Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai

Kế toán - Kiểm toán 15:45 | 19/09/2026 Trần Văn Long
Tại Việt Nam, mức độ áp dụng kế toán quản trị chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào lập dự toán, phân tích chi phí và kiểm soát tài chính, trong khi kế toán trách nhiệm và kế toán quản trị chiến lược chưa được triển khai phổ biến.

Trần Văn Long

Học viên cao học, Khoa Sau đại học, Trường Đại học Lạc Hồng

Email: [email protected]

Nguyễn Tiến Quang

Email: [email protected]

Nguyễn Văn Hải (Tác giả liên hệ)

Email: [email protected]

Giảng viên, Khoa Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Lạc Hồng

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Công ty đã thực hiện phân loại doanh thu theo nhóm ngành hàng, phân loại chi phí theo khoản mục và bộ phận, lập dự toán doanh thu, giá vốn, chi phí, lợi nhuận và dòng tiền, đồng thời xây dựng một số báo cáo phục vụ kiểm soát hoạt động. Tuy nhiên, chức năng kế toán quản trị chưa được phân định rõ với kế toán tài chính. Hệ thống báo cáo còn thiếu tính chi tiết và phân tích. Việc phân tích chênh lệch giữa dự toán và thực tế chưa được thực hiện thường xuyên. Công tác kiểm soát chi phí, hàng tồn kho và đánh giá hiệu quả theo trung tâm trách nhiệm vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy trình lập dự toán, kế toán quản trị chi phí, hệ thống trung tâm trách nhiệm, báo cáo quản trị và cơ chế liên thông dữ liệu nhằm nâng cao chất lượng thông tin phục vụ kiểm soát, điều hành và ra quyết định.

Từ khoá: Kế toán quản trị, tổ chức kế toán quản trị, dự toán ngân sách, trung tâm trách nhiệm, doanh nghiệp bán lẻ

Abstract

This study aims to assess the current state of management accounting and propose solutions to improve its organization at Big C Dong Nai International Trading and Services Co., Ltd. The findings show that the company has classified revenue by product category and costs by cost item and department; prepared budgets for revenue, cost of goods sold, expenses, profit, and cash flows; and developed several reports to support operational control. However, the functions of management accounting have not been clearly distinguished from financial accounting. The reporting system lacks sufficient detail and analytical depth, while variance analysis between budgeted and actual figures is not conducted regularly. Cost and inventory control, as well as performance evaluation by the responsibility center, also remain limited. The study proposes improvements to the budgeting process, cost management accounting, the responsibility center system, management reporting, and data integration mechanisms to enhance the quality of information for control, management, and decision-making.

Keywords: Management accounting, management accounting organization, budgeting, responsibility centers, retail enterprises

GIỚI THIỆU

Tại Việt Nam, mức độ áp dụng kế toán quản trị (KTQT) chưa đồng đều. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào lập dự toán, phân tích chi phí và kiểm soát tài chính, trong khi kế toán trách nhiệm và KTQT chiến lược chưa được triển khai phổ biến. Khả năng vận dụng phụ thuộc vào quy mô, phân quyền, định hướng chiến lược, trình độ công nghệ, nhận thức của nhà quản trị và năng lực nhân sự kế toán (Doan và cộng sự, 2011; Nguyen và cộng sự, 2023; Dao Ngoc Ha, 2024). Đối với doanh nghiệp thương mại - dịch vụ, yêu cầu này càng rõ do dữ liệu phải được cập nhật theo nhóm hàng và bộ phận (Nguyễn Thị Ngọc Bích và Thái Thị Hoài Thương, 2022).

