Ứng dụng kế toán quản trị trong phân tích chi phí – lợi ích nâng cao hiệu quả quyết định kinh doanh tại doanh nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi 08:19 | 24/07/2026
Nghiên cứu phân tích vai trò của kế toán quản trị trong nâng cao hiệu quả quyết định kinh doanh thông qua phân tích chi phí – lợi ích (CBA) tại các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng ra quyết định trong doanh nghiệp.

ACCA. CIMA. Ngô Thị Hương

Công ty cổ phần Vinpearl

Email (Tác giả liên hệ): Huong2612@gmail.com

GS.TS. Nguyễn Trọng Cơ

Học viện Tài chính

Email: Nguyentrongco@hvtc.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu phân tích vai trò của kế toán quản trị trong nâng cao hiệu quả quyết định kinh doanh thông qua phân tích chi phí – lợi ích (CBA) tại các doanh nghiệp Việt Nam. Dữ liệu khảo sát 250 doanh nghiệp được xử lý bằng CFA và SEM. Kết quả cho thấy kế toán quản trị tác động tích cực đến CBA (β = 0,621) và hiệu quả quyết định (β = 0,312), trong khi CBA cũng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả quyết định (β = 0,487). Phân tích Bootstrap khẳng định vai trò trung gian một phần của biến này. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng ra quyết định trong doanh nghiệp.

Từ khóa: Kế toán quản trị, phân tích chi phí – lợi ích, hiệu quả quyết định, SEM, doanh nghiệp Việt Nam.

Abstract

This study examines the role of management accounting in enhancing business decision-making effectiveness through cost–benefit analysis in Vietnamese enterprises. Data collected from 250 firms were analyzed using CFA and SEM techniques. The results indicate that management accounting has a positive impact on cost–benefit analysis (β = 0.621) and decision effectiveness (β = 0.312), while cost–benefit analysis also significantly affects decision effectiveness (β = 0.487). Bootstrap results confirm the partial mediating role of cost–benefit analysis. The study provides empirical evidence and managerial implications to improve decision-making quality in enterprises.

Keywords: Management accounting, cost–benefit analysis, decision effectiveness, SEM, Vietnamese enterprises

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và toàn cầu, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, biến động nhanh và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Điều này đòi hỏi các nhà quản trị không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà cần có hệ thống thông tin đáng tin cậy, kịp thời và có tính phân tích cao để hỗ trợ quá trình ra quyết định. Trong đó, kế toán quản trị (KTQT) ngày càng khẳng định vai trò là công cụ quan trọng cung cấp thông tin phục vụ hoạch định, kiểm soát và ra quyết định trong doanh nghiệp.

Một trong những nội dung cốt lõi của KTQT là phân tích chi phí – lợi ích (cost–benefit analysis, CBA), giúp nhà quản trị đánh giá một cách toàn diện mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu được của các phương án kinh doanh. Thông qua việc lượng hóa các yếu tố tài chính và phi tài chính, CBA không chỉ hỗ trợ lựa chọn phương án tối ưu mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm thiểu rủi ro và gia tăng giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam, việc ứng dụng KTQT nói chung và CBA nói riêng trong nhiều doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, chủ yếu dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin kế toán tài chính truyền thống, chưa phát huy đầy đủ vai trò hỗ trợ ra quyết định.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào vai trò của KTQT trong nâng cao hiệu quả hoạt động hoặc kiểm soát chi phí, trong khi các nghiên cứu đi sâu phân tích mối quan hệ giữa KTQT, CBA và hiệu quả quyết định kinh doanh trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam còn tương đối hạn chế. Đặc biệt, chưa có nhiều bằng chứng thực nghiệm làm rõ cơ chế tác động của KTQT đến chất lượng quyết định thông qua công cụ CBA.

Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu và yêu cầu thực tiễn, nghiên cứu này tập trung ứng dụng KTQT trong CBA nhằm nâng cao hiệu quả quyết định kinh doanh tại các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý luận, cung cấp bằng chứng thực nghiệm và hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả ra quyết định trong bối cảnh chuyển đổi số.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Kế toán quản trị được xem là hệ thống thông tin nội bộ quan trọng, có chức năng thu thập, xử lý và cung cấp dữ liệu phục vụ cho quá trình lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định trong doanh nghiệp (IMA, 2008; Atkinson và cộng sự, 2012).

