Thay đổi hệ thống xử lý thông tin kế toán theo thông tư số 99/2025/TT-BTC: Thảo luận và khuyến nghị
ThS. Nguyễn Phương Thảo
Học viện Ngân hàng
Email: thaonp1@hvnh.edu.vn
Tóm tắt
Thông tư số 99/2025/TT-BTC (thay thế Thông tư số 200/2014/TT-BTC) tạo ra những thay đổi đáng chú ý trong tổ chức và xử lý thông tin kế toán tại doanh nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu này nhận diện những điểm mới của Thông tư số 99/2025/TT-BTC liên quan đến hệ thống tài khoản, sổ kế toán và phần mềm kế toán, đồng thời thảo luận những yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp trong quá trình triển khai chế độ kế toán mới. Kết quả cho thấy, các thay đổi tập trung vào việc điều chỉnh và bổ sung hệ thống tài khoản, mở rộng tính chủ động trong tổ chức sổ kế toán và quy định cụ thể hơn đối với phần mềm kế toán, đặc biệt về kết nối, bảo mật, tính toàn vẹn và lưu vết dữ liệu. Những thay đổi này đòi hỏi doanh nghiệp phải bảo đảm sự liên kết giữa tài khoản, sổ kế toán và phần mềm, đồng thời nâng cao năng lực của bộ máy kế toán và hoàn thiện các quy chế nội bộ có liên quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp doanh nghiệp tổ chức và vận hành hiệu quả hệ thống xử lý thông tin kế toán theo các yêu cầu của Thông tư số 99/2025/TT-BTC.
Từ khóa: Thông tư số 99/2025/TT-BTC, tổ chức công tác kế toán, tài khoản kế toán, phần mềm kế toán, sổ kế toán
Abstract
Circular No. 99/2025/TT-BTC, which replaces Circular No. 200/2014/TT-BTC, introduces notable changes to the organization and processing of accounting information within Vietnamese enterprises. This study identifies the key changes introduced by Circular No. 99/2025/TT-BTC concerning the chart of accounts, accounting records, and accounting software, and discusses the requirements that enterprises need to address in implementing the new accounting regime. The findings indicate that the changes primarily involve the revision and supplementation of the chart of accounts, greater flexibility in organizing accounting records, and more specific requirements for accounting software, particularly with respect to data connectivity, security, integrity, and audit trails. These changes require enterprises to ensure effective integration among the chart of accounts, accounting records, and accounting software, while strengthening the capabilities of their accounting functions and improving relevant internal regulations and procedures. Finally, the study proposes several recommendations to assist enterprises in effectively organizing and operating accounting information processing systems in accordance with the requirements of Circular No. 99/2025/TT-BTC.
Keywords: Circular No. 99/2025/TT-BTC, accounting organization, chart of accounts, accounting software, accounting records
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và thống nhất khuôn khổ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ ban hành và áp dụng, Thông tư này đã bộc lộ những hạn chế nhất định trước sự phát triển của nền kinh tế số và các giao dịch tài chính phức tạp.
Do đó, ngày 27/10/2025, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 99/2025/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ hoặc sau ngày 01/01/2026, thay thế Thông tư số 200/2014/TT-BTC, trừ các nội dung được tiếp tục áp dụng theo quy định chuyển tiếp.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, bài báo tập trung giải quyết các nội dung trọng tâm bao gồm: (i) Phân tích những đổi mới cốt lõi của Thông tư số 99/2025/TT-BTC trong hệ thống xử lý thông tin kế toán doanh nghiệp; (ii) Thảo luận về mối liên hệ giữa các thay đổi này và những yêu cầu đặt ra đối với tổ chức, vận hành hệ thống xử lý thông tin kế toán trong doanh nghiệp; và (iii) Đưa ra các khuyến nghị cho doanh nghiệp tại Việt Nam.
NHỮNG ĐỔI MỚI CỐT LÕI CỦA THÔNG TƯ SỐ 99/2025/TT-BTC TRONG HỆ THỐNG XỬ LÝ THÔNG TIN KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
Về tài khoản kế toán
So với Thông tư số 200/2014/TT-BTC, Thông tư số 99/2025/TT-BTC có nhiều điều chỉnh đối với hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp, tập trung vào thay đổi tên gọi và nội dung phản ánh của một số tài khoản; bổ sung một số tài khoản để phản ánh các đối tượng kế toán cụ thể; đồng thời lược bỏ một số tài khoản và tài khoản chi tiết trong hệ thống trước đây. Những điều chỉnh này được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC.