Công ty TNHH TMDV Quốc tế Big C Đồng Nai kinh doanh nhiều nhóm hàng hóa và có nhiều bộ phận chức năng. Công ty đã phân loại doanh thu theo nhóm ngành hàng, tập hợp chi phí theo khoản mục và bộ phận, lập dự toán doanh thu, giá vốn, chi phí, lợi nhuận, dòng tiền và xây dựng báo cáo kiểm soát. Tuy nhiên, chức năng KTQT chưa được phân định rõ với kế toán tài chính. Hệ thống báo cáo còn thiên về phản ánh số liệu, phân tích chênh lệch chưa gắn đầy đủ với nguyên nhân và trách nhiệm. Kiểm soát hàng tồn kho, đánh giá theo trung tâm trách nhiệm và liên thông dữ liệu vẫn cần hoàn thiện.

Nghiên cứu đánh giá thực trạng tổ chức KTQT tại Công ty, xác định hạn chế, đồng thời đề xuất giải pháp về lập dự toán, quản trị chi phí, hàng tồn kho, trung tâm trách nhiệm và báo cáo quản trị. Kết quả nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn để nâng cao chất lượng thông tin phục vụ kiểm soát, điều hành và ra quyết định.

THỰC TRẠNG

Về tổ chức bộ máy kế toán và cung cấp thông tin quản trị

Bộ máy kế toán tại Công ty được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa. Kế toán trưởng chịu trách nhiệm điều hành, kiểm tra và kiểm soát toàn bộ hoạt động kế toán. Dưới kế toán trưởng là kế toán tổng hợp và các kế toán viên phụ trách doanh thu, chi phí, hàng tồn kho, tài sản cố định, công nợ, tiền lương và quỹ tiền mặt.

Công ty áp dụng hình thức Nhật ký chung và sử dụng phần mềm kế toán để cập nhật, xử lý và tổng hợp dữ liệu. Sau khi được kiểm tra, chứng từ được nhập vào hệ thống theo từng phần hành và tự động cập nhật vào sổ tổng hợp, sổ chi tiết, làm căn cứ lập báo cáo tài chính và báo cáo nội bộ. Ngoài các báo cáo bắt buộc, bộ phận kế toán còn lập báo cáo doanh thu, chi phí và hàng tồn kho phục vụ điều hành.

KTQT chưa được tổ chức thành bộ phận độc lập mà được thực hiện kết hợp trong từng phần hành. Kế toán doanh thu vừa đối chiếu dữ liệu bán hàng và thu ngân, vừa cung cấp thông tin theo nhóm hàng. Kế toán chi phí theo dõi chi phí bán hàng, chi phí quản lý và chi phí vận hành. Kế toán hàng tồn kho theo dõi nhập, xuất, tồn và phối hợp với các bộ phận ngành hàng trong kiểm kê. Kế toán tổng hợp chịu trách nhiệm tổng hợp số liệu và lập báo cáo phục vụ ban giám đốc.

Thông tin kế toán được chuyển đến ban giám đốc và các bộ phận quản lý thông qua báo cáo định kỳ. Nội dung chủ yếu gồm doanh thu theo nhóm ngành hàng, tỷ lệ giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý, hàng tồn kho, lợi nhuận gộp, công nợ và dòng tiền. Các thông tin này phục vụ theo dõi kế hoạch, kiểm soát hoạt động và điều chỉnh quyết định quản lý.

Về tổ chức thông tin doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh

Doanh thu tại Công ty được phân loại theo nội dung kinh tế và theo nhóm ngành hàng. Theo nội dung kinh tế, doanh thu gồm doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, cho thuê mặt bằng và các nguồn thu khác. Theo nhóm ngành hàng, doanh thu được theo dõi đối với thực phẩm tươi sống, thực phẩm khô và hàng tiêu dùng nhanh, đồ gia dụng và điện máy nhỏ, thời trang, mỹ phẩm và sản phẩm cá nhân, cùng dịch vụ và cho thuê mặt bằng.

Cách phân loại này phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp bán lẻ có danh mục hàng hóa đa dạng và mức sinh lời khác nhau. Thông tin theo nhóm ngành hàng hỗ trợ nhà quản trị nhận diện nhóm tạo doanh thu chủ yếu, đánh giá cơ cấu bán hàng và xây dựng kế hoạch theo từng thời kỳ.