Theo cách tiếp cận hiện đại, KTQT không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận chi phí mà còn tích hợp các công cụ phân tích như CBA nhằm hỗ trợ lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu. CBA cho phép nhà quản trị so sánh tổng chi phí và tổng lợi ích của các phương án, trên cơ sở đó tối đa hóa lợi ích ròng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực (Boardman và cộng sự, 2018). Trong khi đó, lý thuyết ra quyết định kinh doanh (Simon, 1960) nhấn mạnh rằng chất lượng quyết định phụ thuộc lớn vào mức độ đầy đủ, kịp thời và độ tin cậy của thông tin đầu vào. Như vậy, KTQT đóng vai trò cung cấp dữ liệu, CBA đóng vai trò công cụ phân tích trung gian, kết quả cuối cùng là nâng cao hiệu quả quyết định kinh doanh.

Xét trên nền tảng lý thuyết, mối quan hệ giữa KTQT, CBA và hiệu quả quyết định được giải thích bởi nhiều lý thuyết khác nhau. Lý thuyết thông tin hữu ích (Staubus, 1961) cho rằng thông tin kế toán phải đảm bảo tính phù hợp và đáng tin cậy để phục vụ ra quyết định; lý thuyết đại diện(Jensen & Meckling, 1976) nhấn mạnh vai trò của hệ thống kế toán trong việc giảm thiểu bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể; trong khi lý thuyết dự phòng (Otley, 1980) cho rằng việc áp dụng KTQT phụ thuộc vào đặc điểm môi trường và quy mô doanh nghiệp.

Trên cơ sở đó, có thể khẳng định rằng việc vận dụng hiệu quả KTQT kết hợp với CBA sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các quyết định sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam đang chịu áp lực cạnh tranh và chuyển đổi số mạnh mẽ. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây vẫn còn hạn chế trong việc tích hợp đầy đủ 3 yếu tố này trong cùng một mô hình nghiên cứu, từ đó đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ cơ chế tác động và vai trò trung gian của CBA (Bảng 1).

Bảng 1: Tổng hợp các lý thuyết nền trong nghiên cứu

STT

Lý thuyết

Nội dung cốt lõi

Vai trò trong nghiên cứu

1

Lý thuyết thông tin hữu ích (decision-usefulness theory) (Staubus, 1961)

Thông tin kế toán phải phù hợp, đáng tin cậy và kịp thời để hỗ trợ ra quyết định

Là cơ sở giải thích vai trò của KTQT trong cung cấp thông tin

2

Lý thuyết đại diện (agency theory) (Jensen & Meckling, 1976)

Giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu

Nhấn mạnh vai trò kiểm soát và minh bạch của KTQT

3

Lý thuyết dự phòng (contingency theory) (Otley, 1980)

Việc áp dụng kế toán phụ thuộc vào môi trường, quy mô và chiến lược doanh nghiệp

Giải thích sự khác biệt trong mức độ ứng dụng KTQT tại DN Việt Nam

4

Lý thuyết phân tích chi phí – lợi ích (CBA) (Boardman và cộng sự, 2018)

So sánh chi phí và lợi ích để lựa chọn phương án tối ưu

Là công cụ trung gian trong quá trình ra quyết định

5

Lý thuyết ra quyết định (decision-making theory) (Simon, 1960)