Một số tài khoản được thay đổi tên gọi, như TK 112 từ “Tiền gửi Ngân hàng” thành “Tiền gửi không kỳ hạn”, TK 155 từ “Thành phẩm” thành “Sản phẩm”, TK 242 từ “Chi phí trả trước” thành “Chi phí chờ phân bổ” và TK 419 từ “Cổ phiếu quỹ” thành “Cổ phiếu mua lại của chính mình”. Bên cạnh thay đổi về tên gọi, một số tài khoản còn được điều chỉnh về nội dung phản ánh và cơ cấu tài khoản chi tiết. Chẳng hạn, hệ thống mới có sự điều chỉnh đối với các tài khoản chi tiết của TK 138 và TK 155, qua đó thay đổi cách doanh nghiệp phân loại và theo dõi một số đối tượng kế toán.
Thông tư số 99/2025/TT-BTC cũng bổ sung một số tài khoản cấp 1 và tài khoản chi tiết. Đáng chú ý, TK 215 - “Tài sản sinh học” và TK 332 - “Phải trả cổ tức, lợi nhuận” được bổ sung ở cấp tài khoản cấp 1; TK 2414 - “Nâng cấp, cải tạo TSCĐ” được bổ sung ở cấp tài khoản chi tiết. Đối với TK 821 - “Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp”, hệ thống mới chi tiết thành các tài khoản cấp 3, trong đó có TK 82112 - “Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu”. Đồng thời, một số tài khoản cấp 1 và tài khoản chi tiết theo hệ thống tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC được lược bỏ.
Trong các thay đổi trên, việc bổ sung TK 215 - “Tài sản sinh học” là điểm đáng chú ý đối với các doanh nghiệp có hoạt động nông nghiệp. Tài khoản này được sử dụng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch theo phạm vi quy định của Thông tư. Việc bổ sung tài khoản riêng cho nhóm đối tượng này tạo cơ sở để doanh nghiệp tổ chức theo dõi, phân loại và cung cấp thông tin kế toán phù hợp hơn với đặc điểm của hoạt động nông nghiệp. Tương tự, việc chi tiết TK 821 để phản ánh riêng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu giúp doanh nghiệp thuộc phạm vi áp dụng có cơ sở theo dõi riêng khoản chi phí thuế này.
Bên cạnh thay đổi về danh mục và cơ cấu tài khoản, Thông tư số 99/2025/TT-BTC còn điều chỉnh một số nguyên tắc ghi nhận và xử lý kế toán. Đối với TK 121 - “Chứng khoán kinh doanh”, chứng khoán kinh doanh được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý của các khoản thanh toán tại thời điểm giao dịch phát sinh; các chi phí mua chứng khoán kinh doanh được ghi nhận vào chi phí tài chính trong kỳ. Quy định này làm thay đổi cách xác định giá trị ghi nhận ban đầu và cách xử lý chi phí liên quan đến giao dịch chứng khoán kinh doanh so với quy định trước đây.
Đối với TK 242 - “Chi phí chờ phân bổ”, Thông tư số 99/2025/TT-BTC cũng điều chỉnh cách xử lý một số khoản chi phí. Theo đó, chi phí thành lập doanh nghiệp; chi phí đào tạo, quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động được ghi nhận vào chi phí trong kỳ, thay vì theo dõi để phân bổ dần. Những điều chỉnh này làm thay đổi không chỉ tên gọi tài khoản mà còn cách thức dữ liệu kế toán được ghi nhận, phân loại và xử lý trong hệ thống.
Nhìn chung, các thay đổi về hệ thống tài khoản theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC thể hiện trên cả ba khía cạnh: điều chỉnh cấu trúc và nội dung tài khoản, bổ sung các tài khoản phản ánh những đối tượng kế toán cụ thể và thay đổi một số nguyên tắc ghi nhận.
Về phần mềm kế toán
Một điểm mới đáng chú ý của Thông tư số 99/2025/TT-BTC là bổ sung quy định riêng về phần mềm kế toán tại Điều 28. Theo đó, phần mềm kế toán phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về kế toán; có khả năng kết nối, trao đổi dữ liệu với các phần mềm liên quan; bảo đảm an toàn, bảo mật và tính toàn vẹn của dữ liệu; đồng thời phải lưu vết các hoạt động của người sử dụng và cung cấp thông tin kịp thời theo yêu cầu. Những quy định này cho thấy phần mềm kế toán ngày càng được xác định là một cấu phần quan trọng của hệ thống xử lý thông tin kế toán, không chỉ thực hiện chức năng ghi nhận và tổng hợp dữ liệu mà còn gắn với yêu cầu kiểm soát, bảo mật và khả năng truy xuất thông tin.
