về chào giá kiểm toán. Các tổ chức công là các trung tâm tư vấn phát triển công thương và tiết kiệm năng lượng cũng thuộc nhóm này, ngoài những đơn vị mạnh nổi trội như tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Cần Thơ,… thì nhân sự thiếu và không ổn định, trang thiết bị không đủ, thực hiện KTNL nằm trong nhiệm vụ và ngân sách nếu được giao.

+ Các đơn vị kỹ thuật - công nghiệp lớn có bộ phận KTNL nội bộ: Nhóm này bao gồm các tập đoàn, tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực cơ khí, điện, xây lắp và công nghiệp nặng. Các đơn vị này có lợi thế về thiết bị đo đạc và kinh nghiệm thực tiễn nhưng thường chỉ cung cấp dịch vụ KTNL cho các đơn vị thành viên của tập đoàn, tổng công ty theo nhu cầu và kế hoạch được giao (không phải là đơn vị cung cấp dịch vụ KTNL chuyên nghiệp cho thị trường).

Ưu, nhược điểm của các tổ chức kiểm toán năng lượng tại Việt Nam trên các khía cạnh:

Năng lực chuyên môn, nhân lực và thiết bị:

- Ưu điểm: Do những lợi thế nói trên, nhân lực KTNL cung cấp cho khu vực Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố lân cận tương đối dồi dào, cho thấy kết quả tăng cường đào tạo nguồn nhân lực quản lý năng lượng nói chung và Kiểm toán viên năng lượng nói riêng đến nay đã hội tụ được kết quả lũy tiến, đáp ứng được một phần cho nhu cầu. Trong đó, số lượng kiểm toán viên có chứng chỉ KTNL tập trung nhiều nhất tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; một số doanh nghiệp có đội ngũ kiểm toán viên có chứng chỉ quốc tế (CMVP, CEA), nhưng chưa phổ biến. Phần lớn các đơn vị có bộ thiết bị cơ bản (logger điện, kẹp dòng, nhiệt kế, lưu lượng kế, đèn lux…). Nhóm ESCO kiêm KTNL có xu hướng đầu tư thiết bị tốt hơn nhóm tư vấn KTNL nhỏ.

- Nhược điểm: Biến động nhân sự cao và thiếu chuyên gia chuyên sâu theo ngành vẫn là khó khăn lớn. Về thiết bị, ngoài một số tổ chức ESCO kiêm KTNL có quy mô và tiềm lực khá hơn, còn phần lớn đơn vị tổ chức KTNL chỉ sở hữu bộ thiết bị cơ bản; các thiết bị nâng cao (camera nhiệt độ phân giải cao, logger nhiều kênh, thiết bị đo khí thải, phân tích mạng điện) còn hạn chế, vẫn phải thuê ngoài do chi phí đầu tư cao do đó tính chủ động còn hạn chế.

Tình hình thực hiện dịch vụ kiểm toán năng lượng:

- Ưu điểm: Trong thập kỷ gần đây, do khung pháp lý được hoàn thiện dần và đầy đủ hơn trước, tình hình và khu vực phía Bắc có đà tăng nhẹ, chủ yếu tập trung tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn báo cáo và chất lượng dữ liệu.

- Nhược điểm: Nhìn chung, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa quan tâm do nhận thức hạn chế và không đáp ứng được chi phí thực hiện (còn cao so với khả năng chi trả của doanh nghiệp nhỏ).

Khó khăn chung:

Kết quả khảo sát cho thấy một số khó khăn nổi bật bao gồm:

- Về khung pháp lý, bên cạnh thuận lợi là đã có Luật 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được ban hành tháng 6/2025, Nghị định hướng dẫn Luật này vẫn đang trong quá trình xây dựng, các hướng dẫn chưa đủ (mới có Thông tư 25/2020/TT-BCT, Thông tư 53/2025/TT-BCT); nhiều khó khăn, hạn chế về vấn đề KTNL chưa được giải quyết triệt để, chưa có hướng dẫn triển khai đồng bộ, các tổ chức thiếu cơ chế công nhận và phân loại rõ ràng, thiếu cơ chế nâng hạng để định vị năng lực;