Lựa chọn phương án tối ưu dựa trên thông tin và phân tích

Là kết quả đầu ra của quá trình ứng dụng KTQT

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thiết kế theo cách tiếp cận định lượng, nhằm kiểm định một cách có hệ thống mối quan hệ giữa KTQT, CBA và hiệu quả quyết định kinh doanh trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa các nền tảng lý thuyết và kết quả nghiên cứu trước, tác giả xây dựng quy trình nghiên cứu gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn sơ bộ được thông qua tổng quan tài liệu và tham vấn chuyên gia nhằm hiệu chỉnh thang đo, đảm bảo tính phù hợp với đặc thù môi trường kinh doanh tại Việt Nam; trong khi đó, giai đoạn nghiên cứu chính thức được triển khai thông qua khảo sát bằng bảng hỏi với đối tượng là các nhà quản trị, kế toán trưởng và nhân sự kế toán tại doanh nghiệp. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng các kỹ thuật thống kê hiện đại, bao gồm kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), nhằm đảm bảo tính chặt chẽ và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Trên phương diện mô hình, nghiên cứu đề xuất cấu trúc quan hệ trong đó KTQT đóng vai trò là biến độc lập, tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua CBA) đến hiệu quả quyết định kinh doanh. Cách tiếp cận này cho phép làm rõ không chỉ tác động trực tiếp của hệ thống KTQT mà còn cơ chế trung gian thông qua công cụ CBA, một nội dung cốt lõi nhưng còn ít được kiểm định thực nghiệm trong bối cảnh Việt Nam.

Các giả thuyết nghiên cứu được thiết lập bao gồm:

(i) KTQT có tác động tích cực đến CBA;

(ii) CBA có tác động tích cực đến hiệu quả quyết định kinh doanh;

(iii) KTQT có tác động trực tiếp đến hiệu quả quyết định kinh doanh; và

(iv) CBA đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa KTQT và hiệu quả quyết định.

Các biến nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm, kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu trước nhằm đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy.

Dữ liệu được thu thập từ 250 phiếu khảo sát hợp lệ theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp phán đoán, với đối tượng là nhà quản trị và nhân sự kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam. Quy mô mẫu đáp ứng yêu cầu phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2019). Trước khi khảo sát chính thức, thang đo được hiệu chỉnh thông qua tham vấn chuyên gia và khảo sát thử nghiệm. Để kiểm soát sai lệch do phương pháp chung, nghiên cứu áp dụng kiểm định nhân tố đơn của Harman theo Podsakoff và cộng sự (2003); kết quả nhân tố đầu tiên giải thích 38,5% tổng phương sai (<50%), cho thấy sai lệch phương pháp chung không đáng kể.

Bảng 2: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo

Biến

Số biến quan sát

Cronbach’s Alpha

Hệ số tương quan

biến tổng nhỏ nhất

Kết luận

Kế toán quản trị (MA)

5

0,892

0,612

Đạt

Phân tích chi phí – lợi ích (CBA)

4

0,876

0,598

Đạt

Hiệu quả quyết định (BD)

4

0,901

0,645

Đạt

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả tổng hợp

Kết quả Bảng 2, tất cả các thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,8, vượt ngưỡng khuyến nghị 0,7, đồng thời hệ số tương quan biến, tổng đều lớn hơn 0,5, khẳng định các biến quan sát có mức độ liên kết chặt chẽ với biến đại diện, thang đo sử dụng trong nghiên cứu đạt độ tin cậy cao và đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện các phân tích EFA, CFA và SEM.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu

Phân tích nhân tố khẳng định

Trên cơ sở dữ liệu thu thập từ các doanh nghiệp Việt Nam, kết quả CFA cho thấy mức độ phù hợp tổng thể tốt, phản ánh sự tương thích cao giữa cấu trúc lý thuyết đề xuất và dữ liệu thực nghiệm (Bảng 3), cụ thể:

Các chỉ số đánh giá độ phù hợp của mô hình đều đạt và vượt các ngưỡng khuyến nghị trong nghiên cứu định lượng. Giá trị Chi-square/df đạt 1,85, nhỏ hơn ngưỡng 3, cho thấy mức độ sai lệch giữa ma trận hiệp phương sai quan sát và ước lượng là chấp nhận được. Các chỉ số phù hợp gia tăng như CFI = 0,957 và TLI = 0,948 đều lớn hơn 0,9, phản ánh mô hình có khả năng giải thích tốt cấu trúc dữ liệu. Đồng thời, chỉ số sai số xấp xỉ bình phương trung bình (RMSEA = 0,058) nhỏ hơn 0,08, cho thấy sai số ước lượng ở mức thấp và mô hình đạt độ phù hợp cao với tổng thể.