Chi phí được phân loại theo chức năng hoạt động, cách ứng xử và bộ phận chịu trách nhiệm. Theo chức năng, chi phí gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính và chi phí khác. Theo cách ứng xử, chi phí được chia thành biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Theo bộ phận chịu trách nhiệm, chi phí được tập hợp cho kinh doanh, kho vận, thu ngân, marketing, nhân sự, kỹ thuật, hành chính - kế toán, an ninh và vệ sinh.

Giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng lớn do công ty chủ yếu mua hàng hóa để bán lại. Các chi phí vận hành khác gồm nhân sự, điện nước, bảo trì, khuyến mãi, vận chuyển, công nghệ thông tin và dịch vụ thuê ngoài. Việc phân loại theo nhiều tiêu thức giúp kiểm soát ngân sách, xác định nơi phát sinh chi phí và phân tích mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận.

Kết quả kinh doanh được theo dõi trên phạm vi toàn Công ty và theo nhóm ngành hàng. Báo cáo theo nhóm phản ánh doanh thu, giá vốn và lợi nhuận gộp, qua đó giúp nhà quản trị đánh giá đồng thời quy mô doanh thu và khả năng sinh lời. Một số nhóm có doanh thu lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận gộp thấp, trong khi nhóm thời trang, mỹ phẩm và sản phẩm cá nhân có doanh thu thấp hơn nhưng biên lợi nhuận cao hơn. Thông tin này là cơ sở điều chỉnh cơ cấu hàng hóa và chính sách bán hàng.

Về công tác lập dự toán ngân sách

Công tác lập dự toán ngân sách được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa ban giám đốc, phòng tài chính - kế toán và các bộ phận nghiệp vụ. Quy trình gồm: thu thập dữ liệu kỳ trước, xác định mục tiêu kinh doanh, lập dự toán chi tiết, tổng hợp và kiểm tra số liệu, trình phê duyệt, triển khai thực hiện, theo dõi kết quả và đánh giá chênh lệch.

Phòng kế toán thu thập dữ liệu về doanh thu, giá vốn, chi phí bán hàng, chi phí quản lý, hàng tồn kho, công nợ và dòng tiền. Trên cơ sở đó, ban giám đốc xác định mục tiêu doanh thu, lợi nhuận, mức chi phí và nhu cầu vốn. Bộ phận kinh doanh lập kế hoạch doanh thu theo nhóm ngành hàng. Bộ phận kho xây dựng kế hoạch mua hàng và tồn kho. Phòng nhân sự dự kiến chi phí tiền lương và lao động thời vụ. Bộ phận marketing lập dự toán quảng cáo, khuyến mãi; bộ phận kỹ thuật dự kiến chi phí điện, nước, bảo trì và sửa chữa.

Dự toán doanh thu được lập theo nhóm ngành hàng và theo quý để phản ánh tính mùa vụ. Doanh thu dự kiến tập trung cao vào quý I và quý IV do nhu cầu mua sắm tăng trong dịp Tết và cuối năm. Dự toán giá vốn dựa trên doanh thu kế hoạch và tỷ lệ giá vốn của từng nhóm hàng. Dự toán chi phí được lập theo khoản mục, chức năng và bộ phận chịu trách nhiệm. Dự toán dòng tiền phản ánh các khoản thu chủ yếu và các khoản thanh toán dự kiến trong kỳ.

Sau khi được phê duyệt, dự toán được triển khai đến các bộ phận trong phạm vi ngân sách được giao. Phòng kế toán theo dõi số liệu phát sinh, tổng hợp kết quả và so sánh với kế hoạch để đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu và hỗ trợ ban giám đốc điều chỉnh hoạt động kinh doanh.

Về hệ thống kiểm soát và báo cáo quản trị

Hệ thống kiểm soát quản trị tập trung vào doanh thu, giá vốn, chi phí, hàng tồn kho, dòng tiền và trách nhiệm của các bộ phận. Kiểm soát doanh thu được thực hiện thông qua phối hợp giữa bộ phận kinh doanh, thu ngân và kế toán doanh thu. Dữ liệu bán hàng được theo dõi theo ngày, nhóm hàng, quầy hàng và chương trình khuyến mãi nhằm bảo đảm doanh thu được ghi nhận đầy đủ và hạn chế sai lệch.

Giá vốn được theo dõi theo nhóm ngành hàng và tỷ lệ giá vốn trên doanh thu. Chi phí được kiểm soát bằng cách đối chiếu số thực hiện với dự toán theo khoản mục và bộ phận. Dòng tiền được theo dõi thông qua các khoản thu, chi, công nợ phải thu và nghĩa vụ thanh toán.

Các báo cáo quản trị chủ yếu gồm báo cáo so sánh dự toán với thực hiện, báo cáo kiểm soát chi phí theo bộ phận, báo cáo hàng tồn kho, báo cáo chi phí hoạt động, báo cáo kết quả kinh doanh theo ngành hàng và báo cáo kết quả kinh doanh quản trị. Thông tin được tổng hợp theo kỳ phù hợp với yêu cầu quản lý.

Báo cáo so sánh dự toán với thực hiện phản ánh chênh lệch về doanh thu, giá vốn, chi phí và lợi nhuận. Báo cáo chi phí theo bộ phận giúp xác định nơi phát sinh chi phí và mức độ thực hiện ngân sách. Báo cáo kết quả kinh doanh theo ngành hàng cung cấp doanh thu, giá vốn, lợi nhuận gộp và tỷ suất lợi nhuận của từng nhóm sản phẩm. Qua đó, ban giám đốc có thể đánh giá kết quả theo từng kỳ.

Về quản trị hàng tồn kho và đánh giá trách nhiệm

Hàng tồn kho được Công ty quan tâm do hoạt động bán lẻ có số lượng mặt hàng lớn, thời hạn sử dụng và tốc độ luân chuyển khác nhau. Việc theo dõi được thực hiện thông qua dữ liệu nhập, xuất, tồn theo từng nhóm hàng và kết quả kiểm kê định kỳ. Bộ phận ngành hàng, kho vận và kế toán hàng tồn kho phối hợp đối chiếu số liệu, xác định chênh lệch và xử lý hàng hư hỏng hoặc chậm luân chuyển.

Công ty cũng đã hình thành cơ sở đánh giá trách nhiệm thông qua việc phân loại doanh thu, chi phí và kết quả theo từng bộ phận. Bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm về doanh thu và hoạt động ngành hàng. Kho vận chịu trách nhiệm bảo quản, luân chuyển và kiểm kê hàng hóa. Marketing chịu trách nhiệm về ngân sách quảng cáo và khuyến mãi. Kỹ thuật chịu trách nhiệm về điện nước, bảo trì và thiết bị. Phòng tài chính - kế toán thực hiện tổng hợp, kiểm tra và cung cấp thông tin. Cách phân công này tạo nền tảng để công ty phát triển KTQT theo trung tâm doanh thu, trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư trong giai đoạn tiếp theo.

MỘT SỐ HẠN CHẾ TỒN TẠI TRONG TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Chức năng kế toán quản trị chưa được phân định rõ với kế toán tài chính

Công ty chưa bố trí bộ phận hoặc vị trí chuyên trách mà thực hiện lập dự toán, phân tích chi phí, theo dõi kết quả kinh doanh và lập báo cáo nội bộ trong từng phần hành kế toán. Cách tổ chức này giúp tận dụng nhân sự hiện có nhưng làm cho kế toán quản trị phụ thuộc vào quy trình kế toán tài chính. Nhân viên kế toán vẫn tập trung vào ghi nhận nghiệp vụ, kiểm tra chứng từ và lập báo cáo theo quy định, trong khi hoạt động phân tích, dự báo và tư vấn chưa được thực hiện thường xuyên.

Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chưa đầy đủ và còn hạn chế về chiều sâu phân tích

Các báo cáo doanh thu, chi phí, hàng tồn kho và kết quả kinh doanh chủ yếu phản ánh số liệu thực hiện, chưa làm rõ nguyên nhân biến động và tác động của từng khoản mục. Công ty cũng chưa xây dựng đầy đủ báo cáo về hàng tồn kho chậm luân chuyển, hiệu quả khuyến mãi, lợi nhuận theo nhóm hàng và chi phí theo trung tâm trách nhiệm. Điều này làm giảm khả năng sử dụng thông tin kế toán trong quyết định nhập hàng, giá bán và phân bổ nguồn lực.

Công tác lập dự toán ngân sách còn mang tính tổng hợp

Dự toán đã bao gồm doanh thu, giá vốn, chi phí, lợi nhuận và dòng tiền nhưng mức độ chi tiết theo ngành hàng, bộ phận và phạm vi trách nhiệm chưa đồng đều. Mối liên hệ giữa chỉ tiêu dự toán với trách nhiệm của từng đơn vị chưa được xác định cụ thể. Việc cập nhật dự toán khi điều kiện kinh doanh thay đổi chưa được thực hiện thường xuyên, nên khả năng hỗ trợ kiểm soát tại từng bộ phận còn hạn chế.

Công tác kiểm soát chi phí và hàng tồn kho chưa chặt chẽ

Chi phí thực hiện vượt dự toán tại một số bộ phận như kinh doanh, marketing, nhân sự và kỹ thuật. Việc đánh giá hàng tồn kho chủ yếu dựa trên số lượng và giá trị nhập, xuất, tồn, trong khi các chỉ tiêu về tốc độ luân chuyển, thời gian lưu kho, hàng cận hạn, hàng chậm bán và mức hao hụt chưa được tích hợp đầy đủ. Hạn chế này ảnh hưởng đến việc xác định nhu cầu nhập hàng và xử lý nhóm hàng tiêu thụ chậm.

Kế toán quản trị theo trung tâm trách nhiệm chưa được tổ chức hoàn chỉnh

Công ty đã tập hợp doanh thu và chi phí theo một số bộ phận nhưng chưa chính thức phân loại thành trung tâm doanh thu, trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư. Các chỉ tiêu đánh giá chưa gắn đầy đủ với quyền hạn và phạm vi kiểm soát của người quản lý. Vì vậy, thông tin kế toán chưa tạo cơ sở rõ ràng để đánh giá trách nhiệm và kết quả của từng đơn vị.

Các hạn chế trên làm giảm hiệu quả sử dụng thông tin KTQT trong lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

Một là, hoàn thiện nội dung kế toán quản trị phù hợp với hoạt động bán lẻ

Công ty cần theo dõi doanh thu, giá vốn, chi phí, hàng tồn kho, dòng tiền và kết quả kinh doanh theo từng nhóm ngành hàng, bộ phận và kỳ hoạt động. Báo cáo doanh thu cần phản ánh số kế hoạch, số thực hiện, chênh lệch và tỷ lệ hoàn thành. Đối với hàng tồn kho, ngoài số liệu nhập, xuất và tồn cuối kỳ, Công ty cần theo dõi thời gian lưu kho, tốc độ luân chuyển, hàng chậm bán, hàng cận hạn, hàng hư hỏng và mức hao hụt. Thông tin này giúp điều chỉnh kế hoạch mua hàng, chính sách giá và khuyến mãi.

Hai là, chuẩn hóa công tác lập dự toán ngân sách

Quy trình lập dự toán cần xác định rõ trách nhiệm của ban giám đốc, phòng tài chính - kế toán và các bộ phận nghiệp vụ. Bộ phận kinh doanh lập dự toán doanh thu và lợi nhuận gộp. Kho vận xây dựng kế hoạch mua hàng và tồn kho. Phòng nhân sự lập dự toán tiền lương. Bộ phận marketing dự toán chi phí quảng cáo, khuyến mãi. Bộ phận kỹ thuật lập kế hoạch bảo trì và sửa chữa. Phòng tài chính - kế toán kiểm tra, tổng hợp trước khi trình phê duyệt. Dự toán được lập theo tháng, quý và năm, đồng thời so sánh với số thực hiện để xác định chênh lệch, nguyên nhân và trách nhiệm.