- Trang thiết bị đo đạc hiện đại còn thiếu, khả năng ứng dụng công nghệ mới còn hạn chế;

- Cơ chế tài chính và hỗ trợ chưa rõ, kinh phí hoạt động còn eo hẹp đặc biệt đối với tổ chức sự nghiệp công lập, chưa có định mức đơn giá phù hợp cho mỗi ngành mà chỉ thực hiện theo thỏa thuận giữa đơn vị KTNL và cơ sở công nghiệp - khách hàng. Từ đó gây ra tình trạng cạnh tranh giá thấp (đặt giá thấp, phá giá) dẫn đến chất lượng báo cáo KTNL không đồng đều và hoạt động KTNL thuần không đủ doanh thu;

- Nhiều đơn vị, doanh nghiệp khách hàng nhận thức còn hạn chế, mang tâm thế KTNL để đối phó, tuân thủ luật trên danh nghĩa, ít chia sẻ dữ liệu vận hành, gây khó cho đo đạc - phân tích;

- Trang thiết bị/dụng cụ đo kiểm còn đơn giản gặp khó khăn khi thực hiện đo kiểm những thiết bị công nghệ cao, công nghệ phức tạp.

- Nhiều báo cáo KTNL thường đề xuất giải pháp ở những công nghệ đơn giản, những công nghệ cao phức tạp hay bỏ qua vì không chỉ thiếu thiết bị đo kiểm mà còn không đủ khả năng cả về kinh nghiệm chuyên môn.

Tóm lại, ưu điểm chung là hiện có mạng lưới tổ chức KTNL đa dạng và năng lực nhìn chung có bước tiến. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các nhóm tổ chức vẫn lớn, đặc biệt giữa các đơn vị tư vấn nhỏ và các doanh nghiệp ESCO kiêm KTNL. Để nâng cao chất lượng dịch vụ KTNL, cần có cơ chế đăng ký, đánh giá, công nhận và công bố năng lực tổ chức KTNL trên phạm vi quốc gia, tương ứng với cơ chế, hỗ trợ khả thi về tài chính, đầu tư.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động KTNL tại Việt Nam đã được triển khai trong thực tiễn và bước đầu phát huy vai trò trong việc nhận diện tiềm năng tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện còn chưa cao và chưa đồng đều giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ, chủ yếu do những hạn chế về khung pháp lý, thiếu chuẩn hóa kỹ thuật, năng lực tổ chức KTNL chưa đồng đều và cơ chế giám sát, hỗ trợ còn thiếu hiệu lực.

Từ thực trạng đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp trọng tâm và sát sườn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KTNL như sau:

Một là, cần siết chặt công tác quản lý đối với các đơn vị KTNL để đảm bảo chất lượng, hồ sơ cung cấp dịch vụ KTNL của các đơn vị là thực chất. Vì thế, việc thiết lập, xây dựng hệ thống, tiêu chí công nhận, đánh giá và công bố năng lực tổ chức KTNL trên phạm vi quốc gia là rất cần thiết, mang lại nhiều lợi ích, cải thiện nâng cao chất lượng của hoạt động KTNL tại Việt Nam. Điều này cũng thể hiện ý kiến của hầu hết các đại biểu tham dự 2 hội thảo khi thống nhất rằng cần phải có phân loại chung tổ chức KTNL để nâng cao chất lượng tư vấn KTNL.

Hai là, cần có cơ chế, chế tài xử phạt dễ thực hiện nếu doanh nghiệp không thực hiện KTNL bắt buộc theo quy định 3 năm/lần đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm. Ví dụ quy định mức phạt là 10, 15 triệu phạt 2 lần/năm dễ thực hiện hơn mức phạt 50 triệu/3 năm.

Ba là, báo cáo hàng năm của các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm còn chung chung, nên Bộ Công Thương cần điều chỉnh mẫu báo cáo. Ví dụ mẫu báo cáo cần yêu cầu các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trả lời đã thực hiện các giải pháp đề xuất trong báo cáo KTNL hay chưa, tỷ lệ thực hiện giải pháp, cụ thể doanh nghiệp đã thực hiện những giải pháp được khuyến nghị nào,… Xây dựng quy định bắt buộc các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm cần thực hiện bao nhiêu % các giải pháp TKNL được khuyến nghị trong báo cáo KTNL.