Xét về giá trị hội tụ, các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố chuẩn hóa lớn hơn 0,7 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, cho thấy các biến quan sát phản ánh tốt các khái niệm tiềm ẩn. Hệ số độ tin cậy tổng hợp (composite reliability, CR) của các thang đo đều lớn hơn 0,7, trong khi phương sai trích trung bình (average variance extracted, AVE) đều vượt ngưỡng 0,5, khẳng định thang đo đạt độ tin cậy và mức độ hội tụ theo tiêu chuẩn quốc tế.

Bên cạnh đó, giá trị phân biệt cũng được đảm bảo khi căn bậc hai của AVE của từng biến lớn hơn hệ số tương quan giữa biến đó với các biến còn lại trong mô hình. Điều này chứng tỏ các khái niệm nghiên cứu có sự phân biệt rõ ràng, không xảy ra hiện tượng chồng lấn về mặt nội hàm.

Bảng 3: Kết quả CFA và độ tin cậy thang đo

Biến

Ký hiệu

Tải nhân tố

CR

AVE

MA1

0,812

MA2

0,845

MA3

0,867

MA4

0,834

MA5

0,801

0,912

0,675

CBA1

0,823

CBA2

0,856

CBA3

0,842

CBA4

0,819

0,901

0,694

BD1

0,865

BD2

0,882

BD3

0,847

BD4

0,831

0,918

0,737

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả tổng hợp

Kết quả phân tích cho thấy, toàn bộ các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố chuẩn hóa lớn hơn 0,7, khẳng định mức độ giá trị hội tụ cao, tức là các biến quan sát phản ánh nhất quán và có ý nghĩa đối với các khái niệm tiềm ẩn tương ứng. Đồng thời, hệ số độ tin cậy tổng hợp (CR) của các thang đo đều vượt ngưỡng 0,7 và phương sai trích trung bình (AVE) lớn hơn 0,5, cho thấy các thang đo không chỉ đảm bảo độ tin cậy nội tại mà còn đạt yêu cầu về giá trị hội tụ theo khuyến nghị của các nghiên cứu phương pháp luận.

Bên cạnh đó, kết quả kiểm định cũng xác nhận giá trị phân biệt giữa các khái niệm trong mô hình, khi căn bậc 2 của AVE của từng biến đều lớn hơn hệ số tương quan giữa biến đó với các biến còn lại. Điều này chứng tỏ các thang đo có khả năng phân biệt rõ ràng về mặt nội hàm, không xảy ra hiện tượng trùng lắp hay đo lường chồng chéo giữa các khái niệm nghiên cứu.

Mô hình cấu trúc tuyến tính

Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cho thấy mô hình nghiên cứu đạt mức độ phù hợp cao với dữ liệu thực nghiệm. Cụ thể, chỉ số Chi-square/df đạt 1,92, nhỏ hơn ngưỡng khuyến nghị 3, phản ánh mức độ sai lệch giữa mô hình lý thuyết và dữ liệu quan sát ở mức chấp nhận được. Đồng thời, các chỉ số phù hợp gia tăng như CFI = 0,951 và TLI = 0,942 đều vượt ngưỡng 0,9, cho thấy mô hình có khả năng giải thích tốt mối quan hệ giữa các biến trong cấu trúc nghiên cứu. Bên cạnh đó, chỉ số sai số xấp xỉ bình phương trung bình RMSEA = 0,061, thấp hơn ngưỡng 0,08, cho thấy sai số ước lượng ở mức thấp và mô hình có độ phù hợp tốt với tổng thể dữ liệu. Nhìn chung, các kết quả này khẳng định mô hình SEM đề xuất là phù hợp và đáng tin cậy để tiếp tục kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Bảng 4: Kết quả kiểm định giả thuyết

Giả thuyết

Mối quan hệ

Hệ số β

p-value

Kết luận

H1

MA → CBA

0,621

0,000

Chấp nhận

H2

CBA → BD

0,487

0,000

Chấp nhận

H3

MA → BD

0,312

0,002

Chấp nhận

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả tổng hợp

Kiểm định vai trò trung gian

Kết quả kiểm định vai trò trung gian được thực hiện thông qua phương pháp Bootstrap với 5.000 mẫu lặp lại cho thấy mô hình nghiên cứu đạt độ tin cậy cao trong việc ước lượng các hiệu ứng gián tiếp (Bảng 5). Cụ thể, tác động gián tiếp của KTQT (MA) đến hiệu quả quyết định kinh doanh (BD) thông qua biến trung gian là CBA đạt giá trị β = 0,302 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (p < 0,01). Kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc khẳng định rằng CBA đóng vai trò là một cơ chế truyền dẫn quan trọng, thông qua đó KTQT ảnh hưởng đến chất lượng quyết định kinh doanh.

Đồng thời, kết quả phân tích SEM trước đó cho thấy tác động trực tiếp của MA đến BD vẫn tồn tại và có ý nghĩa thống kê (β = 0,312; p < 0,01). Điều này hàm ý rằng biến CBA không đóng vai trò trung gian hoàn toàn mà chỉ thực hiện vai trò trung gian một phần. Nói cách khác, KTQT vừa tác động trực tiếp đến hiệu quả quyết định, vừa tác động gián tiếp thông qua việc nâng cao chất lượng CBA. Phát hiện này góp phần làm rõ cơ chế tác động đa chiều của KTQT trong bối cảnh doanh nghiệp, đồng thời củng cố lập luận rằng việc tăng cường ứng dụng các công cụ phân tích như CBA sẽ nâng cao hiệu quả ra quyết định.

Bảng 5: Kết quả kiểm định Bootstrap vai trò trung gian

Mối quan hệ

Hiệu ứng

Hệ số β

Sai số chuẩn

p-value

Khoảng tin cậy (95%)

Kết luận

MA → CBA → BD

Gián tiếp

0,302

0,051

0,000

[0,198; 0,401]

Có ý nghĩa

MA → BD

Trực tiếp

0,312

0,047

0,002

[0,201; 0,398]

Có ý nghĩa

Tổng hiệu ứng

Tổng

0,614

-

-

-

Mạnh

Nguồn: Phân tích của nhóm tác giả tổng hợp

Kết quả Bootstrap cho thấy khoảng tin cậy 95% của hiệu ứng gián tiếp không chứa giá trị 0, qua đó khẳng định tác động trung gian của CBA là có ý nghĩa thống kê. Đồng thời, việc tồn tại đồng thời cả hiệu ứng trực tiếp và gián tiếp cho thấy mô hình nghiên cứu phù hợp với dạng trung gian một phần, phản ánh đúng bản chất mối quan hệ giữa các biến trong thực tiễn doanh nghiệp.

Thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy KTQT có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến CBA (β = 0,621; p < 0,01), phù hợp với các phát hiện của Barreto và cộng sự (2025) và Dahal và cộng sự (2024), vốn khẳng định vai trò nền tảng của hệ thống thông tin kế toán quản trị trong việc cung cấp dữ liệu phục vụ phân tích và ra quyết định. Kết quả này cũng củng cố lập luận của lý thuyết thông tin hữu ích (Staubus, 1961) rằng chất lượng thông tin kế toán là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả của các công cụ phân tích hỗ trợ quản trị.

Bên cạnh đó, kết quả cho thấy CBA có tác động tích cực đến hiệu quả quyết định kinh doanh (β = 0,487; p < 0,01), tương đồng với kết luận của Ojra và cộng sự (2021) và Tran và Tran (2025) về vai trò của các công cụ phân tích định lượng trong cải thiện chất lượng quyết định tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kết quả này cũng phù hợp với phát hiện của Tontiset (2025) tại các doanh nghiệp Thái Lan, cho thấy tính nhất quán của mối quan hệ này trong bối cảnh các nền kinh tế mới nổi tại châu Á.

Đáng chú ý, nghiên cứu xác nhận CBA đóng vai trò trung gian một phầntrong mối quan hệ giữa KTQT và hiệu quả quyết định kinh doanh (hiệu ứng gián tiếp β = 0,302; p < 0,01), trong khi tác động trực tiếp của KTQT đến hiệu quả quyết định vẫn tồn tại và có ý nghĩa thống kê (β = 0,312; p < 0,01). Phát hiện này bổ sung cho các nghiên cứu trước đây của Crovini và cộng sự (2021) và Gošnik và Stubelj (2022), vốn mới chỉ xem xét tác động trực tiếp của hệ thống kế toán và quản trị quy trình đến hiệu quả hoạt động mà chưa làm rõ cơ chế truyền dẫn thông qua các công cụ phân tích trung gian như CBA. Kết quả này cũng nhất quán với hàm ý của Eichholz và cộng sự (2024) về tầm quan trọng của việc xem xét đồng thời nhiều cơ chế tác động (trực tiếp và gián tiếp) khi đánh giá vai trò của hệ thống thông tin quản trị đối với hiệu quả ra quyết định của tổ chức.

Nhìn chung, các phát hiện của nghiên cứu góp phần củng cố khung lý thuyết tích hợp giữa lý thuyết thông tin hữu ích, lý thuyết đại diện và lý thuyết dự phòng trong việc giải thích vai trò của KTQT, đồng thời mở rộng bằng chứng thực nghiệm về vai trò trung gian của CBA – một khoảng trống mà các nghiên cứu trước đây (Ahmad, 2024; Dahal và cộng sự, 2020) chưa khai thác đầy đủ trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam.

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

Kết luận

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích vai trò của KTQT trong việc nâng cao hiệu quả quyết định kinh doanh thông qua công cụ CBA tại các doanh nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở kết hợp giữa nền tảng lý thuyết và kiểm định thực nghiệm SEM, kết quả nghiên cứu đã cung cấp những bằng chứng đáng tin cậy về mối quan hệ giữa các biến trong mô hình.

Một là, kết quả nghiên cứu khẳng định rằng KTQT có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến CBA, cho thấy vai trò nền tảng của hệ thống KTQT trong việc cung cấp thông tin phục vụ phân tích và đánh giá các phương án kinh doanh. Điều này hàm ý rằng việc nâng cao chất lượng hệ thống KTQT sẽ góp phần cải thiện khả năng phân tích và ra quyết định trong doanh nghiệp.

Hai là, CBA có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả quyết định kinh doanh, chứng minh rằng việc áp dụng các công cụ phân tích định lượng và định tính giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động. Kết quả này nhấn mạnh vai trò trung tâm của CBA như một công cụ hỗ trợ ra quyết định trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng.

Ba là, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng KTQT không chỉ tác động trực tiếp mà còn gián tiếp đến hiệu quả quyết định thông qua CBA, trong đó CBA đóng vai trò trung gian một phần. Phát hiện này góp phần làm rõ cơ chế tác động của KTQT, đồng thời mở rộng các nghiên cứu trước đây vốn chủ yếu xem xét tác động trực tiếp.

Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định như phạm vi mẫu nghiên cứu còn giới hạn, chưa xem xét đầy đủ các yếu tố bối cảnh như quy mô doanh nghiệp, ngành nghề hay mức độ chuyển đổi số. Do đó, các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng theo hướng tích hợp thêm các biến điều tiết hoặc so sánh giữa các nhóm doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng khái quát hóa kết quả nghiên cứu.

Hàm ý quản trị

Cơ quan quản lý và tổ chức nghề nghiệp

Tiếp tục hoàn thiện khung hướng dẫn về kế toán quản trị theo hướng tiệm cận các thông lệ và chuẩn mực quốc tế của Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ (IMA) và Viện Kế toán Quản trị Công chứng Anh (CIMA).

Tăng cường tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ nghề nghiệp về CBA nhằm nâng cao năng lực phân tích và hỗ trợ ra quyết định của đội ngũ kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

Đặc biệt, cần ưu tiên hỗ trợ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân sự và trình độ quản trị khiến mức độ ứng dụng kế toán quản trị và các công cụ phân tích như CBA còn tương đối thấp.

Đồng thời, khuyến khích xây dựng các mô hình hướng dẫn thực hành, tài liệu chuyên môn và chương trình đào tạo phù hợp với đặc điểm của từng nhóm doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy việc ứng dụng CBA trong lập kế hoạch, đánh giá dự án đầu tư, kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của doanh nghiệp Việt Nam.

Đối với doanh nghiệp

Thứ nhất, doanh nghiệp cần đầu tư nâng cấp hệ thống kế toán quản trị theo hướng tích hợp công nghệ số (phần mềm ERP, phân tích dữ liệu lớn) nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác phục vụ CBA, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số được nhấn mạnh trong nghiên cứu của Barreto và cộng sự (2025).

Thứ hai, doanh nghiệp nên xây dựng quy trình CBA chuẩn hóa gắn với từng loại quyết định kinh doanh (đầu tư, mở rộng sản xuất, lựa chọn nhà cung cấp...), đồng thời tăng cường đào tạo đội ngũ kế toán quản trị và nhà quản trị về kỹ năng phân tích định lượng.

Thứ ba, do CBA chỉ đóng vai trò trung gian một phần, doanh nghiệp cần kết hợp đồng thời việc củng cố hệ thống KTQT và nâng cao năng lực phân tích CBA để tối đa hóa hiệu quả quyết định, thay vì chỉ tập trung vào một trong hai yếu tố.

Tài liệu tham khảo:

1. Ahmad, K. (2024). The influence of financial literacy, risk orientation, and qualified accountants on performance: The mediating role of management accounting. International Review of Management and Marketing, 14(6), 317–324.

2. Atkinson, A. A., Kaplan, R. S., Matsumura, E. M., & Young, S. M. (2012). Management accounting: Information for decision-making and strategy execution (6th ed.). Pearson.

3. Barreto, A., Gomes, P., Quesado, P., & O’Sullivan, S. (2025). Advancements in management accounting and digital technologies: A systematic literature review. Accounting, Finance & Governance Review, 34, https://doi.org/10.52399/001c.137301.

4. Boardman, A. E., Greenberg, D. H., Vining, A. R., & Weimer, D. L. (2018). Cost-benefit analysis: Concepts and practice (5th ed.). Cambridge University Press.

5. Crovini, C., Santoro, G., & Ossola, G. (2021). Rethinking risk management in SMEs: Integration with decision-making processes. Management Decision, 59(5), 1085–1113.

6. Cheung, G. W., Cooper-Thomas, H. D., & Lau, R. S. (2024). Reporting reliability and validity in SEM: Best practices. Asia Pacific Journal of Management, 41, 745–783.

7. Dahal, R. K. (2024). Management accounting’s role in decision-making and organizational effectiveness. Cogent Business & Management, 1-20.

8. Dahal, R. K., Bhattarai, G., & Karki, D. (2020). Management accounting techniques and decision-making in manufacturing companies. Researcher Journal of Culture and Society, 4(1), 112–128.

9. Eichholz, J., Hoffmann, N., & Schwering, A. (2024). Risk management and organizational resilience. Journal of Management Control, 35, 17–58.

10. Gošnik, D., & Stubelj, I. (2022). Business process management and performance in SMEs. Kybernetes, 51(2), 659–675.

11. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th ed.). Cengage Learning.

12. Institute of Management Accountants. (IMA, 2008). Definition of management accounting. Institute of Management Accountants.

13. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305–360. https://doi.org/10.1016/0304-405X(76)90026-X.

14. Ojra, J., Opute, A. P., & Alsolmi, M. M. (2021). Strategic management accounting and performance implications: A literature review. Future Business Journal, 7, 64.

15. Oladele, T. O., Alagbe, E. A., & Ojo, O. I. (2023). Management accounting techniques and performance of SMEs in Nigeria: Moderating role of accounting information quality. Nigerian Journal of Management Sciences, 24(1b), 62–73.

16. Otley, D. T. (1980). The contingency theory of management accounting: Achievement and prognosis. Accounting, Organizations and Society, 5(4), 413–428. https://doi.org/10.1016/0361-3682(80)90040-9.

17. Podsakoff, P. M., MacKenzie, S. B., Lee, J. Y., & Podsakoff, N. P. (2003). Common method biases in behavioral research: A critical review of the literature and recommended remedies. Journal of Applied Psychology, 88(5), 879–903. https://doi.org/10.1037/0021-9010.88.5.879.

18. Simon, H. A. (1960). The new science of management decision. Harper & Brothers.

19. Staubus, G. J. (1961). A theory of accounting to investors. University of California Press.

20. Tran, H. D., & Tran, N. H. (2025). Factors influencing the application of management accounting and its impact on business efficiency in SMEs. Corporate and Business Strategy Review, 6(4), 96–106.

21. Tontiset, N. (2025). Value-based management and decision-making effectiveness: Evidence from Thai firms. Journal of Risk and Financial Management, 18(6), 294.

Ngày nhận bài: 10/5/2026; Ngày hoàn thiện biên tập: 10/7/2026; Ngày duyệt đăng: 23/7/2026

Các tin khác

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Tín dụng xanh gắn với phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Nâng cao ý định mua hàng trực tuyến trên Digishop VNPT Tiền Giang: Phân tích vai trò trung gian của sự hài lòng và niềm tin thương hiệu

Tại Việt Nam, thương mại điện tử tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho kinh tế số, nhưng hành vi tiêu dùng số vẫn phân hóa theo ngành và khu vực; ở các tỉnh như Tiền Giang, người dân vẫn ưu tiên mua bán truyền thống, ít chủ động tự mua dịch vụ viễn thông trên nền tảng trực tuyến.
Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Tác động của các biến động tài chính toàn cầu đến rủi ro thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu phân tích tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế đến rủi ro của VN-Index. Kết quả cho thấy việc bỏ qua các yếu tố quốc tế có thể dẫn đến đánh giá chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, từ đó nghiên cứu đề xuất hàm ý góp phần ổn định và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Chính sách liên thông dữ liệu trong khu vực công: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ sở lý luận về chính sách liên thông dữ liệu, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm của Estonia và Hàn Quốc trong xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ và quản trị dữ liệu công. Từ kết quả đạt được, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dữ liệu công hiệu quả tại Việt Nam.
Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Phân tích tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Nghệ An và hàm ý chính sách

Kết quả phát triển kinh tế tuần hoàn không chỉ phụ thuộc vào năng lực kỹ thuật của hộ sản xuất và doanh nghiệp mà còn chịu tác động trực tiếp từ chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch, thể chế, đầu tư, tiêu chuẩn, thanh tra, khuyến nông, tín dụng và phối hợp liên ngành.
Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam

Số hóa giúp ngân hàng mở rộng tiếp cận khách hàng, tăng tốc độ giao dịch, giảm chi phí và tái cấu trúc dịch vụ tài chính.
Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế: Vai trò điều tiết của thể chế

Nghiên cứu phân tích tác động của phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế và vai trò điều tiết của chất lượng thể chế tại các thành phố Việt Nam giai đoạn 2012-2024. Kết quả cho thấy phân cấp chi có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời chất lượng thể chế cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của 20 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020-2025 với 100 quan sát bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (FEM). Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính và tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh và biến động, khả năng duy trì lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Để đánh giá tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, các chỉ số tài chính được sử dụng như những công cụ quan trọng, giúp phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau về sức khỏe tài chính, khả năng quản lý nguồn lực và kết quả kinh doanh.
Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Mô hình nghiên cứu tác động của trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp lữ hành ở TP. Hồ Chí Minh

Tổng hợp các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và nguồn lực tổ chức số cho thấy các khoảng trống: Các nhóm nguồn lực công nghệ, tổ chức và cá nhân phần lớn được nghiên cứu độc lập; nguồn lực tổ chức số chưa được tích hợp thành khái niệm bậc cao; vai trò trung gian của vốn tâm lý giữa cả 2 nhóm nguồn lực và sự gắn kết với công việc của nhân viên chưa được kiểm định đồng thời; và bằng chứng tại doanh nghiệp lữ hành, đặc biệt ở TP. Hồ Chí Minh, còn thiếu vắng.