Ba là, hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí

Công ty cần phân loại chi phí theo chức năng hoạt động, cách ứng xử, nhóm ngành hàng và bộ phận chịu trách nhiệm. Theo chức năng, chi phí gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Theo cách ứng xử, chi phí được chia thành biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp. Báo cáo chi phí phải trình bày dự toán, số thực hiện, chênh lệch, nguyên nhân và kiến nghị xử lý. Công ty cũng cần xây dựng định mức cho các khoản chi thường xuyên như nhân sự, điện nước, marketing, bảo trì và hao hụt hàng hóa.

Bốn là, xây dựng kế toán quản trị theo trung tâm trách nhiệm

Các bộ phận cần được phân loại thành trung tâm doanh thu, trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư phù hợp với quyền hạn được giao. Bộ phận bán hàng và các ngành hàng có thể được đánh giá theo doanh thu, lợi nhuận gộp, mức hoàn thành kế hoạch và tồn kho. Các bộ phận hỗ trợ được đánh giá theo mức thực hiện ngân sách và khả năng kiểm soát chi phí. Việc đánh giá phải giới hạn trong phạm vi người quản lý có quyền kiểm soát.

Năm là, hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị

Công ty cần xây dựng danh mục báo cáo thống nhất gồm báo cáo doanh thu, chi phí, hàng tồn kho, lợi nhuận, dòng tiền, thực hiện ngân sách và trung tâm trách nhiệm. Mỗi báo cáo phải quy định rõ nội dung, kỳ lập, bộ phận thực hiện và người sử dụng. Báo cáo doanh thu có thể lập theo ngày, tháng và quý. Báo cáo tồn kho nên lập theo tuần và tháng. Báo cáo chi phí, lợi nhuận, dòng tiền và ngân sách được lập theo tháng hoặc quý. Nội dung báo cáo cần giải thích nguyên nhân biến động, xác định trách nhiệm và đề xuất điều chỉnh.

Sáu là, tăng cường điều kiện triển khai hệ thống kế toán quản trị

Ban giám đốc cần nâng cao nhận thức về vai trò của KTQT, tăng chức năng tham mưu của phòng tài chính - kế toán và sự phối hợp với các bộ phận liên quan. Dữ liệu bán hàng, nhập xuất tồn, công nợ, thu ngân và kế toán cần được liên thông nhằm giảm tổng hợp thủ công và rút ngắn thời gian lập báo cáo. Nhân sự kế toán cần được đào tạo về lập dự toán, phân tích chênh lệch, phân tích doanh thu - chi phí - lợi nhuận, quản trị hàng tồn kho và báo cáo trách nhiệm. Việc triển khai nên ưu tiên các báo cáo tác động trực tiếp đến doanh thu, chi phí và tồn kho trước khi mở rộng sang lợi nhuận ngành hàng, trung tâm trách nhiệm và hiệu quả đầu tư.

Tài liệu tham khảo:

1. Dao Ngoc Ha (2024). Factors affecting the application of strategic management accounting in Vietnamese enterprises. International Journal of Management and Sustainability, 13(3), 657-668. https://doi.org/10.18488/11.v13i3.3853

2. Doan, N. P. A., Nguyen, D. T., & Mia, L. (2011). Western management accounting practices in Vietnamese enterprises: Adoption and perceived benefits. Pacific Accounting Review, 23(2), 142-164. https://doi.org/10.1108/01140581111163971

3. Nguyen, T. H., Nguyen, D. T., Nguyen, T. A., and Nguyen, C. D. (2023). Impacts of contingency factors on the application of strategic management accounting in Vietnamese manufacturing enterprises. Cogent Business & Management, 10(2), Article 2218173.

4. Nguyễn Thị Ngọc Bích và Thái Thị Hoài Thương (2022). Nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Đồng Nai. Tạp chí Tài chính, 772, 86-89.