Về sổ kế toán
Theo Điều 12 Thông tư số 99/2025/TT-BTC, doanh nghiệp tham khảo để áp dụng các biểu mẫu sổ kế toán tại Phụ lục III và được thiết kế thêm hoặc sửa đổi, bổ sung biểu mẫu sổ kế toán để phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh và yêu cầu quản lý. Biểu mẫu do doanh nghiệp thiết kế hoặc sửa đổi phải tuân thủ quy định của Luật Kế toán, đồng thời bảo đảm phản ánh đầy đủ, kịp thời, trung thực, minh bạch và thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát, đối chiếu tài sản, nguồn vốn.
Điểm đáng chú ý là quyền chủ động này đi kèm với yêu cầu về quản trị và trách nhiệm giải trình. Khi thiết kế thêm hoặc sửa đổi, bổ sung biểu mẫu sổ kế toán, doanh nghiệp phải ban hành Quy chế hạch toán kế toán hoặc tài liệu tương đương, trong đó nêu rõ sự cần thiết của việc sửa đổi, bổ sung và trách nhiệm của doanh nghiệp trước pháp luật đối với các nội dung đã thực hiện.
Như vậy, Thông tư số 99/2025/TT-BTC không chỉ tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong tổ chức sổ kế toán mà còn gắn quyền tự chủ với yêu cầu kiểm soát, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Điều này phù hợp với xu hướng tổ chức hệ thống xử lý thông tin kế toán linh hoạt hơn, nhưng đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải có cơ chế quản trị và kiểm soát nội bộ tương ứng.
THẢO LUẬN
Những thay đổi của Thông tư số 99/2025/TT-BTC đối với hệ thống tài khoản, sổ kế toán và phần mềm kế toán cho thấy sự điều chỉnh đồng thời ở các khâu phân loại, ghi nhận, hệ thống hóa và xử lý thông tin kế toán. Các cấu phần này có mối liên hệ trong quá trình tạo lập thông tin: hệ thống tài khoản là cơ sở phân loại và ghi nhận nghiệp vụ; sổ kế toán hệ thống hóa các thông tin đã ghi nhận; trong khi phần mềm kế toán hỗ trợ quá trình nhập, xử lý, lưu trữ và cung cấp dữ liệu. Vì vậy, việc triển khai Thông tư cần được xem xét trên phương diện tổng thể, thay vì chỉ điều chỉnh riêng từng cấu phần.
Gia tăng quyền chủ động trong tổ chức sổ kế toán gắn với yêu cầu quản trị và trách nhiệm
Điều 12 Thông tư số 99/2025/TT-BTC cho phép doanh nghiệp thiết kế thêm hoặc sửa đổi, bổ sung biểu mẫu sổ kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh và yêu cầu quản lý. Tuy nhiên, quyền chủ động này được đặt trong khuôn khổ các yêu cầu về phản ánh đầy đủ, kịp thời, trung thực, minh bạch và thuận lợi cho kiểm tra, kiểm soát, đối chiếu; đồng thời doanh nghiệp phải ban hành Quy chế hạch toán kế toán hoặc tài liệu tương đương khi thiết kế hoặc sửa đổi, bổ sung biểu mẫu sổ kế toán.
Như vậy, quy định mới không chỉ tạo điều kiện để doanh nghiệp tổ chức sổ kế toán phù hợp hơn với đặc điểm hoạt động mà còn yêu cầu doanh nghiệp thể chế hóa những lựa chọn của mình trong quy định nội bộ. Xét từ góc độ tổ chức hệ thống xử lý thông tin, điều này làm tăng yêu cầu đối với việc xác định mục đích, phạm vi và cách thức tổ chức thông tin trên sổ kế toán, đồng thời bảo đảm khả năng kiểm tra và đối chiếu trong quá trình sử dụng.
Thay đổi hệ thống tài khoản và yêu cầu nâng cao chất lượng phân loại, ghi nhận thông tin
Những điều chỉnh trong hệ thống tài khoản theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC không chỉ bao gồm thay đổi tên gọi, bổ sung hoặc điều chỉnh tài khoản mà còn liên quan đến nội dung và phương pháp kế toán đối với một số nghiệp vụ. Việc bổ sung các tài khoản phản ánh những đối tượng cụ thể như tài sản sinh học, phải trả cổ tức, lợi nhuận, nâng cấp, cải tạo tài sản cố định và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu góp phần phân loại và theo dõi riêng các đối tượng tương ứng.