Bốn là, xây dựng mức hỗ trợ cụ thể cho các địa phương trong hoạt động KTNL và mua sắm trang thiết bị cập nhật phục vụ hoạt động KTNL. Xây dựng định mức công thực hiện KTNL để các đơn vị cung cấp dịch vụ KTNL có căn cứ xây dựng và duyệt dự toán.

Năm là, nhân sự (của cơ quan quản lý Nhà nước) bộ phận đọc, duyệt báo cáo KTNL cần có kiến thức chuyên môn phù hợp để đảm bảo các báo cáo KTNL được duyệt đảm bảo chất lượng, hạn chế tình trạng các báo cáo chưa đạt vẫn được thông qua. Quy định thời gian phê duyệt báo cáo KTNL, tránh tình trạng để các đơn vị chờ đợi quá lâu như hiện nay.

Sáu là, đề xuất được phân quyền truy cập cho các đơn vị KTNL để nắm bắt, khai thác cơ sở dữ liệu hiện có hoặc sẽ hình thành trong tương lai. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về Kiểm toán viên năng lượng hiện có và có thể truy cập hệ thống kiểm tra công khai danh sách Kiểm toán viên năng lượng bao gồm các thông tin cơ bản như họ tên, cơ quan làm việc để hạn chế tình trạng lấy tên một người đưa vào nhiều doanh nghiệp mà thực tế không tham gia thực hiện, quy định số Kiểm toán viên năng lượng cơ hữu đối với mỗi đơn vị dịch vụ KTNL.

Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động KTNL, đồng thời thúc đẩy thị trường dịch vụ KTNL phát triển theo hướng chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại Việt Nam.

(*) Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi đề tài “Đề xuất hệ thống đánh giá năng lực, công nhận và công bố các tổ chức kiểm toán năng lượng” trong khuôn khổ Chương trình Quốc gia về Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030.

Tài liệu tham khảo:

1. Abaubakry M'Baye (2022). Review on Energy Audit: Benefits, Barriers, and Opportunities. American Journal of Energy and Natural Resources, 1(1), 45-58. DOI: 10.54536/ajenr.v1i1.1054

2. A. Kluczek and P. Olszewski (2017). Energy audits in industrial processes,” Journal of Cleaner Production, 142, 3437-3453. DOI: 10.1016/j.jclepro.2016.10.123

3. Bộ Công Thương (2025). Thông tư số 53/2025/TT-BCT ngày 14/11/2025 quy định về đào tạo, cấp chứng chỉ quản lý năng lượng và kiểm toán viên năng lượng.

4. Chính phủ (2026). Nghị định số 30/2026/NĐ-CP ngày 21/1/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

5. D. M. Bangura and L. T. Kai. (2025). The Role of Industrial Energy Efficiency in Emission Reduction: Insights from China. European Journal of Theoretical and Applied Sciences, 3(2), 115-122. DOI: 10.59324/ejtas.2025.3(2).09

6. G. Dall’O’, A. Speccher, and E. Bruni (2012). The Green Energy Audit, a new procedure for the sustainable auditing of existing buildings integrated with the LEED Protocols. Sustainable Cities and Society, 3, 54-65. DOI: 10.1016/j.scs.2012.02.001

7. I. Nordin, K. Elofsson, and T. Jansson (2024). Cost-effective reductions in greenhouse gas emissions: Reducing fuel consumption or replacing fossil fuels with biofuels. Energy Policy, 190, 114138. DOI: 10.1016/j.enpol.2024.114138

8. Kalantzis, F. & Revoltella, D. (2019). Do energy audits help SMEs to realize energy-efficiency opportunities? https://ideas.repec.org/a/eee/eneeco/v83y2019icp229-239.html

9. P. Tcvetkov, P. Samuseva, and L. Nikolaichuk (2024). The research of the impact of energy efficiency on mitigating greenhouse gas emissions at the national level. Energy Conversion and Management, 314, 118671. DOI: 10.1016/j.enconman.2024.118671