Ngày nhận bài: 22/7/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 11/9/2026; Ngày duyệt đăng: 18/9/2026

Các tin khác

Hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam trong bối cảnh tự chủ tài chính

Hoàn thiện kiểm toán nội bộ tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam trong bối cảnh tự chủ tài chính

Kiểm toán nội bộ góp phần tăng cường kiểm soát, minh bạch tài chính và sử dụng hiệu quả nguồn lực tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ.
Các nhân tố ảnh hưởng kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất tại tỉnh Tây Ninh

Các nhân tố ảnh hưởng kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất tại tỉnh Tây Ninh

Tại Tây Ninh, quá trình chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp làm gia tăng giá trị kinh tế nhưng cũng làm tăng áp lực đối với tài nguyên, chất thải và môi trường sinh thái. Vì vậy, các doanh nghiệp cần công cụ phù hợp để kiểm soát chi phí và tác động môi trường.
Đổi mới chính sách kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Đổi mới chính sách kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập, kế toán doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc phản ánh trung thực tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh.
Đặc điểm tổ chức và khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán công: Bằng chứng từ các bệnh viện công lập Việt Nam

Đặc điểm tổ chức và khả năng áp dụng chuẩn mực kế toán công: Bằng chứng từ các bệnh viện công lập Việt Nam

Quy mô bệnh viện, mức độ tự chủ tài chính và cơ quan chủ quản có thể tạo ra sự khác biệt về nguồn lực, nhu cầu thông tin, quyền quyết định và cơ chế quản trị, từ đó có thể dẫn đến sự khác biệt trong khả năng tiếp nhận và áp dụng các yêu cầu kế toán mới.
Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp niêm yết ở TP. Hồ Chí Minh

Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp niêm yết ở TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh tăng trưởng xanh, chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn và yêu cầu thực hiện các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị trở thành xu hướng tất yếu, các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam đang chịu áp lực lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản trị môi trường và minh bạch hóa thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các tác động đến việc triển khai trí tuệ nhân tạo trong ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam theo Lý thuyết TOE

Các tác động đến việc triển khai trí tuệ nhân tạo trong ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam theo Lý thuyết TOE

Trong ngành kế toán, kiểm toán, AI mang lại những giá trị vượt trội như là nâng cao hiệu suất làm việc nhân viên, số liệu báo cáo có độ chính xác tuyệt đối và cho phép nhà quản trị khai thác dữ liệu để ra quyết định kinh doanh thay vì chỉ dừng lại ở việc ghi chép các giao dịch xảy ra trong quá khứ.
Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị

Những thay đổi của Thông tư số 99/2025/TT-BTC đối với hệ thống tài khoản, sổ kế toán và phần mềm kế toán cho thấy sự điều chỉnh đồng thời ở các khâu phân loại, ghi nhận, hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán.
​​​​​​​Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh

​​​​​​​Các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng thông tin kế toán phục vụ ra quyết định của chủ hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc sử dụng thông tin kế toán có ý nghĩa quan trọng đối với quyết định quản trị của hộ kinh doanh. Nghiên cứu làm rõ mức độ sử dụng, các nhân tố ảnh hưởng và hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác thông tin kế toán của hộ kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh.
Nhận thức về cam kết ESG và chất lượng thông tin kế toán: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Nhận thức về cam kết ESG và chất lượng thông tin kế toán: Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chất lượng thông tin kế toán ngày càng được quan tâm do ảnh hưởng trực tiếp đến độ tin cậy và tính hữu ích của báo cáo tài chính.
Kế toán hệ sinh thái: Tổng quan lý thuyết, phương pháp đo lường và ứng dụng thực tiễn

Kế toán hệ sinh thái: Tổng quan lý thuyết, phương pháp đo lường và ứng dụng thực tiễn

Trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng về môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, nhu cầu về một hệ thống thông tin tích hợp nhằm theo dõi sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên ngày càng cấp thiết.