Bên cạnh đó, đối với những nghiệp vụ chưa được hướng dẫn cụ thể, Thông tư yêu cầu doanh nghiệp căn cứ vào nội dung, bản chất của giao dịch kinh tế phát sinh và các quy định, nguyên tắc kế toán có liên quan để thực hiện. Điều này cho thấy chất lượng xử lý thông tin phụ thuộc không chỉ vào việc lựa chọn đúng tài khoản mà còn vào khả năng xác định đúng đối tượng và nội dung kinh tế của nghiệp vụ. Vì vậy, khi chuyển sang áp dụng hệ thống tài khoản mới, doanh nghiệp cần rà soát sự phù hợp giữa nghiệp vụ phát sinh, tài khoản sử dụng, sổ kế toán và thông tin trình bày trên báo cáo tài chính.
Tăng cường yêu cầu đối với phần mềm và quản lý dữ liệu kế toán
Điều 28 của Thông tư số 99/2025/TT-BTC quy định cụ thể hơn về phần mềm kế toán, trong đó đặt ra các yêu cầu liên quan đến tuân thủ pháp luật, khả năng kết nối, bảo mật, tính toàn vẹn của dữ liệu, lưu vết các hoạt động sử dụng và khả năng cung cấp thông tin kịp thời. Đồng thời, phần mềm không được làm thay đổi bản chất, nguyên tắc và phương pháp kế toán cũng như thông tin, số liệu trên sổ kế toán và báo cáo tài chính.
Các quy định này cho thấy phần mềm có vai trò trực tiếp trong quá trình xử lý thông tin kế toán và đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải quan tâm không chỉ đến chức năng ghi nhận mà còn đến chất lượng, tính toàn vẹn và khả năng truy xuất dữ liệu. Do đó, khi thay đổi hệ thống tài khoản hoặc biểu mẫu sổ kế toán, doanh nghiệp cần rà soát tương ứng việc thiết lập và xử lý dữ liệu trên phần mềm để hạn chế sai lệch giữa quy định kế toán và dữ liệu thực tế.
Bảo đảm tính liên kết giữa tài khoản, sổ kế toán và phần mềm
Các quy định về tài khoản, sổ kế toán và phần mềm có mối liên hệ trực tiếp trong quá trình xử lý thông tin. Thay đổi về tài khoản có thể dẫn đến yêu cầu điều chỉnh cách thức tổ chức sổ chi tiết và dữ liệu trên phần mềm; tương tự, việc thiết kế hoặc sửa đổi sổ kế toán cần được phản ánh phù hợp trong hệ thống xử lý dữ liệu.
Vì vậy, việc áp dụng Thông tư số 99/2025/TT-BTC cần được thực hiện theo hướng rà soát đồng bộ các cấu phần của hệ thống xử lý thông tin kế toán. Trọng tâm không chỉ là cập nhật danh mục tài khoản hoặc biểu mẫu sổ, mà còn phải bảo đảm sự thống nhất giữa nghiệp vụ kinh tế phát sinh - chứng từ - tài khoản - sổ kế toán - phần mềm - thông tin báo cáo. Đây là điều kiện quan trọng để duy trì tính nhất quán và khả năng kiểm tra, đối chiếu của thông tin kế toán trong quá trình vận hành.
Yêu cầu nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm của bộ máy kế toán
Việc doanh nghiệp được chủ động hơn trong tổ chức tài khoản và sổ kế toán, đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu về xử lý và kiểm soát dữ liệu trên phần mềm, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực của bộ máy kế toán. Người làm kế toán không chỉ cần nắm các quy định và phương pháp hạch toán mà còn phải hiểu đặc điểm nghiệp vụ của doanh nghiệp, tổ chức thông tin phù hợp và kiểm soát tính chính xác, nhất quán của dữ liệu trong quá trình xử lý.
Đặc biệt, trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán và những người có liên quan đối với thông tin, số liệu kế toán được cung cấp từ phần mềm cho thấy việc ứng dụng công nghệ không làm thay đổi trách nhiệm nghề nghiệp đối với thông tin kế toán. Do đó, doanh nghiệp cần tăng cường sự phối hợp giữa bộ phận kế toán và bộ phận công nghệ thông tin trong quá trình thiết kế, cập nhật và vận hành hệ thống.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
Trên cơ sở phân tích những thay đổi của Thông tư số 99/2025/TT-BTC đối với hệ thống tài khoản, sổ kế toán và phần mềm kế toán, nghiên cứu cho thấy các quy định mới không chỉ tác động đến từng nghiệp vụ hoặc công cụ kế toán riêng lẻ mà còn ảnh hưởng đến cách doanh nghiệp tổ chức quá trình tạo lập, xử lý và kiểm soát thông tin kế toán. Trọng tâm của những thay đổi này thể hiện ở việc mở rộng khả năng chủ động của doanh nghiệp trong tổ chức sổ kế toán, điều chỉnh hệ thống tài khoản theo đặc điểm hoạt động, đồng thời đặt ra các yêu cầu cụ thể hơn đối với việc xử lý và quản lý dữ liệu trên phần mềm kế toán.
Từ đó, việc áp dụng Thông tư số 99/2025/TT-BTC cần được thực hiện trên cơ sở bảo đảm sự liên kết giữa nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chứng từ, tài khoản, sổ kế toán, phần mềm và thông tin báo cáo. Đặc biệt, khi doanh nghiệp chủ động điều chỉnh một số nội dung của hệ thống kế toán, yêu cầu về tính nhất quán của thông tin, khả năng kiểm tra, đối chiếu và trách nhiệm của bộ máy kế toán trở nên quan trọng hơn. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu của chế độ kế toán mới mà còn tổ chức hệ thống xử lý thông tin phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý.
Khuyến nghị cho doanh nghiệp
Thứ nhất, rà soát đồng bộ hệ thống kế toán. Doanh nghiệp cần rà soát hệ thống tài khoản, sổ kế toán và cấu hình phần mềm để kịp thời điều chỉnh những nội dung thay đổi theo Thông tư số 99/2025/TT-BTC, bảo đảm sự thống nhất từ khâu ghi nhận nghiệp vụ đến báo cáo.
Thứ hai, nâng cao năng lực của bộ máy kế toán. Trước những thay đổi về tài khoản và phương pháp ghi nhận một số nghiệp vụ, doanh nghiệp cần tập trung cập nhật các nội dung mới, nâng cao khả năng phân loại và xử lý nghiệp vụ, đặc biệt đối với các tài khoản và giao dịch có thay đổi so với chế độ kế toán trước đây.
Thứ ba, tăng cường quản lý dữ liệu trên phần mềm kế toán. Doanh nghiệp cần đánh giá khả năng đáp ứng của phần mềm đối với các yêu cầu về kết nối, bảo mật, tính toàn vẹn và lưu vết dữ liệu; đồng thời kiểm soát quyền sử dụng và việc thay đổi dữ liệu trong quá trình xử lý.
Thứ tư, hoàn thiện quy chế nội bộ và trách nhiệm thực hiện. Đối với những nội dung doanh nghiệp chủ động thiết kế hoặc điều chỉnh, cần cập nhật Quy chế hạch toán kế toán hoặc tài liệu tương đương, xác định rõ nội dung áp dụng và trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân liên quan, qua đó bảo đảm tính thống nhất và thuận lợi cho kiểm tra, đối chiếu.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Tài chính (2014). Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp.
2. Bộ Tài chính (2025). Thông tư số 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp.
3. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2026). Thông tư số 99/2025/TT-BTC: Bước chuyển trong cải cách chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam, https://nghiencuu.tapchikinhtetaichinh.vn/thong-tu-so-992025tt-btc-buoc-chuyen-trong-cai-cach-che-do-ke-toan-doanh-nghiep-tai-viet-nam-160385.html.
| Ngày nhận bài: 27/6/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 11/8/2026; Ngày duyệt đăng: 28/8/2026 |
Các tin khác
Ảnh hưởng của cá nhân hóa bởi AI đến trải nghiệm số và niềm tin của người tiêu dùng thời trang tại TP. Hồ Chí Minh: Vai trò điều tiết của quan ngại quyền riêng tư
Chuyển đổi số trong quản trị đô thị thông minh và tác động đến môi trường kinh doanh: Bằng chứng từ chỉ số PCI của TP. Cần Thơ giai đoạn 2020-2025
Quản lý rủi ro đối với dịch vụ mua trước trả sau: So sánh kinh nghiệm các nước Đông Nam Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Lãnh đạo xanh trong doanh nghiệp khởi nghiệp - từ tầm nhìn sáng lập đến hành vi xanh của nhân viên
Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai
Tích hợp đa kênh và sự hài lòng mua sắm thời trang: Khảo sát người tiêu dùng tại TP. Hồ Chí Minh
Tác động của IFRS 16 đối với các doanh nghiệp hàng không Việt Nam: Trường hợp Vietnam Airlines và VietJet Air
Trách nhiệm xã hội môi trường, chiến lược logistics xanh và kết quả hoạt động kinh doanh: Tổng quan tài liệu có hệ thống theo khung ADO
Mối liên kết rủi ro lan truyền biến động và tương quan động giữa giá cà phê Robusta, Arabica và VN-index: Bằng chứng từ mô hình M-garch