10. Veronika Liberova et.al (2025). Unleashing Energy Potential: Insights of Energy Audit Practices. Energies, 18(3), 522. https://doi.org/10.3390/en18030522

Ngày nhận bài: 3/3/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 4/5/2026; Ngày duyệt đăng: 7/5/2026

Các tin khác

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên HOSE

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên HOSE

Nghiên cứu đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin tài chính cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, kiểm toán viên và cơ quan quản lý, trên cơ sở xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên HOSE.
Thực trạng áp dụng kế toán môi trường trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Thực trạng áp dụng kế toán môi trường trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

Quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời làm gia tăng áp lực đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Vì vậy, chi phí môi trường trở thành một bộ phận ngày càng có ý nghĩa đối với chi phí sản xuất và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kế toán thuế tại các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kế toán thuế tại các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam

Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng ứng dụng AI trong kế toán thuế tại các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam, đồng thời nhận diện những rào cản chủ yếu đối với quá trình ứng dụng.
Tích hợp kế toán tài chính và kế toán quản trị trong hệ thống thông tin kế toán

Tích hợp kế toán tài chính và kế toán quản trị trong hệ thống thông tin kế toán

Sự phát triển của công nghệ thông tin đồng thời thúc đẩy quá trình hội tụ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, đặc biệt trên phương diện hệ thống và tổ chức thông tin kế toán
Tác động của các công nghệ mới trong kế toán đến chất lượng báo cáo tài chính và thích ứng nghề nghiệp

Tác động của các công nghệ mới trong kế toán đến chất lượng báo cáo tài chính và thích ứng nghề nghiệp

Sự bùng nổ của chuyển đổi số đã thúc đẩy sự tiến hóa mạnh mẽ của hệ thống thông tin kế toán (AIS), mở rộng từ các định dạng chuẩn hóa báo cáo như ngôn ngữ báo cáo kinh doanh mở rộng (XBRL) đến các công nghệ số nâng cao như điện toán đám mây phân tích dữ liệu lớn tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) kết hợp phân tích dữ liệu và sự số hóa toàn diện thông tin kế toán.
Đánh giá mối đe dọa đến nhận thức về hiệu quả an toàn thông tin kế toán: Mô hình tích hợp PMT - TPB - Điều kiện hóa hành động - Thói quen tại doanh nghiệp Việt Nam

Đánh giá mối đe dọa đến nhận thức về hiệu quả an toàn thông tin kế toán: Mô hình tích hợp PMT - TPB - Điều kiện hóa hành động - Thói quen tại doanh nghiệp Việt Nam

Hệ thống thông tin kế toán (AIS) hỗ trợ xử lý giao dịch, lập báo cáo tài chính, quản lý thuế, kiểm soát nội bộ và cung cấp bằng chứng kiểm toán. Sự tích hợp ngày càng chặt chẽ giữa dữ liệu, phần mềm và quy trình giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, nhưng đồng thời làm gia tăng mức độ tập trung của dữ liệu nhạy cảm và yêu cầu bảo đảm khả năng truy cập, xử lý và lưu trữ thông tin.
Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo với ngành kế toán - kiểm toán: Tiếp cận bằng phương pháp trắc lượng thư mục

Bước vào những năm 2010, khái niệm AI đã vượt khỏi phạm trù khoa học máy tính thuần túy và bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành nghề yêu cầu kỹ năng phân tích dữ liệu chuyên sâu.
Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Hệ thống kế toán quản trị môi trường hỗ trợ áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001: Bằng chứng thực nghiệm từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và yêu cầu phát triển bền vững, việc áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 14001 được xem là một chiến lược phổ biến giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình vận hành và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Tại Việt Nam, mức độ áp dụng kế toán quản trị chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào lập dự toán, phân tích chi phí và kiểm soát tài chính, trong khi kế toán trách nhiệm và kế toán quản trị chiến lược chưa được triển khai phổ biến.
Hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam trong bối cảnh tự chủ tài chính

Hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam trong bối cảnh tự chủ tài chính

Kiểm toán nội bộ góp phần tăng cường kiểm soát, minh bạch tài chính và sử dụng hiệu quả nguồn lực tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ.